Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo Luật hình sự Việt Nam, nêu ra một số lý luận và thực tiễn xét xử, từ đó luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện những vướng mắc khi áp dụng loại tội này trong thực tế nhằm nâng cao chất lượng xét xử loại tội này, góp phần đấu tranh có hiệu quả hơn trong việc phòng ngừa và chống tội phạm về tham nhũng trong tình hình hiện nay.
Trang 1THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TẠ QUỐC TUẤN
TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tất Viễn
HÀ NỘI
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiờn cứu khoa học của riờng tôi Cỏc số liệu, ví
dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xỏc và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khỏc
Tác giả luận văn
Tạ Quốc Tuấn
Trang 4Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TỘI LỢI 8
DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ
1.1 Quy định về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi 8
hành công vụ từ năm 1945 đến trước khi có Bộ luật hình sự
năm 1985
1.2 Quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 về tội lợi dụng chức 11
vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
1.3 Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ 14
trong Bộ luật hình sự năm 1999 và Luật sửa đổi, bổ sung Bộ
luật hình sự năm 2009
1.3.1 Khái niệm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành 17
công vụ
1.3.2 Khung hình phạt của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong 29
khi thi hành công vụ
1.4 Dấu hiệu pháp lý hình sự của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn 29
trong khi thi hành công vụ
1.5.1 Phạm tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công 47
vụ thuộc khoản 1 Điều 281
Trang 51.5.2 Phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công 48
vụ thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 281 Bộ
luật hình sự
1.5.3 Phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công 61
vụ thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 281 Bộ
luật hình sự
1.5.4 Hình phạt bổ sung của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong 65
khi thi hành công vụ
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT 69
HÌNH SỰ VỀ TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ QUYỀN HẠN TRONG KHI THI HÀNH CÔNG ỤV TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Tình hình tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành 69
công vụ từ năm 2010 đến 2014
2.2 Áp dụng hình phạt đối với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn 71
trong khi thi hành công vụ
2.2.2 Áp dụng hình phạt bổ sung "cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định" 722.2.3 Việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 74
Điều 46 Bộ luật hình sự 1999 đối với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
2.3 Những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng tội lợi dụng chức 75
vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
Chương 3: HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ 80
VỀ TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1 Yêu cầu hoàn thiện các quy định của bộ luật hình sự việt nam 80
năm 1999 về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi
hành công vụ
Trang 63.2 Đề xuất sửa đổi, bổ sung 833.3 Một số kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các 84
quy định của Bộ luật hình sự việt nam năm 1999 về tội lợi
dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
3.3.1 Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về tội lợi 84
dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
3.3.2 Kiến nghị ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng Chương XXI 84
Bộ luật hình sự 1999
3.3.3 Tăng cường năng lực, trình đ ộ chuyên môn và ý thức pháp 86
luật, trách nhiệm của đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên,
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân để đảm bảo việc giải quyết
vụ án được thực hiện đúng quy định của pháp luật
3.3.4 Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và đẩy mạnh công 87
tác phê bình, tự phê bình
3.3.7 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phối hợp giữa các cơ quan 88
nhà nước, nhất là các cơ quan bảo vệ pháp luật, đấu tranh kiên
quyết và tích cực đối với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn
3.3.8 Tập trung, giải quyết dứt điểm các vụ án đã được phát hiện và 89
quy định việc xử lý trách nhiệm đối với cán bộ lãnh đạo,
đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tội phạm
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật hình sự
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xãhội của đất nước tiếp tục được giữ vững, nền kinh tế tiếp tục phát triển đã đạtđược những thành tựu to lớn Tuy nhiên tình hình tội phạm vẫn diễn biếnphức tạp và chưa có chiều hướng giảm, các tội phạm nghiêm trọng, rấtnghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng còn xảy ra nhiều Trong đó nổi lên làtội phạm về tham nhũng đã gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, chính trị củađất nước, làm giảm lòng tin trong nhân dân [25, tr 4] Tình hình tội phạm cónhiều diễn biến phức tạp, xảy ra ở nhiều ngành, cấp, lĩnh vực khác nhau.Nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra và nghiêm trọng hơn, loại tội nàycòn xảy ra ngay tại các cơ quan, tổ chức của Nhà nước Có thể nói tội phạmtham nhũng là vấn đề được Nhà nước đặc biệt quan tâm trong giai đoạn hiệnnay
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ từ 20 - 25/01/1994 khóaVII của Đảng chỉ rõ tệ quan liêu, tham nhũng là một trong bốn nguy cơ củacách mạng nước ta Đặt vấn đề như thế có nghĩa tội tham nhũng nói chungkhông chỉ là một tệ nạn xã hội thông thường, chỉ tác hại thuần túy về mặt kinh
tế mà đã trở thành vấn đề chính trị pháp lý, là nguy cơ uy hiếp sự tồn vongcủa chế độ
Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều chỉ thị, nghị quyết, đã tiến hànhnhiều cuộc vận động lớn và được đông đảo quần chúng đồng tình ủng hộ, tuynhiên đến nay loại tội phạm này không những không bị đẩy lùi, mà có lúc, cónơi còn phát triển nghiêm trọng hơn
Đại hội IX của Đảng tiếp tục xác định tham nhũng là một trong cácnguy cơ lớn , đó là: Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị,đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm
Trang 9trọng Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trongnhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ đe dọa sự sống còn của chế độ.
Trang 10Đấu tranh chống tội phạm tham nhũng nói chung đã và đang là mộtyêu cầu cấp bách nhằm làm trong sạch bộ máy của Đảng, Nhà nước, nâng caovai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước, tăng cường nềndân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN), củng cố mối quan hệ giữa Đảng, Nhànước với nhân dân, tăng cường kỷ cương phép nước.
Trong nhóm tội phạm tham nhũng có thể thấy tội lợi dụng chức vụ,quyền hạn trong khi thi hành công ụv là loại tội trong những năm gần đâyđang có chiều hướng tăng lên cả về quy mô và tính chất, nổi lên nhiều trongcác lĩnh vực về quản lý đất đai thậm chí cả lĩnh vực y tế, giáo dục
Thực tiễn những năm gần đây cho thấy do đặc điểm của nền kinh tếthị trường, sự quản lý của Nhà nước và tác động nhiều mặt của tình hình kinh
tế xã hội nên tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ diễnbiến khá phức tạp Nhiều vụ án đã được phát hiện, điều tra nhưng do tính chấtphức tạp của vụ án và đặc biệt còn thiếu những văn bản hướng dẫn, dẫn đến
có những quan điểm, nhận thức khác nhau về pháp luật giữa các cơ quan tiếnhành tố tụng, nên nhiều vụ án để kéo dài hoặc có đường lối xử lý khác nhau,dẫn đến tình trạng pháp luật không được áp dụng thống nhất
Bộ luật hình sự (BLHS) đã được Quốc hội khóa X thông qua ạt i kỳhọp thứ 6 ngày 21 tháng 12 năm 1999, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7năm 2000 trong đó quy ịđnh tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thihành công vụ đầy đủ hơn, chi tiết hơn, phản ánh được thực trạng công tác đấutranh phòng chống loại tội này trong thời gian qua, giúp cho việc điều tra, truy
tố, xét xử được thuận lợi hơn
Trước khi có BLHS 1999 thì những quy định của BLHS 1985 đối vớitội này còn nhiều điểm chưa được hướng dẫn; thực tiễn cho thấy nhiều trườnghợp phạm tội, các cơ quan tiến hành tố tụng gặp không ít khó khăn trong việc
áp dụng BLHS để truy cứu đối với người phạm tội BLHS 1999 quy địnhthêm nhiều điểm mới hơn, nếu không được hiểu thống nhất sẽ càng khó khăn
Trang 11hơn trong việc áp dụng BLHS khi giải quyết các vụ án Mặt khác, đến nay tộilợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ quy định tại ChươngXXI chưa được các cơ quan có thẩm quyền giải thích hoặc hướng dẫn mộtcách toàn diện và đầy đủ, nên việc áp dụng qu y định của BLHS đối với tộinày còn hạn chế.
Nghị quyết 37/2012 ngày 23/11/2012 của Quốc hội nêu:
Công tác phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm,phòng, chống tham nhũng, công tác đi ều tra, truy tố, xét xử và thihành án còn có những hạn chế Tình hình vi phạm pháp luật và tộiphạm tham nhũng còn diễn biến phức tạp, trên một số lĩnh vực còn
có xu hướng tăng, nghiêm trọng hơn cả về quy mô, tính chất Côngtác phát hiện, xử lý vi phạm pháp luật và tội phạm tham nhũng hiệuquả chưa cao, hiệu lực răn đe, phòng ngừa thấp [37, Điều 1].Năng lực và trách nhiệm của một bộ phận cán bộ tư pháp còn y ếu,nhiều trường hợp tiêu cực, sa sút phẩm chất đạo đức
Bộ luật hình sự năm 1999 quy định nhóm tội về tham nhũngtrong chương các tội về chức vụ Trong đó tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạntrong
khi thi hành công ụv " quy định tại Điều 281 là một trong những loại tộithường gặp khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết Vì vậy việcnghiên cứu về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụtheo Luật hình sự Việt Nam là một yêu cầu khách quan, cấp thiết
Ngoài ra, trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện công cuộc cải cách
tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về
"Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới"; Nghị quyết
số 48-NQ/TW ngày 25/4/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược xây dựng vàhoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm2020"; và Nghị quyết số 49 -NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về
"Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" với nội dung "sớm hoàn thiện hệ
Trang 12thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp phù hợp mục tiêu của chiếnlược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật " [12] Do đó, việc nghiêncứu đề tài này càng làm sáng tỏ về mặt khoa học, góp phần giải quyết một sốvướng mắc, khó khăn khi áp dụng loại tội này trong thực tế.
Đó là lý do để tôi lựa chọn đề tài " tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo Luật hình sự Việt Nam (trên c ơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)" làm luận văn thạc sĩ Luật học.
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ nằm ở Mục A Chương XXI phần các tội phạm về tham nhũng Qua tìm hiểu, nghiên cứu cho thấy, ở nước ta đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về các tội phạm tham nhũng nói chung trong đó phần nào đã đề cập đến tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công ụv như sách giáo trình Luật hình sự Việt Nam, sách Giáo trình của trường Đại học Luật
Hà Nội, Bình luận khoa học hình sự của tác giả Đinh Văn Quế; về các bài viết trên tạp chí kiểm sát của Nguyễn Duy Giảng (2006); về luận văn tiến sĩ về các tội phạm tham nhũng theo pháp luật hình sự Việt Nam của Trần Văn Đạt (2012), Tình hình nguyên nhân và các biện pháp đấu tranh phòng, chống các tội phạm tham nhũng của Trần Công Phàn (2004)
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khảo sát trên đây cho thấy, ở nước ta
đã có nhiều công trình nghiên cứu về tội phạm tham nhũng nói chung, tuynhiên ở cấp độ luận văn thạc sĩ, tiến sĩ thì chưa có công trình nghiên cứu cụthể nào về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
Các công trình nghiên cứu trước đây thường chỉ đi vào phân tích, baoquát tổng thể toàn bộ nhóm tội về tham nhũng mà không đi sâu, phân tích cụthể tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công ụv, các nhà
nghiên cứu thường tập trung nhiều vào các tội có tính nghiêm trọng hơn vàthường xuyên xảy ra hơn trong thực tế
Trang 13Có thể nói, đây là lần đầu tiên đề tài nghiên cứu về tội lợi dụng chức
vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ được nghiên cứu dưới góc độ lýluận chung về Nhà nước và pháp luật Do chưa có đề tài nghiên cứu cụ thểnào về tội này nên chưa có sự nghiên cứu đầy đủ, toàn diện việc áp dụng phápluật của tội này trong thực tiễn, qua đó chưa đưa ra được những giải pháp để
áp dụng thống nhất pháp luật Chính vì vậy trong thực tiễn áp dụng pháp luật
còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc vì vậy việc nghiên cứu đề tài " Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)" là
đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về tộilợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo Luật hình sựViệt Nam, nêu ra một số lý luận và thực tiễn xét xử, từ đó luận văn đưa ranhững giải pháp nhằm hoàn thiện những vướng mắc khi áp dụng loại tội nàytrong thực tế nhằm nâng cao chất lượng xét xử loại tội này, góp phần đấu tranh có hệi u quả hơn trong việc phòng ngừa và chống tội phạm về tham nhũng trong tình hình hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ làm rõmột số vấn đề về lý luận và thực tiễn xét xử của tội lợi dụng chức vụ, quyềnhạn trong khi thi hành công vụ; qua đó đưa ra những giải pháp nhằm hoànthiện, khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn xét xử loại tộinày
Trang 14giải pháp, hướng hoàn thiện cụ thể, có tính khả thi nhằm đảm bảo việc xét xửđối với loại tội này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Luận văn có tham khảo những công trình nghiên cứu của các giáo sư,tiến sĩ, thạc sĩ, các bài viết trên tạp chí kiểm sát, báo khoa học pháp luật
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễnxét xử của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ trong
05 năm (2010 - 2014) trên địa bàn thành phố Hà Nội
4 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duyvật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh
về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựngNhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp đượcthể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết số08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49 -NQ/TW ngày 26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các phương pháp cụthể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích và tổnghợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương phápquy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thứckhoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứutrong luận văn
5 Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Luận văn đóng góp một số vấn đề về lý luận và thực tiễn xét xử tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, quy định tại Điều 281 BLHS, qua đó đề ra hướng hoàn thiện, để áp dụng thống nhất pháp luật về loại tội này
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ íchdành cho các nhà lập pháp, các nhà nghiên cứu, cá n bộ giảng dạy pháp luật,