QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP CẤM KẾT HÔN……… 2.1.. Khái niệm kết hôn Nhìn ở góc độ khái niệm, kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾT HÔN VÀ CÁC
HÔN……… 1
1.1 Một số khái niệm cơ bản………
………1
1.1.1 Khái niệm kết hôn………
………1
1.1.2 Khái niệm điều kiện cấm kết hôn………
1.1.2.1 Khái niệm điều kiện cho phép kết hôn………
1.1.2.2 Khái niệm điều kiện cấm kết hôn……….
1.2 Ý nghĩa của của quy định về các trường hợp cấm kết hôn……….
CHƯƠNG II QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP CẤM KẾT HÔN………
2.1 Cấm người đang có vợ hoặc có chồng kết hôn………
2.2 Cấm người có cùng dòng máu về trực hệ, những người có họ trong phạm vi ba đời kết hôn………
2.3 Cấm cha, mẹ với con nuôi; những người từng là cha mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rễ,
Trang 3…
2.4 Các trường hợp cấm kết hôn
khác………
2.4.1 Cấm kết hôn giả tạo
2.4.2 Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO LỜI NÓI
ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình Việt Nam, cấm kết hôn làvấn đề được luật hóa từ rất sớm ngay- từ đầu buổi lập quốc Tuy nhiên, tùytheo điều kiện kinh tế xã hội phù hợp ý chí nhà nước, các trường hợp cấmkết hôn luôn thay đổi qua các thời kì
Trong xã hội hiện đại, bàn đến những tác động, điều chỉnh của pháp luậthiện hành đối với hành vi cấm kết hôn, phải kể đến Luật Hôn nhân và giađình năm 2000 Có thể nói kể từ khi ban hành, Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 2000 đã tạo được hành lang pháp lý khá an toan về đảm bảo quyền kếthôn của con người Tuy nhiên, từ thực tiễn cuộc sống cho thấy, việc áp dụngpháp luật
Trang 4thực định về cấm kết hôn theo bộ luật trên đã bộc lộ nhiều vướng mắc , bấtcập, như là cơ chế cấm kết hôn chưa được dự liệu cụ thể để điều chỉnh kịpthời hôn nhân đã phát sinh Đặt biệt là các trường hợp cấm kết hôn và hônnhân giữa những người đồng tính chưa được quy định rõ ràng Một số quyđịnh về cấm kết hôn đã không còn phù hợp với thực trạng cuộc sống hônnhân hiện hành của con người Những trường hợp vi phạm kết hôn diễn raphổ biến, nhất là ở những vùng nông thôn, vùng sâu , vùng xa cho thấy LuậtHôn nhân và gia đình năm 2000 chưa thực sự đi vào cuộc sống.
Qua thời gian dài thực thi những bất cập nêu trên Ngày 19/6/2014, LuậtHôn nhân và gia đình sửa đổi chính thức được Quốc hội Thông qua và cóhiệu lực từ ngày 1/1/2015, qua những bổ sung, đến nay, Bộ Luật đã đượcthực thi rộng rãi, trở thành Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành Nhưng,những thay đổi này đã giải quyết được những bất cập, vướng mắt và ảnhhưởng đến nhận thức, hiểu biết để thực thi các quy định của bộ luật trongcuộc sống hay chưa vẫn là một câu hỏi cần lời giải đáp
Từ thực tế đó, với mong muốn pháp luật được thực thi, hoàn thiện nắm rõhơn nữa những quy định của pháp luật về cấm kết hôn Tôi (tác giả) chọn đề
tài “Các trường hợp cấm kết hôn
theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành” để nghiên
cứu
Trang 5CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾT HÔN VÀ CÁC TRƯỜNG
HỢP CẤM KẾT HÔN 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm kết hôn
Nhìn ở góc độ khái niệm, kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ
vợ chồng với nhau theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng
ký kết hôn1
Dưới góc độ pháp lý Kết hôn là một trong các sự kiện pháp lý làm hìnhthành quan hệ hôn nhân, làm phát sinh quan hệ vợ chồng, bắt đầu thời kỳ hôn nhânvới các quan hệ về nhân thân và quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái,giữa các thành viên khác trong gia đình với nhau Việc quy định kết hôn cùng với cácđiều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn nhằm khẳng định tính hợp pháp của quan hệ hônnhân dưới góc độ pháp luật Theo đó, quan hệ vợ chồng chỉ phát sinh sau khi nam,
nữ đáp ứng được các điều kiện kết hôn và tiến hành đăng ký kết hôn theo đúng quyđịnh
1.1.2.Khái niệm điều kiện kết hôn
1.1.2.1.Khái niệm điều kiện cho phép kết hôn
Theo từ điển Luật học thì “ Điều kiện kết hôn là điều kiện do pháp luật quy định mà các bên nam, nữ có hoặc không có điều kiện đó mới được kết hôn Là những đòi hỏi về mặt pháp lý đối với nam nữ mà chỉ khi thỏa mãn những đòi hỏi đó thì nam nữ mới có quyền kết hôn” 2 Tác giả Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng “ Điều kiện kết hôn là những điều kiện về mặt xã hội, do pháp luật quy định,
1 Khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đinh năm 2000 và khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi năm 2014
2 Từ điển Luật học NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, năm 2016, trang 252
Trang 6theo đó pháp luật thừa nhận việc kết hôn của nam, nữ ” 1 Trong Giáo trình
Luật Hôn nhân và gia đinh Trường Đại Học luật Thành Phố Hồ Chí Minh có
thể hiện “ Điều kiện kết hôn là những quy định có tinh chất bắt buộc
do nhà nước quy định trong các văn bản pháp luật mà nam nữ phải tuân thủ khi kết hôn” 2
Như vậy, một cách tổng quan, điều kiện kết hôn là những quy địnhmang tính pháp lý bắt buộc mà nhà nước đặt ra cho hai bên nam nữ khi xáclập quan hệ vựo chông phải tuân thủ
Từ khái niệm về điều kiện kết hôn có thể thấy, điều kiện kết hôn cónhững đặc điểm sau:
Thứ nhất, nó là những quy định bắt buộc mang tính chất cưỡng chế
Nhà nước bởi những điều kiện này được quy định trong các văn bản quyphạm pháp luật buộc người muốn đăng kí kết hôn phải đảm bảo, phải tuânthủ
Thứ hai, điều kiện kết hôn mang ý chí các biệt cho từng quốc gia, phụ
thuộc vào ý chí giai cấp thống trị và thay đổi theo thời gian, có thể khác nhau
ở mỗi vùng miền của một quốc gia Phụ thuộc vào ý chí mong muốn, địnhhướng của giai cấp cầm quyền của quốc gia đó phù hợp hợp với văn hóa, xãhội, phong tục, tập quán
Ví dụ: Theo khoản 1 điều 8 luật hôn nhân gia đinh sửa đổi năm 2014 ởViệt Nam quy định nam từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi thì được phép kết hôn
1 Trích “Thuật ngữ pháp lý”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, năm
2011
2 Giáo trinh Luậ t hôn nhân và gia đinh Trườ ng Đạ i họ c Luậ t Thành phôố HCM, NXB Hôồng Đứ c, năm 2012
Trang 7Thứ ba, quy phạm pháp luật được dự liệu để điều chỉnh hôn nhân ở
giai đoạn đầu tiên- kết hôn
Thứ tư, điều kiện về độ tuổi, nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên
thì được phép kết hôn và được xác định theo ngày, tháng, năm sinh Trường hợpkhông xác định được ngày sinh, tháng sinh thì thực hiện như sau:
- Nếu xác định được năm sinh nhưng không xác định được tháng sinh thì tháng sinhđược xác định là tháng một của năm sinh hdkdkfjjffjjnfjvjfvfgfkigjgimmbbmgkkj
- Nếu xác định được năm sinh, tháng sinh nhưng không xác định được ngày sinh thì
ngày sinh được xác định là ngày mùng một của tháng sinh hhbhhhhkkkk - Nếu nam,
nữ kết hôn khi chưa đủ tuổi thì được coi là tảo hôn và tùy vào mức độ, tính chất của
sự vi phạm mà có thể bị xử lý bằng các chế tài phù hợp
- Việc quy định độ tuổi kết hôn nhằm đảm bảo sự phát triển hoàn thiện về tâm sinh
lý, sức khỏe, khả năng lao động của con người, có đủ điều kiện để thực hiện tốt trách nhiệm
vợ chồng, cha mẹ, thực hiện nghĩa vụ và quyền theo quy định của pháp luật
Thứ năm, điều kiện về sự thể hiện ý chí tự nguyện của hai bên nam nữ Việc
kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, thể hiện sự mong muốn của các bêntrong việc xác lập quan hệ hôn nhân, xây dựng gia đình Sự tự nguyện thể hiện thôngqua các hành vi: cùng nhất trí trong việc xác lập quan hệ hôn nhân, hoàn thanh cácthủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Nhà nước nghiêm cấm các hành
vi gây ảnh hưởng đến sự tự nguyện kết hôn như cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn,cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn
Thứ sáu, điều kiện về nhận thức Nam, nữ khi kết hôn phải là người không
mất năng lực hành vi dân sự Người mất năng lực hành vi dân sự là người do bị bệnhtâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thìtheo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữuquan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sựtrên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần Người mất năng lực hành vi
Trang 8dân sự không được kết hôn vì họ không thể hiện được ý chí khi tham gia kết hôn.Theo luật định, nếu cơ quan hộ tịch phát hiện người tham gia kết hôn có dấu hiệumất năng lực hành vi dân sự thì có quyền yêu cầu người đó chứng minh là họ mấtnăng lực hành vi dân sự, nếu một bên nam, nữ hoặc cả hai bên mất năng lực hành vidân sự thì cơ quan hộ tịch từ chối việc đăng ký kết hôn Điều này nhằm thực hiệnquyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng, trách nhiệm của gia đình đối với xã hội, sự pháttriển lành mạnh của con cái.
1.1.2.1.Khái niệm điều kiện cấm kết hôn jkjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjhgggggggggggggggg
Điều kiện cấm kết hôn là điều kiện do Nhà nước quy định mà nếu thuộc mộttrong các trường hợp cấm kết hôn thì không được phép kết hôn Nam, nữ khi kết hônphải không thuộc các trường hợp cấm kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân vàgia đình Theo khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì cáctrường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a,b, c,d khoản 2 Điều 5của Luật này,gồm:
“ a)Kết hôn giả tạo
b)Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn:
c)Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.
d)Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu
về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.”
1.2 Ý nghĩa của của quy định về các trường hợp cấm kết hôn
Trang 9Nhằm thực hiện tốt các quy định của pháp luật theo Bộ luật Hôn nhân
và gia đình hiện hành, việc nắm rõ, nhận thức đúng đắn các giá trị ý nghĩacủa bộ luật là vấn đề cơ bản và cấp thiết Do đó, các trường hợp cấm kếthôn theo pháp luật có các ý nghĩa sau:
Thứ nhất, các trường hợp cấm kết hôn là cơ sở bảo vệ chế độ hôn
nhân và gia
đình Việt Nam Chế độ hôn nhân Việt Nam là chế độ một vợ một chồng, vợchồng bình đẳng cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đinh tiến bộ Vì trongsuốt một thời gian dài của lịch sử Việt Nam và trên thế giới, chế độ đa thê đãkhiến thân phận người phụ nữ và quyền lợi của học không được bảo vệ.Ngoài ra, những quy định này củng cố thêm hạng phúc gia đình, xây dựnghạnh phúc gia đình từ đó làm nền tảng phát triển xã hội
Thứ hai, các trường hợp cấm kết hôn là cơ chế bảo vệ thuần phong,
mỹ tục, luân
thường đạo lý xã hội Tại “Lời nói đầu” của Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000, các luật gia đã khẳng định:” Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôinuôi dưỡng con người là môi trường quan trọng hình thành và giáo dụcnhân cách Trong gia đinh thứ bậc phải được đảm bảo ông bà cha mẹ gópphần giao dục, nuôi dưỡng, yêu thương con châu Ngược lại, con cháu phảikính trọng, yêu thương ông bà, cha mẹ Dưới truyền thống tốt đẹp đó, Phápluật hôn nhân và gia đinh Việt Nam không cho phép việc kết hôn giữa nhữngngười có dòng máu về trực hệ, những người có họ trong phạm vi ba đời, ;giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với connuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của
vợ, mẹ kế với con riêng của chồng kết hôn với nhau
Trang 10Thứ ba, các trường hợp cấm kết hôn dung hòa giữa ý chí của giai cấp
và quyền lợi của xã hội, các trường hợp cấm kết hôn được dự liệu, đảmbảo, bảo vệ theo đúng ý chí giai cấp cầm quyền Tuy nhiên, trong một xã hộicông bằng dân chủ và văn minh, nhà nước cần đảm bảo ý chí giai cấp càmquyền và lợi ích chung của xã hội Khi đó, những quy định cấm kết hôn của
bộ luật này giữ vai trò tối quan trọng, thiết yếu của cả đôi bên
CHƯƠNG II QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP CẤM KẾT HÔN
2.1 Cấm người đang có vợ hoặc có chồng kết hôn
Từ xa xưa, tuy không có tư liệu lịch sử hay cổ thư nào được lưu lại nhưng vẫn
có thể thấy các triều đại lịch sử của ta từ rất lâu đã tồn tại chế đồ hôn nhân một vợ,một chồng, từ mối duyên Mỵ Nương- Sơn Tinh hay Tiên Dung- Chử Đồng Tử.Đếnthời Bắc thuộc các triều đại phong kiến do chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa,quanniệm Nho giáo Thêm vào đó, nền văn minh nông nghiệp cần rất nhiều sức người laođộng, nên một người nam có thể kết hôn với nhiều người nữ Gia đinh đông thêthiếp, con cái được xem là đức phúc, sung túc Khi Pháp sang xâm lược nước ta,chúng gọi là “khai sang” cho đất An Nam u tối, tuy nhiên, chế độ đa thê này vẫn còn
Chính quyền Việt Nam ngay từ buổi đầu thanh lập đã đặt mục tiêu xóa bỏ chế độ
đa thê Từ sắc lệnh 97/SL (22/5/1950) đến sắc lệnh 159/SL (17/11/1950), Luật hônnhân gia đình năm 1959, 1986 và 2000 đều khẳng định nguyên tắc cơ bản trong chế
độ hôn nhân gia đình Việt Nam là “ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng,
vợ chồng binh đẳng” 1
Vì thế, tại điểm c Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định
“cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng
1 Xem khoản 1 điều 10 luật hôn nhân gia đinh năm 2000
Trang 11với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”.Như vậy, so với Luật Hôn nhân và
gia đinh năm 2000, Luật hôn nhân gia đinh sửa đổi năm 2014 đã tổng hợp các quyđịnh trước đó để mở rộng phạm vi cấm kết hôn cụ thể hơn Theo đó, người đang có
vợ có chồng không chỉ bị cấm kết hôn mà còn cấm chung sống như vợ chồng vớingười khác, và người chưa có vợ, chồng chung sống hay kết hôn với
người đã có vợ, chồng
Tại Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phánTòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2000, có quy định: “Nhà nước nghiêm cấm những người đang có vợ,
có chồng mà kết hôn với người khác và tùy trường hợp sẽ xử lý theo hướng ra quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc không hủy” 1
Điểm b, c Khoản 1 Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày15/7/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dânsự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, quy định: Phạt tiền từ 3.000.000 đồngđến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: Đang có vợ hoặc đang cóchồng mà chung sống như vợ chồng với người khác; chưa có vợ hoặc chưa
có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang cóchồng hoặc đang có vợ
Ngoài ra, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 182 Bộ luật Hình sự năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: Người nào đang có vợ, cóchồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặcngười chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợchồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ mà làm cho quan
hệ hôn nhân của một hoặc hai
1 Xử lí kết hôn trái pháp luật lưu ý điểm d3 mục 2 nghị quyết 2/2000/NQ-HĐTP 23/12/2000 – TAND tối cao.
Trang 12bên dẫn đến ly hôn hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này
mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm
2.2 Cấm người có cùng dòng máu về trực hệ, những người có họ trong phạm vi ba đời kết hôn