1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI THẢO LUẬN MÔN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒNG

20 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 96,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hợp đồng song vụ, khi các bên đã thoả thuận thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn; không được hoãn thực hiện với lý do bên kia chưa t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

-oOo -BÀI THẢO LUẬN MÔN: PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT

HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

BUỔI 3:

VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒNG

Danh sách thành viên nhóm 3 Lớp: Quản trị - Luật CLC 42

HỌ VÀ TÊN MSSV

1 Lưu Thị Thùy Linh 1751101030065

2 Phạm Thị Hoàng Ngân 1751101030082

3 Đinh Thị Hải Ngọc 1751101030086

4 Lý Ngọc Phụng 1751101030107

5 Lê Thanh Thảo 1751101030139

6 Trần Thị Thuận 1751101030152

7 Tạ Thị Thanh Trúc 1751101030173

8 Hồ Lạc Vũ Uyên 1751101030181

9 Trần Bảo Ngân 1651101030091

Trang 2

VẤN ĐỀ 1:

BUỘC TIẾP TỤC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG

1 Đối với vụ việc trong Quyết định số 36, đoạn nào cho thấy Tòa án địa phương đã buộc các bên tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng?

Đoạn cho thấy Tòa án địa phương đã buộc các bên tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng tại phần Nhận thấy của bản án, cụ thể là:

- Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 06/2010/KDTM-ST ngày 27/8/2015,

TAND huyện Tân Uyên đã quyết định “Buộc Công ty TNHH Damool tiếp tục thực hiện

hợp đồng số 007/09/DMVN-HHDT ngày 10/10/2009 giữa Công ty TNHH Damool VINA với Công ty cổ phần Hồng Hà Bình Dương.”

- Tại Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 21/2010/KDTM-PT ngày

23/11/2010 TAND tỉnh Bình Dương đã quyết định “Không chấp nhận kháng cáo của

Công ty TNHH Damood VINA Và Công ty cổ phần vật liệu xây dựng Thế Giới nhà Giữ nguyên Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 06/2010/KDTM-ST ngày 27/8/2010 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.”

2 Hướng của Tòa án địa phương có được Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

Tòa án nhân dân tối cao không chấp nhận hướng giải quyết của Tòa án địa phương Căn

cứ vào phần Xét thấy của bản án

- Đoạn thứ hai của phần Xét thấy: Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm buộc Công ty Hồng Hà Bình Dương và Công ty VINA tiếp tục thực hiện Hợp đồng nguyên tắc 007 là không đúng.

- Đoạn thứ ba của phần Xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm lại xác định là tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất” là không đúng Mặt khác, nguyên đơn và bị đơn trong vụ án này là hai doanh nghiệp đều có đăng ký kinh doanh: thực hiện Hợp đồng nguyên tắc số 007 về việc chuyển nhượng tài sản và nhà xưởng gắn liền với quyền sử dụng đất, mục đích nhằm phục vụ cho việc kinh đoanh, nên xác định đây là vụ án kinh doanh, thương mại được quy định tại Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2005.

3 Vì sao Tòa án nhân dân tối cao theo hướng nêu trên? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

TAND tối cao dựa trên những lập luận ở phần Xét thấy để theo hướng nêu trên Bao gồm:

- Công ty VINA đã vi phạm Hợp đồng nguyên tắc số 007, nên phải chịu đền bù 5% giá trị hợp đồng theo như hai bên đã thỏa thuận tại Điều 05 của Hợp đồng nguyên tắc số 007

Trang 3

- Trước và trong quá trình giải quyết vụ án Công ty VINA đều từ chối việc thực hiện Hợp đồng theo nguyên tắc số 007 và đồng ý chịu phạt 5% giá trị hợp đồng

4 Suy nghĩ của anh/ chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao.

Hướng giải quyết của TAND tối cao là hợp lý Vì:

- Theo quy định tại Điều 352 BLDS thì khi bên có nghĩa vụ thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ Điều này phụ thuộc vào ý chí của bên có quyền, mà trong trường hợp này là Công ty cổ phần Hồng Hà Bình Dương Công ty cổ phần Hồng Hà Bình Dương khởi kiện Công ty VINA yêu cầu buộc công ty VINA “nếu không thực hiện hợp đồng thì phải thanh toán cho Công ty cổ phần Hồng Hà Bình Dương theo tiền phạt thỏa thuận là 290.000 USD x 5% = 14.500 USD” Công ty cổ phần Hồng Hà Bình Dương không yêu cầu Công ty VINA tiếp tục thực hiện nghĩa vụ mà đưa ra yêu cầu có tính chất lựa chọn hoặc tiếp tục thực hiện, hoặc thanh toán tiền phạt theo thoản thuận Ý chí của bên có quyền là không rõ ràng

- Công ty VINA từ chối việc thực hiện Hợp đồng nguyên tắc số 007 và đồng ý chịu phạt 5% giá trị hợp đồng

- Tòa theo hướng không buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng xuất phát từ lí do bên vi phạm từ chối thực hiện và chịu phạt cùng với sự do dự của bên bị vi phạm1

5 Đối với vụ việc trong Bản án số 01, bên bán có vi phạm nghĩa vụ giao cà phê không? Vì sao?

Vì căn cứ theo bản án, ông Hữu và bà Thanh đã nhận số tiền 188.600.000 đồng của bà Phượng qua 4 lần xác lập hợp đồng mua bán cà phê, quy ra số cà phê nhân xô đã quy chuẩn mà ông Hữu bà Thanh phải bán cho bà Phượng là 7729,627 kg nhưng từ khi nhận tiền cho đến nay, ông Hữu bà Thanh không giao cà phê cho bà Phượng Hơn nữa, hợp đồng mua bán trên là một hình thức của hợp đồng song vụ và theo quy định tại khoản 1

Điều 414 BLDS 2005:“1 Trong hợp đồng song vụ, khi các bên đã thoả thuận thời hạn

thực hiện nghĩa vụ thì mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn; không được hoãn thực hiện với lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với mình, trừ trường hợp quy định tại Điều 415 và Điều 417 của Bộ luật này.”

Bà Phượng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình còn ông Hữu bà Thanh khi đến hạn đã không giao số cà phê nói trên cho bà Phượng tức ông Hữu bà Thanh đã vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng

6 Toà án có buộc bên bán phải tiếp tục giao cà phê không?

1 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng việt Nam-Bản án và Bình luận bản án, Nxb Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam (tái bản lần thứ sáu), tr 443

Trang 4

Toà án có buộc bên bán phải tiếp tục giao cà phê căn cứ theo phần quyết định của Bản

án đã nêu rõ “Buộc ông Trần Duy Hữu và bà Trần Thị Thanh có trách nhiệm giao trả cho

bà Nguyễn Thị Phượng 7.729,67 kg cà phê nhân xô đã quy chuẩn.”

7 Trên cơ sở văn bản, có quy định nào cho phép Toà án buộc bên bán phải tiếp tục giao cà phê không? Nêu rõ cơ sở văn bản khi trả lời.

Trên cơ sở văn bản, không có quy định nào cho phép Tòa án buộc bên bán phải tiếp

tục giao cà phê Vì căn cứ theo điều 352 BLDS 2015: Khi bên có nghĩa vụ thực hiện

không đúng nghĩa vụ của mình thì bên có quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ Căn cứ theo điều luật trên thì Tòa án chỉ có thể ra quyết định buộc

bên bán phải tiếp tục giao cà phê nếu như có sự yêu cầu, đề nghị của bên có quyền lợi bị xâm phạm, tức bên mua Tòa án không thể đơn phươ buộc bên bán tiếp tục thực hiện nghĩa vụ vì hợp đồng dân sự được giao kết dựa trên tinh thần bình đẳng, hòa thuận nên trong quá trình xét xử, giải quyết tranh chấp cũng cần dựa trên tinh thần đó, tôn trọng quyền tự quyết của các bên

8 Cho biết những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS

2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu.

Bộ luật dân sự 2015 Bộ luật dân sự 2005

Điều 352 Trách nhiệm tiếp tục thực hiện

nghĩa vụ

Khi bên có nghĩa vụ thực hiện không đúng

nghĩa vụ của mình thì bên có quyền được

yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện

nghĩa vụ

Điều 356 Trách nhiệm do không thực hiện

nghĩa vụ giao vật

1 Trường hợp nghĩa vụ giao vật đặc định

không được thực hiện thì bên bị vi phạm có

quyền yêu cầu bên vi phạm phải giao đúng

vật đó; nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng

thì phải thanh toán giá trị của vật

2 Trường hợp nghĩa vụ giao vật cùng loại

không được thực hiện thì bên bị vi phạm có

quyền yêu cầu bên vi phạm phải giao vật

cùng loại khác; nếu không có vật cùng loại

Điều 303 Trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ giao vật

1 Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ giao vật đặc định thì người có quyền được quyền yêu cầu bên có nghĩa

vụ phải giao đúng vật đó; nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng thì phải thanh toán giá trị của vật

2 Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ giao vật cùng loại thì phải thanh toán giá trị của vật

Trang 5

khác thay thế thì phải thanh toán giá trị của

vật

3 Trường hợp việc vi phạm nghĩa vụ quy

định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà

gây thiệt hại cho bên bị vi phạm thì bên vi

phạm phải bồi thường thiệt hại

3 Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại cho bên có quyền thì ngoài việc thanh toán giá trị của vật còn phải bồi thường thiệt hại cho bên có quyền

Điều 357 Trách nhiệm do chậm thực hiện

nghĩa vụ trả tiền

1 Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả

tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền

chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả

2 Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được

xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng

không được vượt quá mức lãi suất được

quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật

này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện

theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ

luật này

Điều 358 Trách nhiệm do không thực hiện

hoặc không được thực hiện một công việc

1 Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực

hiện một công việc mà mình phải thực hiện

thì bên có quyền có thể yêu cầu bên có

nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hoặc tự mình

thực hiện hoặc giao người khác thực hiện

công việc đó và yêu cầu bên có nghĩa vụ

thanh toán chi phí hợp lý, bồi thường thiệt

hại

2 Khi bên có nghĩa vụ không được thực

hiện một công việc mà lại thực hiện công

việc đó thì bên có quyền được quyền yêu

cầu bên có nghĩa vụ phải chấm dứt việc

thực hiện, khôi phục tình trạng ban đầu và

bồi thường thiệt hại

Điều 304 Trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc

1 Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện một công việc mà mình phải thực hiện thì bên có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hoặc tự mình thực hiện hoặc giao cho người khác thực hiện công việc đó và yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại

2 Khi bên có nghĩa vụ không được thực hiện một công việc mà lại thực hiện công việc đó thì bên có quyền được quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải chấm dứt việc thực hiện, khôi phục tình trạng ban đầu và bồi thường thiệt hại

Điều 305 Trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự

1 Khi nghĩa vụ dân sự chậm được thực hiện thì bên có quyền có thể gia hạn để

Trang 6

bên có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ; nếu quá thời hạn này mà nghĩa vụ vẫn chưa được hoàn thành thì theo yêu cầu của bên

có quyền, bên có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại; nếu việc thực hiện nghĩa vụ không còn cần thiết đối với bên có quyền thì bên này có quyền từ chối tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại

2 Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với

số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác

Điều 359 Trách nhiệm do chậm tiếp nhận

việc thực hiện nghĩa vụ

Bên có quyền chậm tiếp nhận việc thực

hiện nghĩa vụ làm phát sinh thiệt hại cho

bên có nghĩa vụ thì phải bồi thường thiệt

hại cho bên đó và phải chịu mọi rủi ro, chi

phí phát sinh kể từ thời điểm chậm tiếp

nhận, trừ trường hợp luật có quy định khác

Điều 306 Trách nhiệm dân sự do chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự

Bêncó quyền chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự làm phát sinh thiệt hại cho bên có nghĩa vụ thì phải bồi thường thiệt

- Bộ luật dân sự 2005 quy định về trách nhiệm dân sự và buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng đối với những nghĩa vụ cụ thể từ Điều 303 đến 306 theo hình thức liệt kê

- Bộ luật dân sự 2015 không liệt kê như BLDS 2015 mà quy định nguyên tắc chung cho vấn đề này

- Việc quy định nguyên tắc chung là hợp lý và tiến bộ của BLDS 2015, vì nếu chỉ liệt

kê một vài loại nghĩa vụ cụ thể thì sẽ dẫn đến thiếu sót bởi luật không thể dự liệu hết những vấn đề xảy ra trong thực tiễn, dẫn đến tình trạng không có luật để giải quyết tranh chấp, việc áp dụng tương tự pháp luật và sử dụng các nguồn bổ sung của pháp luật trong

hệ thống tư pháp Việt Nam vẫn còn hạn chế

Những phân tích về vấn đề này trong bình luận án của tác giả Đỗ Văn Đại:

- Bộ luật dân sự 2005 có những quy định theo hướng bên có quyền được yêu cầu bên

có nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện hợp đồng Tuy nhiên, các quy định này chỉ liên quan

Trang 7

đến một số nghĩa vụ cụ thể mà chưa có tính bao quát cho các loại nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng Chẳng hạn, liên quan đến vật, khoản 1 Điều 303 BLDS 2005 chỉ đề cập đến giao vật đặc định nên chỉ phù hợp với nghĩa vụ hợp đồng có đối tượng là vật đặc định như nghĩa vụ giao nhà trong vụ việc thứ tư, còn đối với nghĩa vụ giao vật khác (như vật cùng loại trong vụ việc thứ hai), chúng ta không có hướng giải quyết trong BLDS 20052

- Như vậy, nhìn từ góc độ so sánh pháp luật, hướng quy định như BLDS 2005 là rất hạn chế, thiếu tính bao quát cho các trường hợp không thực hiện đúng hợp đồng3

- Cuối cùng, BLDS 2015 đã theo hướng trên Cụ thể, trách nhiệm dân sự đầu tiên trong các trách nhiệm dân sự do không thực hiện đúng nghĩa vụ đã được ghi nhận tại

Điều 352 với nội dung “khi bên có nghĩa vụ thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì

bên có quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ”4

2 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng việt Nam-Bản án và Bình luận bản án, Nxb Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam (tái bản lần thứ sáu), tr 431.

3 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng việt Nam-Bản án và Bình luận bản án, Nxb Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam (tái bản lần thứ sáu), tr 432 đến 433.

4 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng việt Nam-Bản án và Bình luận bản án, Nxb Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam (tái bản lần thứ sáu), tr 437.

Trang 8

VẤN ĐỀ 2:

ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT, HỦY BỎ DO KHÔNG THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP

ĐỒNG

1 Điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng do có

vi phạm.

Điểm giống nhau:

- Cả hai trường hợp hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng đều dẫn đến một kết quả chung đó là làm chấm dứt hợp đồng Tức là hai trường này, hợp đồng đều đang tồn tại nhưng nay bị triệt tiêu5

- Hậu quả pháp lý chung: Hợp đồng không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết

- Trách nhiệm hoàn trả: Các bên có trách nhiệm hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận và khôi phục lại tình trạng ban đầu

- Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường

Điểm khác nhau:

Hợp đồng vô hiệu

(Điều 407 BLDS 2015) (Điều 423 BLDS 2015)Hợp đồng bị hủy bỏ Nguyên nhân

chấm dứt hợp

đồng

Do giao kết hợp đồng không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định

Do trong quá trình thực hiện hợp đồng có vi phạm

Điều kiện

chấm dứt hợp

đồng

Hợp đồng dân sự vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng (do luật định)

-Vi phạm điều kiện về chủ thể (không

có năng lực pháp luật, năng lực hành

vi tương ứng để xác lập HĐ) -Vi phạm điều kiện về sự tự nguyện (xác lập HĐ trong trường hợp giả tạo, trong lúc không nhận thức và làm chủ hành vi, hoặc bị nhầm lẫn, bị lừa dối,

đe dọa…) -Vi phạm điều kiện về nội dung, mục đích của hợp đồng (vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội) -Vi phạm điều kiện về hình thức của hợp đồng

-Có đối tượng không thể thực hiện

-Một bên đề nghị hủy bỏ hợp đồng -Một trong các bên vi phạm các điều khoản có trong hợp đồng hay vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng

-Hoặc do bên có nghĩa vụ: Chậm thực hiện nghĩa vụ (Điều 424 BLDS); Không có khả năng thực hiện (Điều 425 BLDS);

Hoặc trường hợp một bên làm mất,

hư hỏng tài sản (Điều 426 BLDS)

5 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, NXB Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2018 (xuất bản lần thứ bảy), tr 760.

Trang 9

Hiệu lực pháp

lý Hợp đồng không có hiệu lực ngay từthời điểm giao kết hợp đồng

Hợp đồng có hiệu lực nhưng đã bị chấm dứt trong quá trình thực hiện

do có vi phạm

Trách nhiệm

thông báo Hợp đồng không đủ điều kiện có hiệulực thì đương nhiên vô hiệu

Bên hủy hợp đồng phải thông báo cho bên kia về việc hủy bỏ hợp đồng Nếu không thông báo thì phải bồi thường khi gây ra thiệt hại (Khoản 3 Điều 423 BLDS)

Trách nhiệm

bồi thường

Bên có lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu

có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do mình gây ra (không nhất thiết là một trong 2 bên mà có thể là bên thứ ba)

-Một trong 2 bên có lỗi phải bồi thường thiệt hại (phần hợp đồng đã thực hiện)

-Bên yêu cầu hủy hợp đồng không phải bồi thường nếu không có lỗi

2 Theo Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị hủy bỏ?

Theo Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng này là hợp đồng vô hiệu Đoạn của

bản án cho thấy đó là: “Xét hợp đồng mua bán xe ngày 26/05/2012 nêu trên là vô hiệu

theo quy định tại các Điều 122 của Bộ luật dân sự nên không có căn cứ tuyên hủy hợp đồng cũng không xét yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng của cả nguyên và bị đơn vì hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên ngay từ thời điểm giao kết, không ràng buộc trách nhiệm các bên đã giao kết trong hợp đồng mà phải tuyên hợp đồng vô hiệu và xử lý hậu quả theo Điều 131 của Bộ luật dân sự ”

3 Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long (về hủy bỏ hay vô hiệu hợp đồng).

Hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long là hợp lý Vì hợp đồng mua bán xe ngày 26/05/2012 vô hiệu căn cứ theo quy định tại Điều 407 BLDS 2015 và Điều 122 BLDS 2015 Hợp đồng trong bản án vô hiệu vì những lý do sau :

“Về chủ thể, hợp đồng ghi bên mua là “Trang trí nội thất Thanh Thảo”, người đại diện Nguyễn Thị Dệt là không đúng vì bà Dệt không đại diện cho Trang trí nội thất Thanh Thảo mà thực chất là công ty TNHH-SX-TM Thanh Thảo do Trương Hoàng Thành là Giám đốc đại diện

Mặt khác, hợp đồng ghi đại diện bên mua là bà Nguyễn Thi Dệt nhưng đứng ra giải quyết lại là ông Trương Văn Liêm là không đúng quy định của pháp luật.”

Trang 10

4 Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì có áp dụng phạt vi phạm hợp đồng không? Vì sao?

Hợp đồng bị vô hiệu thì không áp dụng phạt vi phạm hợp đồng Căn cứ theo Khoản 4 Điều 131 BLDS quy định về Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu thì theo đó, bên có lỗi phải bồi thường thiệt hại cho bên bị thiệt hại (bồi thường thiệt hại ở đây không phải bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng do các bên thỏa thuận trong hợp đồng) nhưng luật không quy định rằng bên có lỗi phải chịu phạt vi phạm hợp đồng Khoản 1

Điều 418 BLDS quy định về Thỏa thuận phạt vi phạm: “Phạt vi phạm là sự thỏa thuận

giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm”, do đó phạt vi phạm hợp đồng chỉ áp dụng trong trường hợp một bên có

vi phạm về nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng Đối với hợp đồng vô hiệu, hợp đồng

bị vô hiệu xuất phát từ việc vi phạm các điều kiện được áp đặt ở thời điểm giao kết hợp đồng, vì vậy, ngay từ đầu đã không phát sinh việc thực hiện hợp đồng đẫn tới không thể

có vi phạm hợp đồng nên không áp dụng phạt vi phạm hợp đồng

Theo quan điểm của thầy Đỗ Văn Đại: “Chẳng hạn, trong hợp đồng có thể có thỏa

thuận về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, về phạt vi phạm hợp đồng Trong trường hợp này, hệ quả của hủy bỏ hay vô hiệu là rất khác nhau Bởi lẽ, theo khoản 1 Điều 427 Bộ luật dân sự 2015, “khi hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực

từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại” Điều đó có nghĩa là việc hủy bỏ hợp đồng vẫn cho phép áp dụng thỏa thuận về phạt vi phạm, về bồi thường thiệt hại nhưng quy định này không tồn tại trong khuôn khổ của hợp đồng vô hiệu.

Sở dĩ có sự khác biệt trên là vì khi hợp đồng bị vô hiệu thì hợp đồng không phải thực hiện và khi hợp đồng không phải thực hiện thì không có vi phạm hợp đồng và khi không

có vi phạm hợp đồng và khi không có vi phạm hợp đồng thì thỏa thuận về phạt vi phạm hợp đồng, về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng không có ý nghĩa.6”

5 Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với câu hỏi trên như thế nào và suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết này của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

 Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với câu hỏi trên:

- Trong Nhận đinh của Tòa án:

“Xét hợp đồng mua bán xe ngày 26/05/2012 nêu trên là vô hiệu theo quy định tại các Điều 122 của Bộ luật dân sự nên không có căn cứ tuyên hủy hợp đồng cũng không xét

6 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam 2018 (xuất bản lần thứ bảy), tr 764.

Ngày đăng: 23/05/2022, 04:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w