Danh mục các bảng Bảng 1 Các loại làng nghề ở nông thôn Việt Nam 6 Bảng 2 Số nhóm đồng loại của các hợp chất dioxin 12 Bảng 3 Hệ số độc tương đương của 17 đồng loại độc dioxin 14 Bảng 4 Thông số thể hiện tính chất của một số đồng loại dioxin 15 Bảng 5 Hệ số độc tương đương của 17 đồng loại độc dioxin 17 Bảng 6 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành dioxinfuran 20 Danh mục các hình Hình 1 Công thức chung của Dioxin (A) và Furan (B) 12 Hình 2 Cơ chế gây độc của các chất dioxin 17 MỤC LỤC.
Trang 1Danh mục các bản
Bảng 3: Hệ số độc tương đương của 17 đồng loại độc dioxin 14Bảng 4:Thông số thể hiện tính chất của một số đồng loại dioxin 15Bảng 5: Hệ số độc tương đương của 17 đồng loại độc dioxin 17Bảng 6: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành dioxin/furan 20
Danh mục các hìn
Hình 1: Công thức chung của Dioxin (A) và Furan (B) 12Hình 2: Cơ chế gây độc của các chất dioxin 17
Trang 2MỤC LỤC
Danh mục các hình i
MỤC LỤC ii
1 TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ Ở VIỆT NAM 1 1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 1
1.1.2 Phân loại làng nghề 2
2 THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC LÀNG NGHỀ 3 3 NGUYÊN NHÂN Ô NHIỄM TẠI CÁC LÀNG NGHỀ 11 4 THÀNH PHẦN ĐỘC TỐ NGHIÊN CỨU TRONG CÁC NỀN MẪU 12 5 TÍNH CHẤT CỦA DIOXIN 15 1.5.1 Tính chất vật lý 15
1.5.2 Tính chất hóa học 16
1.5.3 Cơ chế gây độc 16
1.5.4 Ảnh hưởng của dioxin đến con người 17
1.5.5 Các nguồn phát thải dioxin 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 31 TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ Ở VIỆT NAM
Việt Nam là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân số hoạt độngsản xuất trong các lĩnh vực: Trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản
và làng nghề Trong đó làng nghề là một trong những đặc thù của nôngthôn Việt Nam Trong những năm gần đây, với sự giúp đỡ của các banngành làng nghề đã ngày một phát triển và thể hiện rõ hơn nét đặc sắctrên nhiều phương diện: Kinh tế, xã hội, du lịch, Tuy nhiên, bên cạnhnhững kết quả đạt được thì một trong những thách thức đang đặt ra đốivới các làng nghề là vấn đề môi trường và sức khỏe của người lao động,cộng đồng dân cư đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ hoạt động sản xuấtcủa các làng nghề
Những năm gần đây, vấn đề này đang thu hút sự quan tâm của Nhànước cũng như các nhà khoa học nhằm tìm ra các giải pháp hữu hiệu cho
sự phát triển bền vững các làng nghề Đã có nhiều làng nghề thay đổiphương thức sản xuất cũng như quản lý môi trường và thu được hiệu quảđáng kể Song, đối với không ít làng nghề, sản xuất vẫn đang tăng về quy
mô, còn môi trường ngày càng ô nhiễm trầm trọng Làng nghề tái chếgiấy với những đóng góp không nhỏ vào nhu cầu sử dụng trong đời sốngcon người, giải quyết được vấn đề việc làm nhằm cải thiện được đời sốngvật chất cho người dân nhưng bên cạnh đó các vấn đề ô nhiễm môitrường như: ô nhiễm đất, ô nhiễm không khí, chất thải rắn, ô nhiễm nướccũng ngày càng gia tăng Trong đó vấn đề nổi cộm là ô nhiễm nguồnnước mặt Cũng như các làng nghề tái chế giấy khác, làng nghề tái chếgiấy Phong Khê - Bắc Ninh một làng nghề điển hình trong loại làng nghềtái chế giấy về qui mô sản xuất, trình độ công nghệ, trang thiết bị và tiềmlực lao động, cũng không thể tránh khỏi các vấn đề về ô nhiễm môitrường và sức khỏe lao động
1.1.1.Lịch sử hình thành và phát triển
Lịch sử hình thành và phát triển của các làng nghề ở Việt Nam Đa
số các làng nghề đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm, song song
Trang 4với quá trình phát triển KT-XH của đất nước Như làng đúc đồng Đại Bái(Bắc Ninh) với hơn 900 năm phát triển, làng nghề gốm Bát tràng (Hà Nộivăn hóa và nông) cũng gần 500 năm tồn tại, nghề chạm bạc ở Đồng Xâm(Thái Bình) hay nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước (Đà Nẵng) cũngđiển hình thành cách đây hơn 400 năm,…
Các làng nghề truyền thống ở Việt Nam đã và đang có nhiều đónggóp cho GDP của đất nước nói chung và đối với nền kinh tế nông thônnói riêng Nhiều làng nghề truyền thống hiện nay đã được khôi phục, đầu
tư phát triển với quy mô và kỹ thuật cao hơn, hàng hóa không nhữngphục vụ nhu cầu trong nước mà còn cho xuất khẩu với giá trị lớn Tuynhiên, một trong những thách thức đang đặt ra đối với các làng nghề làvấn đề môi trường và sức khỏe của người lao động, của cộng đồng dân cưđang bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ hoạt động sản xuất của các làng nghề.Nước thải được thải trực tiếp vào các dòng kênh, sông xung quanh làngnghề mà không hề qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng đếnsức khỏe cộng đồng Để xử lý hết tất cả các chất độc hại có trong nướcthải là một vấn đề khó khăn và nan giải, cần nhiều thời gian, kinh phí đểgiải quyết Trong đó, nước thải của các làng nghề tái chế giấy là rất đặctrưng và có khối lượng lớn Tại các làng nghề tái chế giấy này, công nhân
và người dân lao động bị mắc các bệnh về hô hấp, ngoài da và thần kinhrất cao Ví dụ như: Tại xã Phong Khê (Bắc Ninh), tỷ lệ người mắc bệnh
hô hấp, ngoài da, đường ruột có xu hướng tăng nhanh Kinh tế ở làngPhong Khê phát triển được là do nghề làm giấy, tuy nhiên phải trả giábằng chính sức khỏe Từ trẻ con cho đến người lớn trong làng thườngxuyên bị mắc các bệnh về đường hô hấp như ho, viêm phổi… Đặc biệt,các gia đình phải giữ trẻ trong nhà đóng cửa kín để tránh khói bụi Theothống kê tỉ lệ các ca bệnh bị mắc ung thư và tử vong vì ung thư ở địaphương có tăng trong một vài năm gần đây
1.1.2.Phân loại làng nghề
Mỗi hình thức làng nghề được phân loại dựa trên những đặc thùriêng và tùy theo mục đích mà có thể lựa chọn cách phân loại phù hợp
Trang 5Trên cơ sở tiếp cận vấn đề môi trường làng nghề, cách phân loại theongành sản xuất và loại hình sản phẩm là phù hợp hơn cả, vì thực tế chothấy mỗi ngành nghề, mỗi sản phẩm đều có những yêu cầu khác nhau vềnguyên nhiên liệu, quy trình sản xuất khác nhau, nguồn và dạng chất thảikhác nhau, và vì vậy có những tác động khác nhau đối với mỗi trường Ta
có thể phân làng nghề thành những loại sau:
Theo làng nghề truyền thống và làng nghề mới;
Theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm;
Theo quy mô sản xuất, theo quy trình công nghệ;
Theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm;
Theo mức độ sử dụng nguyên/ nhiên liệu;
Theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và pháttriển
Dựa trên các yếu tố tương đồng về ngành sản xuất, sản phẩm, thịtrường nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm có thể chia hoạt động làngnghề nước ta ra thành 6 nhóm ngành chính như sau:
Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giếtmổ;
Làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da;
Trang 6nay, mặt hàng này xuất khẩu đạt giá trị gần 1 tỷ USD/năm) Giá trị hànghóa từ các làng nghề hàng năm đóng góp cho nền kinh tế quốc dân từ 40 -
50 ngàn tỷ đồng Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy nhanh quátrình công nghệ hóa - hiện đại hóa nông thôn Đặc biệt, phát triển cácnghề truyền thống đang góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hơn 11triệu lao động chuyên và hàng ngàn lao động nông nhàn ở nông thôn, gópphần nâng cao thu nhập cho người dân; Hơn nữa, nhiều làng nghề hiệnnay có xu hướng phát triển theo hướng phục vụ các dịch vụ du lịch Đây
là hướng đi mới nhưng phù hợp với thời đại hiện nay và mang lại hiệuquả kinh tế cao, đồng thời có thể giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môitrường, nâng đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, phục vụ pháttriển bền vững
2 THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC LÀNG NGHỀ
Phát triển làng nghề là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Chínhphủ ta Bởi làng nghề là nơi thu hút lực lượng lao động tại chỗ, giải quyếtviệc làm cho người lao động trong xã hội, góp phần nâng cao đời sốngcủa người dân Tuy nhiên, mặt hạn chế / xấu của sự phát triển là hầu hếtcác làng nghề của Việt Nam đã và đang bị ô nhiễm dưới 3 dạng: ô nhiễmnguồn nước; ô nhiễm chất thải và ô nhiễm không khí (khí thải) Trong khi
đó, phần lớn các làng nghề ở dạng sản xuất nhỏ lẻ, thiếu sự hỗ trợ về vốn,công nghệ và thông tin thị trường Hiện nay, hầu hết lượng nước thải phátsinh từ quá trình sản xuất tại các làng nghề đều thải trực tiếp ra môitrường với mức độ ô nhiễm rất cao mà không qua bất kỳ biện pháp xử lýnào Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy, nồng độ cácchất ô nhiễm theo các chỉ số như COD, BOD5 hay tổng lượng coliformtrong nước thải làng nghề đều vượt quy chuẩn cho phép hàng chục lần, cábiệt có nơi vượt quy chuẩn cho phép lên đến hàng nghìn lần Bên cạnh
đó, hầu hết các làng nghề đều có nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn cho phép,nồng độ SO2 tại các làng nghề mây tre đan, chế biến nông sản thực phẩmcao gấp nhiều lần Các làng nghề có doanh thu càng cao thì ô nhiễm càng
Trang 7lớn và càng khó kiểm soát Để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường làngnghề Việt Nam, các địa phương cần xây dựng hoàn chỉnh quy hoạch pháttriển làng nghề với quy mô, thời gian, điều kiện phát triển, có bước đi cụthể, có chính sách, quy định phù hợp để các nghệ nhân trên địa bànkhuyến khích họ tham gia đào tạo nghề cho thế hệ trẻ, cung cấp nguồnnhân lực chất lượng cao cho các làng nghề Đồng thời, các địa phươngcần quy hoạch không gian sản xuất gắn với bảo vệ môi trường Đây làvấn đề cấp bách mà các cơ quan chức năng và toàn xã hội phải quan tâm.Làng nghề ở Việt Nam đã có từ lâu đời và phát triển, người dân gắn
bó với nghề truyền thống, mở rộng và phát triển làng nghề Có thể nói,đây là một trong những giải pháp phát triển kinh tế nông thôn hiệu quả.Nghề thủ công ở các làng nghề đã giải quyết được vấn đề lao động dôi dư
và giải quyết việc làm trong thời gian nông nhàn Theo thống kê, có 27%
số hộ làm nghề nông kiêm các ngành nghề khác và 13% số hộ chuyênlàm nghề thủ công Các làng nghề đã thu hút tới 11 triệu lao động thườngxuyên Ngoài ra, thu nhập từ hoạt động làng nghề là nguồn thu nhập đáng
kể của các hộ nông dân Đơn cử như làng gốm Bát Tràng mỗi năm sảnxuất hàng nghìn sản phẩm gốm mỹ nghệ xuất khẩu Riêng năm 2009,làng nghề nước ta xuất khẩu sản phẩm đạt 900 triệu USD, chiếm 15%tổng giá trị sản xuất của khu vực nông thôn Bên cạnh những tín hiệuđáng mừng trong phát triển các nghề thủ công truyền thống ở các vùngnông thôn Việt Nam, thì một nỗi lo lắng không kém, đó là nguy cơ ônhiễm môi trường từ các làng nghề Hiện chất thải phát sinh từ nhiều làngnghề đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Các làng nghề ở nước
ta đã tồn tại và phát triển từ lâu đời, đây chủ yếu là các làng nghề Ở ViệtNam, làng nghề rất đa dạng Theo thống kê của JICA phối hợp với BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn, cả nước hiện có 1450 làng nghề,phân bố ở 58 tỉnh, thành phố trong cả nước, riêng vùng Đồng bằng sôngHồng có khoảng 800 làng nghề Các tỉnh có nhiều làng nghề bao gồm HàTây 280 làng, Thái Bình 187 làng, Bắc Ninh 59 làng, Hải Dương 65 làng,Nam Định 90 làng, Thanh Hoá 127 làng Các loại hình thủ công mỹ
Trang 8nghệ cũng đa dạng và phong phú nhưng chủ yếu là mây, tre, đan, thêuren, sản xuất đồ mộc, sơn mài, tranh, tượng Các công việc chủ yếu pháttriển ở các làng nghề như sau: Bảng I Phân bố các loại hình làng nghề ởnông thôn Việt Nam Nguồn : Dự án KC 08-09 Sản phẩm của các làngnghề truyền thống này đã có chỗ đứng trên thị trường như gốm BátTràng, giấy Yên Hòa, dệt Triều Khúc, khảm gỗ Đồng Kỵ (Bắc Ninh),mây tre đan, chiếu cói (Hưng Yên, Thái Bình) Các sản phẩm này đápứng được thị hiếu cao của người tiêu dùng, đặc biệt là khách hàng nướcngoài Nhiều sản phẩm thủ công của làng nghề đã được dự thi tại cáctriển lãm quốc tế và cũng đạt thứ hạng cao như: Giải Châu Âu về sảnphẩm gỗ mỹ nghệ Phù Khê, Huy chương Vàng về gốm Đông Thành.Điều này khuyến khích các nghệ nhân, tác động trực tiếp đến sức khỏengười dân địa phương và ngày càng trở thành vấn đề nóng Rủi ro nàychủ yếu phát sinh từ đặc thù của hoạt động làng nghề là sản xuất nhỏ lẻ,công nghệ lạc hậu, không đồng bộ, phát triển tự phát, chủ yếu phát triểntheo nhu cầu thị trường Một thực tế đáng lo ngại nữa là do sự thiếu hiểubiết của người dân về tác hại của hoạt động sản xuất đối với sức khỏe củabản thân và những người xung quanh Điều đáng báo động là mức độ ônhiễm môi trường làng nghề không những không giảm mà còn có xuhướng gia tăng theo thời gian Tùy theo tính chất của từng loại hình làngnghề mà loại hình ô nhiễm môi trường cũng khác nhau Chẳng hạn, tạicác làng nghề sản xuất mây, tre, nứa… xảy ra tình trạng ô nhiễm khôngkhí, do sử dụng lưu huỳnh khi sấy nguyên liệu; đối với các làng nghề,chất thải chủ yếu là khói, bụi và khí độc; Tại các làng nghề tái chế nhựa,khi làm sạch vật liệu bằng cách rửa, người dân đã thải ra sông hồ mộtlượng lớn chất thải nguy hiểm như thuốc trừ sâu, hóa chất… gây ô nhiễmnguồn nước, không những vậy khi đốt còn làm chảy vật liệu , tạo ra mùikhó chịu Tính đến năm 2009, số làng nghề của Việt Nam phân bố trênkhắp cả nước với nhiều ngành nghề truyền thống được liệt kê trong bảngdưới đây[1]
Trang 9Bảng 1 Các loại làng nghề ở nông thôn Việt Nam
Vùng Tổng
số
Sản phẩm
từ tơ, da
Xử lý nông, thực phẩm
Tái chế
Thủ công mỹ nghệ
Nguyên vật liệu xây dựng, gốm sứ
Khá c
bị ô nhiễm nghiêm trọng, 27% ô nhiễm trung bình và 27% ô nhiễm nhẹ.Hiện nay, chất lượng môi trường ở hầu hết các làng nghề không đạt tiêuchuẩn khiến người lao động phải chịu các nguy cơ có hại cho sức khỏe,trong đó 95% do bụi, 85,9% do nhiệt và 59,6% do hóa chất Ô nhiễm môitrường nước làng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam do các hợp chất
vô cơ độc hại như axit, bazơ, muối, kim loại nặng… thường thấy ở cáclàng nghề cơ khí, xi mạ, đúc, nhuộm, tẩy Đây là những nguồn ô nhiễmcực kỳ nguy hiểm, đặc biệt là đặc điểm nước thải dệt nhuộm được xếpvào loại nước thải nguy hiểm nhất trong các loại nước thải, không chỉ ảnhhưởng đến nguồn nước mặt, mà còn ảnh hưởng đến nguồn nước ngầm,gây ra nhiều bệnh nguy hiểm cho người dân người dân các vùng lân cận
Trang 10Bên cạnh đó, các loại bột màu, sợi thường thấy ở các làng nghề dệt,nhuộm, sơn mài, ươm tơ đã làm nước đổi màu, tăng hàm lượng chấthữu cơ trong nước, gây mùi khó chịu, làm giảm lượng ôxy hòa tan trongnước, ảnh hưởng đến môi trường sống của động thực vật thủy sinh, gây ônhiễm nguồn nước sinh hoạt của người dân Cụ thể, các làng nghề sảnxuất tiểu thủ công nghiệp như làng nghề tái chế gang thép Đa Hội, đồ gỗĐồng Kỵ, giấy Phú Lâm… đã góp một lượng lớn nước thải chưa qua xử
lý xả trực tiếp vào hệ thống nước sinh hoạt của địa phương Sông NgũHuyện Khê khi chảy qua các làng nghề này đã tiếp nhận nước thải chứanhiều hóa chất như axit, xút, chất tẩy trắng, phèn chua, bột màu từ cáclàng nghề nên bị ô nhiễm nghiêm trọng, trở thành kênh dẫn nước thải củacác làng nghề Hệ thống làng nghề Có 70 hộ tham gia làng nghề làm bún,bánh truyền thống và dịch vụ tại xóm Chùa (xã Phù Nham, huyện PhùNinh, Phú Thọ) Số hộ tham gia sản xuất không nhiều nhưng do quy trìnhsản xuất lạc hậu, nước thải có hàm lượng tinh bột lớn không được xử lýtriệt để khiến môi trường xung quanh bị ảnh hưởng nghiêm trọng Một số
ít các hộ tự xử lý bằng cách xây bể biogas, bể lắng, nhưng hầu hết các hộcòn lại đều xả thải trực tiếp ra kênh, rạch nên tiềm ẩn nhiều nguy cơ ônhiễm do nước thải, chất thải làng nghề Tại làng nghề nấu rượu Phú Lộc,tỉnh Hải Dương, toàn bộ nước thải của gần 200 hộ nấu rượu, bún và chấtthải chăn nuôi đều được xả thẳng xuống ao rồi chảy ra kênh thủy lợi chảyqua làng mà không qua bất kỳ công đoạn xử lý nào Tại thôn Tông Bường
- sản xuất bún, từ nhiều năm nay, toàn bộ nước thải sau sản xuất khôngqua xử lý đều được xả thẳng ra hệ thống thoát nước chung của thôn Quaphân tích nước mặt của Trung tâm Quan trắc & Phân tích Môi trường HảiDương, số liệu cho thấy hàm lượng COD vượt từ 12-15 lần, TSS vượt 2-3lần, coliform vượt 11-19 lần, amoni vượt từ 12-16 lần, phân lân vượt từ
26 đến 31 lần tiêu chuẩn cho phép Cũng theo C36, qua khảo sát và kếtquả thanh, kiểm tra của các cơ quan chức năng cho thấy, hầu hết các làngnghề chưa quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường, vi phạm pháp luật
về bảo vệ môi trường, tình trạng này diễn ra phổ biến Tại phường ChâuKhê (thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh), trong số 123 cơ sở sản xuất kinh doanh
Trang 11của làng nghề tái chế kim loại này bị kiểm tra, tất cả các cơ sở này đềuchưa đầu tư xây dựng hệ thống xử lý khí thải, nước thải Chất thải rắnphát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh không được thugom, vận chuyển đến khu vực quy định để xử lý mà tự ý đổ thải xungquanh khu vực cụm công nghiệp Kết quả phân tích của cơ quan chứcnăng về các chỉ tiêu ô nhiễm cụ thể cho thấy, tại đây hàm lượng SO2 caogấp 48-60 lần tiêu chuẩn cho phép, hàm lượng bụi cao gấp 113-230 lầntiêu chuẩn cho phép, hàm lượng NO2 vượt tiêu chuẩn 50 -76 lần TạiCụm công nghiệp làng nghề giấy Phong Khê, TP Bắc Ninh, qua kiểm tra157/209 cơ sở sản xuất của làng nghề tái chế giấy, số liệu phản ánh hầuhết không có hệ thống xử lý nước thải, khí thải, nguồn nước thải được xả
ra kênh nước thải chung của làng nghề rồi đổ ra sông Ngũ Huyện Khê,gây ô nhiễm nguồn nước mặt nghiêm trọng Hầu hết các cơ sở chưa lậpbáo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường
Năm 2018, phát biểu khai mạc Hội nghị, Phó Chủ nhiệm Văn phòngQuốc hội Đỗ Mạnh Hùng nhận định, ô nhiễm không khí đang là vấn đềnhức nhối đối với môi trường đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ởnước ta hiện nay Tổ chức Y tế Thế giới (WTO) liên tục đưa ra cảnh báoViệt Nam là quốc gia có mức độ ô nhiễm không khí đặc biệt cao so vớicác nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Tại Việt Nam, hơn50% số ngày trong năm có chất lượng không khí kém Trong đó, Hà Nội
là một trong những thành phố có mức độ ô nhiễm cao nhất thế giới Theothống kê ở nước ta, mặc dù tổng diện tích rừng đã tăng lên, đạt 40% độche phủ nhưng chất lượng rừng vẫn tiếp tục suy giảm Đối với khu vực đôthị, mật độ cây xanh không đạt tiêu chuẩn về mức độ che phủ Cụ thể, tại
Hà Nội và TP.HCM, diện tích này mới đạt <4m2 / người, thấp hơn so vớiyêu cầu của tiêu chuẩn (10-15m2 / người) và chưa đáp ứng được vai trò
là “lá phổi xanh” giúp giảm thiểu ô nhiễm không khí Ô nhiễm khôngkhí không chỉ là vấn đề nóng tập trung ở các đô thị phát triển, các cụmcông nghiệp mà còn trở thành mối quan tâm của toàn xã hội, được coi làmột trong những tác nhân hàng đầu có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe
Trang 12cộng đồng Ô nhiễm không khí có tác động tiêu cực đến sức khỏe conngười, đặc biệt là gây ra các bệnh về đường hô hấp, ảnh hưởng đến hệsinh thái và biến đổi khí hậu (hiệu ứng nhà kính, mưa axit và suy giảmtầng ôzôn) Công nghiệp hóa càng mạnh, đô thị hóa càng phát triển thìnguồn ô nhiễm không khí càng nhiều , áp lực thay đổi chất lượng khôngkhí càng lớn thì các yêu cầu về bảo vệ môi trường càng trở nên quantrọng Trên thế giới, nhiều quốc gia cũng đang nằm trong tình trạng báođộng về tình trạng ô nhiễm không khí trầm trọng như Mỹ, Trung Quốc,
Ấn Độ, Indonesia, Malaysia Theo thống kê của WHO, mỗi năm trênthế giới có khoảng 2 triệu trẻ em tử vong do viêm đường hô hấp cấp,trong đó 60% liên quan đến ô nhiễm không khí Đặc biệt, tình trạng ônhiễm nước thải của nhóm làng nghề chế biến nông sản thực phẩm rấtđáng lo ngại gồm làng nghề chế biến tinh bột sắn ở xã Minh Khai (huyệnHoài Đức), làng nghề chế biến tinh bột ở Cộng Hòa, làng nghề chế biếnnông sản ở Cát Quê, làng làm bún Kỳ Thủy, làng nghề làm giò chả ởthôn Ngũ Câu
Năm 2019, theo báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa học, Công nghệ
và Môi trường của Quốc hội, hiện mới có 26,7% số làng nghề được thugom nước thải công nghiệp và 20,9% số làng nghề có thu gom chất thảirắn công nghiệp Đây là vấn đề lớn trong việc xử lý ô nhiễm môi trườngkhu vực nông thôn, nhất là các làng nghề truyền thống Cũng theo thống
kê, cả nước có trên 5.400 làng nghề, trong đó có trên 1.800 làng nghề,làng nghề truyền thống được công nhận Có tới 60% số làng nghề tậptrung ở khu vực phía Bắc như Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thái Bình,Nam Định Khu vực miền Trung chiếm khoảng 23,6%, tập trung chủyếu ở các tỉnh như Quảng Nam, Thừa Thiên Huế và khu vực miền Namchiếm khoảng 16,6%, tập trung chủ yếu ở các tỉnh TP.HCM, Cần Thơ,Đồng Nai và Bình Dương Tuy nhiên, một vấn đề nan giải là có tới 46%làng nghề đang bị ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Hiện nay, hầu hếtnước thải sản xuất tại các làng nghề đều thải trực tiếp ra môi trường vớimức độ ô nhiễm rất cao mà không qua bất kỳ biện pháp xử lý nào Báo
Trang 13cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy, nồng độ các chất ô nhiễmtheo các chỉ số như COD, BOD5 hay tổng lượng coliform trong nước thảilàng nghề đều vượt quy chuẩn cho phép hàng chục lần, cá biệt có nơivượt quy chuẩn cho phép lên đến hàng nghìn lần Bên cạnh đó, hầu hếtcác làng nghề đều có nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn cho phép, nồng độ SO2tại các làng nghề mây tre đan, chế biến nông sản thực phẩm cao gấpnhiều lần Là xã có ngành may mặc phát triển, mỗi ngày xã Tam Hiệp(huyện Phúc Thọ) thải ra môi trường khoảng 4 - 5 tấn rác thải côngnghiệp thông thường (chủ yếu là vải vụn) Theo kết quả điều tra năm2018-2019 của Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội tại 192 làng nghềthì có 77 làng nghề bị ô nhiễm nguồn nước nặng, 36 làng nghề bị ônhiễm Đặc biệt, tình trạng ô nhiễm nước thải của nhóm làng nghề chếbiến nông sản thực phẩm rất đáng lo ngại gồm làng nghề chế biến tinhbột sắn ở xã Minh Khai (huyện Hoài Đức), làng nghề chế biến tinh bột ởCộng Hòa, làng nghề chế biến nông sản ở Cát Làng nghề làm bún Quế,
Kỳ Thủy, làng nghề làm giò chả ở thôn Ngũ Câu Nước thải chứa nhiềutinh bột, axit hữu cơ, xơ, cặn có hàm lượng chất hữu cơ cao, tổng hàmlượng chất rắn cao và có tính axit , nếu không được xử lý mà thải trựctiếp ra môi trường
Hà Nội hiện là địa phương có số lượng làng nghề lớn nhất cả nướcvới 1.350 làng nghề và phân bố không đồng đều Huyện Hoài Đức có sốlàng nghề kỷ lục, trong số 53 làng nghề thì có 51 làng nghề, với hơn8.300 doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh, trong đó có 12 làng nghềđược công nhận là làng nghề truyền thống Tuy nhiên, đứng đầu danhsách làng nghề gây ô nhiễm môi trường ở Hà Nội phải kể đến làng nghềchế biến nông sản, thực phẩm ở các xã Dương Liễu, Minh Khai, Cát Quếcủa huyện Hoài Đức Tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm này,lượng nước thải sản xuất có nơi lên đến 7.000m3 / ngày / làng
Theo kế hoạch, đến năm 2020, thực hiện xử lý môi trường tại 50làng nghề trọng điểm, thực hiện Đề án “Bảo vệ môi trường làng nghề trênđịa bàn TP Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”, Sở Tài
Trang 14nguyên và Môi trường Hà Nội đã khảo sát, đã lấy mẫu và tiến hành phântích môi trường tại 65 làng nghề Kết quả cho thấy có 60/65 làng nghề bị
ô nhiễm Hầu hết các làng nghề chưa có hệ thống cơ sở hạ tầng đạt yêucầu, nhất là hệ thống cấp thoát nước thải chưa đầy đủ Phần lớn nước thảicủa các làng nghề chưa qua xử lý đổ ra ao hồ với mức độ ô nhiễm rất cao.Trước thực trạng trên, thời gian qua, UBND TP Hà Nội đã chỉ đạo Sở Tàinguyên và Môi trường tiếp tục thực hiện nhiệm vụ “Rà soát, đánh giá,phân loại làng nghề” Theo đó, năm 2019 rà soát, đánh giá, phân loại 128làng nghề Năm 2020, rà soát, đánh giá, phân loại 107 làng nghề; Xâydựng và triển khai kế hoạch truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồnglàng nghề giai đoạn 2018 - 2020, với mục tiêu 100% làng nghề được ràsoát, đánh giá, phân loại theo Thông tư số 1 31/2016 / TT-BTNMT của
Bộ TNMT để có phương án xử lý ô nhiễm phù hợp với từng loại hình sảnxuất, điều kiện thực tế của địa phương Sở Công Thương Hà Nội đưa raphương án xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề của TP với số tiền là1.350 tỷ đồng Trong đó, đến cuối năm 2020, bố trí khoảng 750 tỷ đồng
để xây dựng hệ thống xử lý môi trường tại 50 làng nghề trọng điểm Giai đoạn 2020-2030, cần 600 tỷ đồng để xây dựng hệ thống xử lý môitrường tại 30 làng khác Thực tế, việc xử lý ô nhiễm không hiệu quả dùđược đầu tư lớn Dự án xây dựng nhà máy xử lý nước thải xã Sơn Đông
có tổng mức đầu tư 231,5 tỷ đồng, được triển khai đầu tư trong giai đoạn
2014 - 2016, nhưng vẫn đang ở giai đoạn thi công; Nhà máy xử lý nướcthải tập trung Cầu Ngà tại xã Dương Liễu, công suất thiết kế 20.000 m3 /ngày đêm được đưa vào vận hành từ tháng 10/2016 nhằm xử lý nước thảilàng nghề của 3 xã: Dương Liễu, Minh Khai, Cát Quế Từ khi nhà máy
xử lý nước thải Cầu Ngà (xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội)
đi vào hoạt động, nước thải của 10 thôn với hơn 2.500 hộ dân ở MiệnLãng (khu vực ven đê sông Đáy) đã được thu gom và được xử lý[2]