1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

MÔN lịch sử đảng cộng sản việt nam đề tài sự sáng tạo trong quá trình tìm đường cứu nước của nguyễn ái quốc và ý nghĩa của nó đối với thế hệ trẻ việt nam hiện nay

15 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 42,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng theo lời người ta kể thì cụ còn nặng cốt cách phong kiến.” Với tư chất thông minh lại ham học hỏi kết hợp với bối cảnh phong trào cách mạng đang diễn ra khắp cả nước, mưu cầu độc l

Trang 1

BÁO CÁO CUỐI KỲ HỌC KỲ II – NH: 2020-2021

MÔN: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Đề tài : Sự sáng tạo trong quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc và ý nghĩa của nó đối

với thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay

Họ tên SV: Đồng Thị Quỳnh Hương Lớp HP: Lịch sử Đảng - POLI200447

Trang 2

MỤC LỤC

Nội dung……….3

Chương I Công cuộc tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc………3 I.1 Bước đầu nhìn nhận và quyết định ra đi tìm đường cứu nước………3 I.2 Cuộc sống thực tiễn và những chân lý rút ra được từ nền văn minh phương Tây……….4 Chương II Tìm ra con đường cứu nước và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc…….5 II.1 Vạch trần chủ nghĩa thực dân và tìm ra con đường cứu nước……… 5 II.2 Tinh thần đại đoàn kết dân tộc……… 8 Chương III Sự sáng tạo trong quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc và ý nghĩa của nó đối với thể hệ trẻ Việt Nam hiện nay………11

Tài liệu tham khảo……….……….13

Trang 3

Nội dung

Chương I Công cuộc tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc

I.1 Bước đầu nhìn nhận và quyết định ra đi tìm đường cứu nước

Dựa trên bối cảnh xã hội Việt Nam lúc bây giờ, nước chúng ta đã trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến Bên cạnh đó, vì có sự xâm nhập của thực dân Pháp

mà xã hội Việt Nam còn xuất hiện thêm hai giai cấp mới là giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Chỉ nhìn vào hình thái xã hội Việt Nam lúc ấy thôi đã đủ thấy được sự phức tạp, rối ren và khó khăn trong việc đưa ra một chủ trương cứu nước đúng đắn

và toàn diện, phù hợp với bối cảnh lịch sử và văn hóa, tính cách con người Việt Nam

Trước khi Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước đã có vô số các cuộc phong trào, chủ trương cải cách được đề ra bởi các nhà yêu nước như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hoàng Hoa Thám, v.v Họ đều mang một lòng quyết tâm đưa đất nước ra khỏi cảnh lầm than và giành lại độc lập dân tộc, nhưng kết quả là tất cả họ đều thất bại trên con đường cách mạng của mình Nguyễn Ái Quốc thân là một hậu bối vô cùng kính trọng các bậc tiền nhân, Người rất khâm phục và tôn trọng họ, nhưng Người không đề cao các chủ trương đường lối của họ vì Người đã sớm nhận

ra những thiếu sót còn tồn đọng trong các chủ trương này Người cho rằng: “Cụ

Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp Điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau Cụ Hoàng Hoa Thám còn thực tế hơn vì trực tiếp đấu tranh chống Pháp Nhưng theo lời người ta kể thì cụ còn nặng cốt cách phong kiến.”

Với tư chất thông minh lại ham học hỏi kết hợp với bối cảnh phong trào cách mạng đang diễn ra khắp cả nước, mưu cầu độc lập tự do đang là nhu cầu bức thiết của nhân dân đã giúp Nguyễn Ái Quốc đúc kết được nhiều kinh nghiệm từ những bài học của các bậc tiền nhân đồng thời phát triển tư tưởng của bản thân theo hướng toàn diện Dù tuổi còn trẻ nhưng dưới sự áp bức của thời cuộc đã thôi thúc Người suy nghĩ tới một con đường khác biệt và mới mẻ hơn rất nhiều, đó là thay vì tiếp tục

Trang 4

ở lại quê nhà nơi vẫn còn mang tư tưởng lạc hậu hay cầu sự viện trợ, giúp đỡ từ nước ngoài, Người đích thân lên đường đến nước Pháp – nơi sinh ra kẻ thù đang chiếm đóng trên đất nước mình

I.2 Cuộc sống thực tiễn và những chân lý rút ra được từ nền văn minh phương Tây

Trong lời kể sau này của Người, khi được hỏi lý do vì sao lại chọn Pháp làm điểm

dừng chân đầu tiên, Người nói rằng: “Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe

ba chữ Pháp là tự do, bình đẳng, bác ái Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp Người Pháp đã nói thế Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài” Từ khi còn nhỏ Nguyễn Ái Quốc đã sớm

được tiếp xúc với nền văn minh và giáo dục của Pháp, đồng nghĩa với việc Người đã sớm mang tư tưởng hiện đại hơn nhân dân ta thời đó Chính vì sự tò mò với ba chữ « Liberté, Égalité, Fraternité » của nước Pháp, người thanh niên Nguyễn Tất Thành mới đặt câu hỏi liệu có ý nghĩa gì ẩn sau ba chữ đó, vì sao người Pháp mang một thông điệp tốt đẹp tới An Nam nhưng người dân An Nam vẫn phải chịu khổ Sự tò

mò thôi thúc khi còn nhỏ, tư chất thông minh với khả năng phân tích và nhìn nhận các cuộc phong trào lần lượt đứng lên và ngã xuống trước đó, và quan trọng nhất là lòng quyết tâm tìm ra con đường giải phóng dân tộc đã khiến Người đưa ra một quyết định hoàn toàn khác biệt, đó là lên đường tới các nước phương Tây để học hỏi Tại nơi đất khách quê người, song song với hoạt động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc không nề hà bất cứ khó khăn nào và làm tất cả công việc mà Người có thể làm được Qua khảo sát sơ bộ, người ta biết được Nguyễn Ái Quốc đã trải qua 20 công việc lớn nhỏ khác nhau: phụ bếp trên tàu Amiral Latouche Tréville (1911); làm vườn ở Saint–Adresse, ngoại ô Havre (1912); thủy thủ, bồi trên tàu biển đi vòng quanh châu Phi (1912); đi ở, làm bồi bàn ở nước Mỹ (1912 -1913); thợ đốt lò, cào tuyết ở Anh (1913); phụ bếp ở khách sạn Drayton Court, Tây London, thợ làm bánh ở khách sạn Carlton, London (cuối năm 1913); thợ ảnh, vẽ đồ cổ mỹ nghệ Trung Hoa, vẽ chao đèn, bán rượu rum đồng thời làm báo và làm tuyên truyền viên

Trang 5

cách mạng ở Pháp (1917 - 1923); phiên dịch, phóng viên, làm báo, bán báo, bán thuốc lá, thầy giáo lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu, Trung Quốc (1924 -1927); làm vườn, bốc thuốc, đi buôn, đi tu ở Thái Lan (1928 - 1929); …

Nếu những ngày còn ở Việt Nam, Người chỉ thấy được sự khổ cực của nhân dân mình thì giờ đây Nguyễn Ái Quốc đã tận mắt chứng kiện sự khổ cực rải rác khắp nơi trên thế giới, tội ác của chủ nghĩa đế quốc thực dân đã reo giắc nỗi sợ hãi và chà đạp

những người yếu thế như thế nào Người nhận ra rằng “ở đâu cũng có người dân

nghèo khổ như xứ sở mình” Không chỉ nhân dân của các nước thuộc địa mới lầm

than cơ cực, ngay chính trên mảnh đất của các cường quốc Người vẫn thấy được sự khổ ải, lưu vong từ những người dân lao động thấp cổ bé họng không có một chút quyền lực, tiền tài nào trong tay Thông qua lăng kính xã hội, từ Đông sang Tây, Người nhận ra rằng khắp nơi trên thế giới đều đang thiếu đi sự bình đẳng và tính độc

lập tự do nghiêm trọng “Ở đâu bọn đế quốc, thực dân cũng tàn bạo, độc ác; ở đâu

những người lao động cũng bị bóc lột, áp bức nặng nề”, đây là nhận định của

Nguyễn Ái Quốc về chủ nghĩa đế quốc thực dân và giai cấp vô sản thời bấy giờ

Người còn khẳng định rằng: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai

giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột”.

Các nhận định này của Nguyễn Ái Quốc cho ta thấy một góc nhìn khác bao quát hơn, toàn diện hơn, chân thực hơn về vấn đề độc lập tự do Đây không còn chỉ là mâu thuẫn giữa các quốc gia, mâu thuẫn giữa người da trắng và người da vàng, da đen mà nó là mâu thuẫn giữa các tầng lớp xã hội, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc thực dân và các nước thuộc địa Đây không phải là vấn đề sắc tộc mà là vấn đề về hình thái xã hội đang diễn ra trên thế giới thời bấy giờ khiến sự đối xử giữa con người với nhau trở nên độc ác và tồi

tệ hơn

Chương II Tìm ra con đường cứu nước và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc II.1 Vạch trần chủ nghĩa thực dân và tìm ra con đường cứu nước

Năm 1919, Hội những người An Nam yêu nước bao gồm lãnh đạo là Phan Bội Châu và Phan Văn Trường, thư ký là Nguyễn Tất Thành và một số nhà yêu nước

Trang 6

khác đã soạn thảo bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” hay còn gọi là “Thỉnh nguyện thư” Ngày 18 tháng 06 năm 1919, bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” gồm 8 điểm, ký tên Nguyễn Ái Quốc, được gửi tới Hội nghị Hòa bình Versailles, đề nghị chính phủ Pháp ân xá tội phạm chính trị, thực hiện các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam Theo như ghi chép, Nguyễn Tất Thành đã đến cung điện Versailles và trao tận tay bản yêu sách tới các nhân vật quan trọng của Quốc hội Pháp và Tổng thống Pháp Ngoài ra, bản yêu sách cũng được in ra 6000 bản và phân phát trên đường phố Paris, thậm chí nó đã được đưa về Việt Nam, lan truyền trên khắp đường phố Hà Nội và được bàn luận trên các phương tiện truyền thông báo chí Bên cạnh đó, Nguyễn Tất Thành còn gửi thư riêng kèm theo bản yêu sách tới các đoàn đại biểu Đồng Minh dự hội nghị nhưng đã không gây được sự chú

ý Tuy không nhận được sự xem xét chính đáng từ cả Quốc hội Pháp lẫn các đoàn đại biểu Đồng Minh nhưng bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” đã gây ra sự kinh ngạc cho các quan chức Pháp và sự bàn tán ở cả chính quốc lẫn nước thuộc địa

Tháng 7 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương

về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lenin được in trên tờ báo L’Humanité (Nhân đạo)

Từ đây, hành trình tìm ra con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc đã được soi sáng và chỉ lối dẫn đường bởi Luận cương của Lênin Trong “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” mà sau này Nguyễn Ái Quốc viết về lần đầu tiên tiếp xúc với Luận cương của Lenin và lòng tin tưởng đối với cách mạng vô sản, Người kể rằng thời đó trong các chi

bộ của Đảng Xã hội, người ta luôn tranh cãi về việc nên đi theo Quốc tế thứ hai, thứ hai rưỡi hay là thứ ba của Lenin Nhưng đối với Người chỉ có một câu hỏi duy nhất, đó

chính là Quốc tế nào đứng về phía nhân dân các nước thuộc địa “Có mấy đồng chí đã

trả lời: Đó là quốc tế thứ ba, chứ không phải Quốc tế thứ hai Và một đồng chí đã đưa

cho tôi đọc “Luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” đăng trên báo

Nhân đạo” , Người viết Giống như một người đang lạc lối bỗng dưng tìm thấy kim chỉ

nam, Người bày tỏ rằng: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi,

sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi

Trang 7

vui mừng đến phát khóc lên Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!" Kể từ đó, Nguyễn Ái

Quốc đã chính thức tìm ra con đường giải phóng dân tộc khỏi tay thực dân Pháp, chấm dứt bế tắc về đường lối cứu nước, đó chính là đi theo chủ nghĩa cộng sản Nếu như bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” mới chỉ dừng lại ở chỗ đề nghị chính phủ Pháp ân xá và cân nhắc tới các vấn đề quyền lợi của người dân An Nam thì vài năm sau, “Bản án chế độ thực dân Pháp” do chính tay Nguyễn Ái Quốc biên soạn đã thẳng tay vạch trần sự giả dối, các luận điệu lừa bịp về “khai hóa văn minh” và hàng loạt các tội ác bóc lột, bạo lực dã man mà thực dân Pháp đã làm với nhân dân các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam Đây là tác phẩm được Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp trong khoảng những năm 1921-1925, đăng tải lần đầu tiên trên báo trên báo Imprékor của Quốc tế Cộng sản và xuất bản lần đầu tiên tại Thư quán lao động, Paris, năm 1925 “Bản án chế độ thực dân Pháp” gồm 12 chương và phụ lục, tác phẩm đã vạch ra sự thực trần trụi về chủ nghĩa thực dân cũng như thức tỉnh thanh niên Việt Nam hãy đứng lên mà chiến đấu Thực dân Pháp dùng mọi thủ đoạn tàn ác

để bắt “dân bản xứ” đóng “thuế máu” cho chính quốc, “phơi thây trên chính trường châu Âu”, chúng đày đọa phụ nữ và trẻ em, chúng thi hành chính sách ngu dân và bóc lột người bản xứ, chúng gây ra tệ nạn tham nhũng trong bộ máy cai trị, v.v Tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” được coi là đỉnh cao của văn chương chính luận cách mạng, nhưng hơn thế nữa nó đã thức tỉnh nhân dân Việt Nam, làm sục sôi

ý chí chiến đấu và thắp sáng lên ngọn lửa cho con đường cách mạng giải phóng dân tộc mình

Nguyễn Ái Quốc không ngừng đưa ra những nhận xét sâu rộng, được đánh giá là

“có một không hai” về chủ nghĩa thực dân: “Nó dùng những người vô sản da trắng

để chinh phục những người vô sản các thuộc địa Sau đó nó lại tung những người

vô sản ở một thuộc địa này đi đánh những người vô sản ở một thuộc địa khác Sau hết, nó dựa vào những người vô sản ở các nước thuộc địa để thống trị những người

vô sản da trắng” Qua lời nhận định của Nguyễn Ái Quốc về chủ nghĩa thực dân

Trang 8

nói chung và thực dân Pháp nói riêng, ta đã thấy được sự giả dối của chúng khi đem luận điệu “khai hóa văn minh” tới cai trị các nước thuộc địa đang ở trong những năm cuối cùng của thời kì phong kiến, khi mà bộ máy chính trị đang dần suy yếu và lòng dân đang hỗn loạn Hơn thế nữa, Người còn chỉ ra chủ nghĩa thực dân sẽ luôn lợi dụng giai cấp vô sản làm tay sai cho mình, mặc cho chúng điều khiển, lợi dụng dù cho đó là giai cấp vô sản ở chính quốc hay ở nước thuộc địa Nguyễn Ái Quốc

khẳng định: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô

sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra”.

Đứng trước các vấn đề ngày một phức tạp và nan giải, từ quyết định sang Pháp dùng đời sống thực tiễn để tìm tòi học hỏi cho tới vạch trần bộ mặt giả dối của chủ nghĩa thực dân và tìm ra con đường cứu nước cuối cùng, Nguyễn Ái Quốc luôn có một cái nhìn cẩn mật, sát sao tới từng gốc rễ của vấn đề Người luôn suy nghĩ và đặt câu hỏi tại sao, phải làm thế nào rồi lại không ngừng tham gia các hoạt động thực tiễn, nghiên cứu sách vở để tìm ra câu trả lời cho mình, cho dân tộc Việt Nam “Bản án chế độ thực dân Pháp” hay những tác phẩm chính luận cách mạng khác mà Người viết sau này như “Đường Kách mệnh”, “Cương lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam” đều là thành quả của tư chất thông minh, sự ham học hỏi với lòng mong muốn được đào sâu tìm hiểu được mài giũa bằng sự chăm chỉ nỗ lực không ngừng nghỉ của Người Có thể nói đối với Nguyễn Ái Quốc, sáng tạo khiến Người nỗ lực, cũng như nỗ lực khiến Người trở nên sáng tạo

II.2 Tinh thần đại đoàn kết dân tộc

"Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: Giống người bóc

lột và giống người bị bóc lột.”

Đây là câu nói của Nguyễn Ái Quốc khi nhìn nhận về mối quan hệ giữa chủ nghĩa thực và nhân dân lao động Giai cấp vô sản chính là giai cấp chiếm phần lớn quần chúng nhân dân đông đảo và cũng là giai cấp bị đối xử bất công nhất Trong suốt

Trang 9

những năm bôn ba ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc đã nhận ra nhân dân lao động các nước hoàn toàn có thể đồng cảm với nhau Người nhận ra sức mạnh đoàn kết tiềm tàng đến từ những kẻ chung cảnh ngộ bị đày đọa đau khổ, và nếu ta biết kết nối lại nguồn sức mạnh ấy thì ta có thể giải phóng chính mình khỏi ách nô lệ Trong bản

“Tuyên ngôn của Hội Liên hiệp thuộc địa” do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo được

thông qua tại Hội đồng Nghiên cứu vấn đề thuộc địa, ngày 24 tháng 05 năm 1922, có

trích đoạn như sau: “Anh em phải làm thế nào để được giải phóng? Vận dụng công

thức của Các Mác chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em Hội Liên hiệp thuộc địa thành lập chính là để giúp đỡ anh em trong công cuộc ấy”. Bản Tuyên ngôn

không chỉ là lời thức tỉnh nhân dân lao động các nước mà còn là lời chấn hưng tinh thần vùng lên chiến đấu chống lại chủ nghĩa thực dân Nguyễn Ái Quốc nhận thức rất rõ rằng giai cấp vô sản tuy đông nhưng yếu thế và hơn thế nữa họ đã sống nhiều năm trong cảnh bị áp bức, đày đọa, thật không dễ dàng gì để họ có thể dũng cảm đứng lên chống lại bọn đế quốc thực dân Nhưng chính Người cũng chỉ ra rằng nếu

ta đoàn kết lại, nếu ta dựa vào nhau mà chiến đấu thì cách mạng vô sản chắc chắn sẽ thành công

Trong phần phụ lục của “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Nguyễn Ái Quốc đã viết một bức thư gửi tới thanh niên Việt Nam như một sự động viên cũng như một lời cảnh tỉnh tới ý thức độc lập tự do và tinh thần chiến đấu của họ

“Ông Đume, nguyên toàn quyền Đông Dương đã viết: “Khi nước Pháp đến Đông Dương, thì dân tộc An Nam đã chín muồi để làm nô lệ” Từ đó đến nay hơn một nửa thế kỷ đã trôi qua Nhiều biến cố phi thường đã làm đảo lộn thế giới Nhật Bản đã đứng vào hàng đầu các cường quốc trên thế giới Trung Hoa đã làm cách mạng Nga đã tống cổ lũ bạo chúa đi để trở thành một nước cộng hoà vô sản Một luồng gió giải phóng mạnh mẽ đã làm cho các dân tộc bị áp bức vùng lên Người Airlan,

Ai Cập, Triều Tiên, Ấn Độ, tất cả những người chiến bại hôm qua và nô lệ hôm nay

đó, đương đấu tranh dũng cảm cho nền độc lập ngày mai của họ Riêng người An Nam, thì vẫn cứ thế: sẵn sàng làm nô lệ.”

Trang 10

“… nếu quả thật tất cả mọi người An Nam đều rạp mình sát đất như bè lũ tay sai ấy của chính quyền thì người An Nam có phải chịu số kiếp nô lệ cũng là đáng đời.”

“Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám Thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh.”

(Trích phụ lục “Bản án chế độ thực dân Pháp – Gửi thanh niên Việt Nam”)

Cùng với những tội ác của thực dân Pháp mà Người vạch trần trong các chương trước đó, bức thư gửi thanh niên Việt Nam nói riêng và “Bản án chế độ thực dân Pháp” nói chung không chỉ là lời tố cáo tới bọn thực dân mà còn là lời kêu gọi nhân dân Việt Nam hãy mau đứng dậy và đoàn kết lại để đánh đuổi giặc ngoại xâm và khôi phục nền hòa bình độc lập tự do cho đất nước

Tới đây, ta nhận ra tính sáng tạo trong công cuộc tìm đường cứu nước của Nguyễn

Ái Quốc mang một yếu tố rất nhân văn, đó là tinh thần đại đoàn kết dân tộc Hơn nữa, để củng cố tinh thần đoàn kết trong quá trình làm cách mạng ta cần phải có một

bộ máy lãnh đạo chính thức, thống nhất, đi theo chủ nghĩa cộng sản để dẫn dắt quần chúng nhân dân Khoảng thời gian đó nước ta có ba tổ chức cộng sản bao gồm: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn Tuy nhiên, sự tồn tại của ba tổ chức này đã gây ra sự công kích lẫn nhau, tranh giành sức ảnh hưởng tới quần chúng và gây chia rẽ bất lợi, về lâu về dài sẽ tạo

ra các phe phái, tranh đấu nắm giữ quyền lực và đi tới một tương lai tất yếu đó chính

là cách mạng vô sản thất bại Nắm bắt được tình huống lục đục nội bộ gây bất lợi cho cuộc cách mạng của toàn dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất tại một địa điểm trên bán đảo Cửu Long, gần Hương Cảng, Trung Quốc Sau khi đạt được sự thống nhất, vào ngày 03/02/1930, cả ba tổ chức cộng sản nhất trí hợp nhất thành một Đảng Cộng sản duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp lãnh đạo cách mạng giành lại độc lập tự do Tính sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc không chỉ nằm ở tư duy tiến bộ, đường lối khác biệt nữa mà còn ở suy nghĩ gắn bó giữa lãnh đạo và nhân dân, lấy đoàn kết dân tộc làm cốt lõi để tiến hành cách mạng Nhờ vào đường lối chủ trương đúng đắn, coi trọng nhân dân, bên cạnh xác định con đường chính xác để hành động còn luôn vận động tinh thần các

Ngày đăng: 22/05/2022, 16:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w