Đặc trưng của văn hoá Đông Sơn Và vị trí của văn hoá Đông Sơn trong tiến trình phát triển của dân tộc ta? (Lí do, thời gian tồn tại phát triển, các yếu tố tạo nên, đặc trưng, liên hệ thực tiễn) BÀI LÀM Văn hoá là cái nôi nuôi dưỡng những giá trị vật chất và tinh thần “hồn cốt nhất”, tinh hoa, tinh túy nhất của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Mượn lời tiền nhân, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định “Văn hóa là bản sắc của dân tộc, văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất”, quả t.
Trang 1Đặc trưng của văn hoá Đông Sơn Và vị trí của văn hoá Đông Sơn trong tiến trình phát triển của dân tộc ta?
(Lí do, thời gian tồn tại phát triển, các yếu tố tạo nên, đặc trưng, liên hệ thực tiễn)
BÀI LÀM Văn hoá là cái nôi nuôi dưỡng những giá trị vật chất và tinh thần “hồn cốt nhất”, tinh hoa, tinh túy nhất của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Mượn lời tiền nhân, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Văn hóa là bản sắc của dân tộc, văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất”, quả thật vậy! Nói về điều này, Việt Nam ta luôn tự hào với bạn bè quốc tế vì thứ “sức mạnh mềm” là bề dày văn hoá truyền thống phong phú và giàu đẹp Điều đó không chỉ được thể hiện qua chất lượng, số lượng những tác phẩm, loại hình nghệ thuật mà nhân dân sáng tạo ra để bồi đắp cho nền văn hoá nước nhà, mà còn phản ánh qua diễn trình lịch sử kéo dài từ hàng chục vạn năm
về trước, qua các thời kỳ văn hoá tiền sử, văn hoá sơ sử và văn hoá thời lịch sử phong kiến Trong văn hoá sơ sử, nền văn hoá Đông Sơn được coi là điển hình hơn cả khi các giá trị sinh hoạt vật chất và tinh thần ở giai đoạn này phát triển rực rỡ nhất, có những sự biến chuyển rõ ràng và độc đáo nhất Việc đi sâu nghiên cứu về thời gian tồn tại và phát triển, các yếu tố cấu thành, đặc trưng của văn hoá Đông Sơn sẽ giúp ta tìm về với cội nguồn của văn hoá Việt Nam, đồng thời đó còn là nền tảng, động lực quan trọng giúp ta tiếp tục tiến lên hiện thực hoá mục tiêu “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” mà Đảng và Nhà nước đã đề
ra Xuất phát từ lý do trên, em xin được trình bày về đề tài: “Đặc trưng và vị trí của văn hoá Đông Sơn trong tiến trình phát triển của dân tộc ta.”
Trong phần nội dung chính của bài viết, em sẽ đề cập đến các yếu tố: nguồn gốc, đặc trưng của nền văn hoá Đông Sơn, vị trí và vai trò của nền văn hoá Đông Sơn trong diễn trình lịch sử văn hoá Việt Nam
1 Nguồn gốc
Nền văn hóa Đông Sơn được hình thành dựa trên các giai đoạn “tiền Đông Sơn” Cụ thể, Nhiều học giả thừa nhận rằng văn hóa Đông Sơn hình thành trực tiếp từ ba nền văn hóaởlưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Cả Văn hóa Đông Sơn là nền văn hóa thuộc thời đại đồng thau và sơ kỳ thời đại đồ sắt ở Việt Nam, nó được phát triển liên tục từ khoảng 2000 năm Tr.CN cho đến thế kỷ VII Tr.CN và trải
Trang 2qua4giai đoạn phát triển là Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn Địa bàn phân bố của văn hóa này không phải chỉ ở vùng Thanh Hóa, mà trải rộng khắp vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam, tập trung nhấtởvùng lưu vực các con sông Hồng,
Mã, Chu, Cả
Văn hóa Đông Sơn có mối liên hệ mật thiết với các nền văn hóa phát triển cùng thời trên đất nước như văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Đồng Nai Đặc biệt, văn hóa Đông Sơn còn được coi là trung tâm phát triển của Đông Nam Á, có mối tương quan với các trung tâm phát triển trong khu vực: Trung tâm Đông Bắc (Thái Lan), trung tâm Điền (Vân Nam, Trung Quốc)
2 Đặc trưng của văn hoá Đông Sơn
Tính thống nhất trong đa dạng
● Tính thống nhất:
Vào khoảng thế kỷ VII trước Công nguyên, các nền văn hóa bộ lạc mất dần tính địa phương tiến tới chỗ hòa chung vào một nền văn hóa thống nhất-văn hóa Đông Sơn Đó là lúc các nhóm bộ lạc liên kết lại trong một quốc gia: Nước Văn Lang Tính thống nhất văn hóa được hiện rõ trên một vùng rộng lớn từ biên giới Việt-Trung cho đến bờ sông Gianh, Quảng Bình
trên cơ sở sản xuất nông nghiệp lúa nước, dẫn đến những hoạt động chung và những mối quan tâm chung, điều đó khiến cho ngay từ thời kỳ này, tinh thần đoàn kết, đại đoàn kết dân tộc đã được hình thành, phát triển, duy trì, củng cố cho đến tận ngày nay
● Tính đa dạng, phong phú: Hệ thống hiện vật
+ Vũ khí: Rìu, giáo, lao, dao găm, búa chiến, mũi tên…
+ Công cụ sản xuất: Rìu, lưỡi cày, cuốc, lưỡi dao gặt…
+ Đồ dùng sinh hoạt: Thạp, thổ, bình, khay, đĩa, chậu, âu, muôi, thìa…
+ Nhạc cụ: Chuông, trống, lục lạc…
+ Đồ trang sức: Vòng, khuyên tai, hạt chuỗi, trâm, khóa thắt lưng…
● Về phương thức sản xuất:
+ Trồng trọt và chăn nuôi phát triển, trong đó sản xuất lúa nước đống vai trò chủ đạo Ngoài ra còn chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà dùng để lấy sức kéo, lấy thịt
Trang 3+ Nền văn hóa lúa nước phát triển, thực phẩm dồi dào và có dự trữ dẫn đến sự phân cấp xã hội
+ Nghề thủ công đã có sự phát triển vượt bậc, đáp ứng nhu cầu sản xuất, sinh hoạt và chiến đấu
+ Kỹ thuật đúc đồng phát triển, đỉnh cao là trống đồng Đông Sơn
● Về văn hóa sinh hoạt vật chất:
- Mô hình bữa ăn của cư dân Đông Sơn là Cơm- Rau- Cá biết tận dụng môi trường tự
nhiên
+ - Đồ dùng sinh hoạt được chế tác bằng 3 chất liệu chủ yếu là đồ gốm, đồ đồng,
đồ gỗ Một số loại đồ dùng sinh hoạt tiêu biểu như nồi, chõ, mâm, chậu
- Đặc trưng nhà ở người Việt cổ:
+ Vật liệu chủ yếu là gỗ, tre, lứa có sẵn trong tự nhiên Tre được dùng để làm kèo, uốn, hoặc chẻ ra để đan; gỗ lim, gỗ xoan để làm cột nhà Rơm, rạ, lá cọ,
lá dừa dùng để lợp mái Đất nung để xây tường
+ Không gian nhà ở thường quần tụ thành xóm làng, xung quanh nhà là vườn cây, ao cá
- Văn hóa trang phục:
+ - Trang phục chất liệu chủ yếu là bằng tơ tằm, sợi bông phù hợp với điều kiện thời tiết và công việc đồng áng
+ - Phụ nữ mặc váy và yếm Nam giới đóng khố, cởi trần Thời kỳ này đã xuất hiện trang phục của giới quý tộc
+ Trang sức khá đặc trưng như nhuộm răng đen, xăm mình Ngoài ra còn đeo vòng tai hạt, chuỗi, nhẫn và phổ biến là vòng chân
- Vê phương tiện đi lại chủ yếu là thuyền bè, đường vận chuyển chủ yếu là đường
sông, ven biển Thuyền có 2 loại là thuyền độc mộc và thuyền ván ghép từ đó mà hình thành các điệu lý, điệu hò hát giao duyên
● Về văn hóa sinh hoạt tinh thần:
- Về tư duy và nhận thức: người Việt cổ đã biết phân loại sự vật theo chức
năng như công cụ sản xuất( cuốc, cày ), công cụ sinh hoạt( dao, bình ), công
cụ chiến đấu( giáo, mác )
- Về tư duy toán học: đạt đến trình độ nhất định như tuy duy đối xứng gương,
Trang 4đối xứng trục Con người thời này đã có tri thức thiên văn học.
- Về nhận thức thế giới: người việt thời kỳ này đã có sự nhận thức thế giới và
nhận thức chính mình bằng tư duy lưỡng phân: đàn ông- đàn bà, núi biển
- Về văn hóa nghệ thuật: Nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật tạc tượng, nghệ thuật
kiến trúc đã hình thành Đặc biệt trống đồng Đông Sơn là sự phát triển vượt bậc, là 1 biểu tưởng văn hóa, cũng là 1 nghệ thuật giá trị đặc sắc
- Về chữ viết: chữ viết Đông Sơn được chạm khắc trên các công cụ, vũ khí đồng
thau, các đường nét còn sơ lược nhưng khúc triết, rõ ràng
- Về kỹ thuật quân sự: Vũ khí Đông Sơn rất phổ biến, đa dạng về loại hình, độc
đáo về hình dáng, phong phú về số lượng Có thành quách với các bức thành kiên cố với hào sâu rộng cùng các ụ, lũy để bảo vệ phòng thủ
- Về tín ngưỡng, tôn giáo: tín ngưỡng bái vật giáo, tín ngưỡng phồn thực, tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên
- Về phong tục: đã xuất hiện tục nhuộm răng, ăn trầu, phong tục cưới xin, ma
chay, phong tục lễ hội Đặc biệt lễ hội thời kỳ này khá phong phú như hội mùa, hội cầu, hội nước
● Tổ chức xã hội thời Đông Sơn
Trong xã hội Đông Sơn đã có sự phát triển cao của sản xuất, đã có chế độ tư hữu và sự phân chia xã hội thành giai cấp Đỉnh cao phát triển về nghệ thuật quân sự ở thời kỳ này là thành Cổ Loa (thành, mũi tên đồng và nỏ)
Sư tổ chức cộng đồng hoàn chỉnh theo phương thức xã hội tự trị, đỉnh cao là sự thành lập nhà nước Văn Lang
3 Vị trí của văn hoá Đông Sơn trong tiến trình phát triển của dân tộc ta
Văn hóa Đông Sơn có một vị trí quan trọng trong tiến trình hình thành và phát triển của văn hóa Việt Nam Văn hóa Đông Sơn được coi là cốt lõi của người Việt cổ Cùng với văn hóa Óc EO, văn hóa Sa Huỳnh tạo thành "tam giác văn hóa" của người Việt Đây là một nền văn hóa bản địa, phát triển liên tục, lâu dài
ổn định trong một giai đoạn lịch sử lâu dài trước khi tiếp xúc với các nền văn hóa Trung Hoa và Ân Độ Đặc biệt, văn hóa Đông Sơn tạo nền tảng để văn hóa Việt Nam giao lưu tiếp biến với các nền văn hóa khác như Trung Hoa, Ấn Độ,
Trang 5Đông Nam Á trong thiên niên kỷ đầu sau công nguyên mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc
4 Liên hệ thực tiễn
Dù nền văn hóa Đông Sơn có niên đại từ hàng ngàn năm về trước song những những hiện vật có giá trị của người Việt cổ vẫn được lưu giữ cho đến tận ngày nay Cụ thể Bảo tàng Lịch sử Quốc gia là một trong những nơi lưu giữ và trưng bày nhiều hiện vật văn hóa Đông Sơn nhất hiện nay với khoảng 10.000 hiện vật, bao gồm các chất liệu đa dạng như: đồng, gốm, gỗ, đá Trong đó, hiện vật đồng chiếm số lượng nhiều hơn cả, đặc biệt là sưu tập trống đồng Bên cạnh đó, còn có các sưu tập công cụ lao động, vũ khí, đồ dùng sinh hoạt và đồ trang sức Trong đó có nhiều hiện vật được công nhận Bảo vật quốc gia như thạp đồng Đào Thịnh, trống đồng Ngọc Lũ, trống đồng Hoàng
Hạ, đèn hình người quỳ Đồng thời, trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, người ta còn bắt gặp những hoa văn của trống đồng trên các đường trang trí trên váy Mường, trên các nhạc cụ của người Việt Điều đó cho thấy Người dân Việt Nam ta vẫn luôn trân trọng, có ý thức bảo vệ và gìn giữ các hiện vật thuộc văn hóa Đông Sơn - một thời kỳ rực rỡ của văn minh Việt Nam
Văn hoá Đông Sơn - giai đoạn phát triển đath đến đỉnh cao của nền văn minh Việt cổ tiềm ẩn nhiều vấn đề chưa được khám phá, cần phải được dày công nghiên cứu và đầu
tư kinh phí hơn nữa để giải mã Những giá trị của nền Văn hoá Đông Sơn mãi là nền tảng của tinh thần, là động lực để đưa dân tộc ta không ngừng đổi mới phát triển, xây dựng đất nước, quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh và hạnh phúc