SKKN Một số giải pháp đổi mới quản lý công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở trường THPT Hậu Lộc 4 1 1 Mở đầu 1 1 Li do chọn đề tài Giáo dục được coi là chìa khoá của sự thành công và sự phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững Do vậy cải cách, đổi mới nền giáo dục là một tất yếu lịch sử, một quy luật của sự vận động và phát triển kinh tế xã hội để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Đặc biệt là thực hiện Nghị quyết 29 NQ/TW hội nghị lần thứ 8[.]
Trang 11 Mở đầu
1.1 Li do chọn đề tài
Giáo dục được coi là chìa khoá của sự thành công và sự phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững Do vậy cải cách, đổi mới nền giáo dục là một tất yếu lịch
sử, một quy luật của sự vận động và phát triển kinh tế- xã hội để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Đặc biệt là thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, thực hiện chương trình hành động của Chính phủ, của ngành Giáo dục về
“Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”; đổi mới phương pháp giáo dục
và đổi mới đánh giá thi cử Trong những nội dung đó, đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh giữ vai trò đặc biệt quan trọng
Thực tiễn dạy học và giáo dục hiện nay ở nước ta, việc kiểm tra đánh giá KQHT của học sinh vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế đó là: kiểm tra đánh giá chưa toàn diện, không đúng, không đủ mục tiêu môn học, chưa chú trọng đến sự cân đối hợp lí kiểm tra đánh giá ba phương diện mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ; kiểm tra đánh giá chú trọng kiểm tra tri thức tái hiện mà chưa coi trọng việc phát huy tính sáng tạo và năng lực thực hành của học sinh; không căn cứ theo chuẩn kiến thức, kĩ năng Vì vậy, để nâng cao chất lượng dạy và học hiện nay, ngoài việc đổi mới về mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học, việc đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh là một vấn đề hết sức cấp thiết và đặc biệt là để thực
hiện tôt quá trình đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông đến
năm 2020 thì cần thiết phải đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục
Với những lý do trên, việc chọn nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp đổi mới
quản lý công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở trường THPT Hậu Lộc 4” nhằm đề xuất những giải pháp khả thi trong công tác quản lý hoạt động đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THPT Hậu Lộc 4 nói riêng, các trường THPT nói chung
1 2 Mục đích nghiên cứu.
Đề xuất một số giải pháp đổi mới quản lý đối với hoạt động đổi kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở trường THPT Hậu Lộc 4 huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Các giải pháp quản lý hiệu quả hoạt động đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở các trường THPT Hậu Lộc 4 huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Nhằm xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu, bao gồm các phương
pháp: phân tích - tổng hợp - nghiên cứu các văn bản pháp quy, các tài liệu khoa học
và khái quát hóa hệ thống lý luận có liên quan đến đề tài
1.5 Những điểm mới của SKKN
Trang 2- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập và công tác quản lý hoạt động đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập học sinh
- Phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động đổi mới kiểm tra đánh giá KQHT và nêu được nguyên nhân thành công cũng như những hạn chế cần khắc phục
- Xây dựng một số giải pháp quản lý hoạt động đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở các trường THPT, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục trong nhà trường, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay
- Sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý và giáo viên ở các trường THPT trong việc đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lý luận của sang kiên kinh nghiệm.
- Bản chất đổi mới quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT.
+ Quản lí giáo dục gồm hai mặt lớn là quản lý nhà nước về giáo dục và quản lý nhà trường, các cơ sở giáo dục khác Quản lý giáo dục là việc thực hiện và giám sát những chính sách giáo dục, khách thể quản lí và mục tiêu quản lí Bốn yếu tố này tạo thành sơ đồ sau:
Chủ thể
quản lý
Đối tượng quản lý
Khách thể quản lý
Mục tiêu quản lí
+ Quá trình dạy học là một quá trình xã hội gắn liền với hoạt động của con người Bản chất của quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của hoạt động dạy và hoạt động học Sự tương tác giữa dạy và học mang tính chất cộng tác, trong
đó dạy giữ vai trò chủ đạo Các hoạt động này có mục tiêu rõ ràng, có nội dung
nhất định, do các chủ thể thực hiện - đó là giáo viên và học sinh, với những phương
pháp và phương tiện nhất định Sau một chu trình vận động, các hoạt động dạy và học phải đạt tới những kết quả mong muốn Phân tích mối quan hệ giữa hoạt động
dạy và hoạt động học, chúng ta có thể đi đến kết luận: Hoạt động học, trong đó có hoạt động nhận thức của học sinh có vai trò quyết định kết quả dạy học Để hoạt
động học có kết quả thì trước tiên chúng ta phải coi trọng vai trò người giáo viên,
đồng thời thông qua hoạt động kiểm tra, đánh giá bảo đảm mối liên hệ ngược
thường xuyên, bền vững
- Yêu cầu đổi mới quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập:
+ Đảm bảo đánh giá được kết quả học tập của học sinh căn cứ trên mục tiêu giáo dục của cấp học, bậc học, lớp học thực hiện đúng mục tiêu, chuẩn kiến thức,
kĩ năng trong chương trình giáo dục phổ thông
+ Bảo đảm đánh giá thực sự là động lực thúc đẩy quá trình học tập và rèn luyện của học sinh, từ đó không ngừng cải tiến và hoàn thiện các phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy học
Trang 3- Nhiệm vụ quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập:
+ Đối với công tác quản lý: kết quả kiểm tra, đánh giá là căn cứ để cán bộ
QLGD thực hiện công tác chỉ đạo, điều hành, tổ chức toàn bộ quá trình dạy học Cụ thể là quản lý kế hoạch, chương trình, nội dung dạy học, quản lý chất lượng dạy và học
+ Đối với giáo viên: kết quả KTĐG là điều kiện cơ bản chi phối việc thực hiện
kế hoạch, chương trình và nội dung dạy học; đặc biệt là điều chỉnh, cải tiến phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giờ dạy theo đúng mục tiêu dạy học và nguyên
lí giáo dục
+ Đối với học sinh: kết quả kiểm tra, đánh giá là cơ sở quan trọng để mỗi học
sinh tự nhận thức về khả năng học tập và trình độ kiến thức, trên cơ sở đó, có những điều chỉnh cần thiết về tinh thần thái độ học tập cũng như phương pháp học tập
- Nội dung đổi mới quản lí kiểm tra, đánh giá kết quả học tập:
+ Trong quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá có vai trò rất quan trọng, nó vừa
là một nhân tố cấu thành của quá trình dạy học, vừa là một biện pháp thu thông tin phản hồi, từ đó điều chỉnh cả quá trình dạy học cho phù hợp với mục tiêu, góp phần phát triển trí tuệ, rèn luyện, củng cố hệ thống tri thức và các phương pháp học tập, kích thích học sinh luôn vươn tới đạt kết quả cao trong học tập Có thể nói, kiểm tra đánh giá là một động lực thúc đẩy quá trình đào tạo và tự đào tạo Do đó, việc kiểm tra, đánh giá không thể tiến hành như cũ Hiện nay, khi cách dạy đang chuyển từ truyền đạt tri thức sang hướng dẫn cách học thì việc kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh cũng tất yếu phải thay đổi theo hướng này Có thể phân biệt cách kiểm tra đánh giá KQHT theo hướng đổi mới với kiểm tra đánh giá kiểu truyền thống ở những đặc điểm sau:
Tiêu chí Kiểm tra đánh giá
theo kiểu truyền thống theo Kiểm tra đánh giá hướng đổi mới
1.Nội
dung
KTĐG
- Đánh giá KQHT theo các tiêu chí: (1) Kiến thức, (2) Kĩ năng, (3) Thái độ
- Chú trọng kiểm tra tri thức
Nặng về tái hiện
- Đánh giá KQHT theo các tiêu chí: (1) Thái độ, (2) Kĩ năng, (3) Kiến thức
- Chú trọng kiểm tra năng lực vận dụng tri thức độc lập, sáng tạo, năng lực tự học Chú trọng suy luận
2.Hình
thức
KTĐG
- Hình thức kiểm tra chủ yếu:
tự luận, hỏi miệng - Hình miệng, trắc nghiệm khách quan, quan thức đa dạng: Tự luận, hỏi
sát, tích hợp, vận dụng…
3.Giáo
viên
- Giáo viên độc quyền trong đánh giá - đánh giá và đánh giá lẫn nhau của trò.Kết hợp đánh giá của thầy với tự
4.Cán bộ
QLGD
- An tâm với hoạt động dạy học bình thường của nhà trường
- Trăn trở, chia sẻ với những suy nghĩ, việc làm của giáo viên
- Quan tâm ủng hộ, khuyến khích, tạo điều kiện và nhân rộng điển hình tốt
về đổi mới KTĐG
Trang 42.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sang kiên kinh nghiệm.
- Phương pháp KT ĐG nghèo nàn, thiếu tính thực tiễn và sáng tạo
Thực tế ở các trường học cho thấy, phương pháp KT ĐG HS chủ yếu là làm bài KT trên giấy, với 2 hình thức trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan
Cả 2 hình thức này chủ yếu là chứng minh HS nắm vững kiến thức để giải một số
Năng lực mà HS được ĐG với phương pháp này chủ yếu là năng lực trình bày, diễn đạt, lập luận, kĩ năng giải bài tập… Một số năng lực như trình bày một vấn đề trước đám đông, xử lí tình huống, làm việc hợp tác, độc lập sáng tạo… rất cần trong cuộc sống nhưng khó xác định được với cách KT ĐG như trên Các phương pháp như
HS tự ĐG, ĐG theo dự án, phỏng vấn, giải toán tập thể, lập trình tập thể…
- Kiểm tra đánh giá chú trọng mục tiêu dạy chữ
Việc KTĐG hiện nay ở các nhà trường phổ thông dựa vào mục tiêu, mà mục tiêu chủ yếu là kết quả các kì thi như thi tốt nghiệp, tuyển sinh, HS giỏi Việc đo lường năng lực HS chủ yếu dựa vào điểm số các bài thi, trong khi những tiêu chí rất quan trọng như sức khỏe, kĩ năng sống, lí tưởng của HS lại bị bỏ qua Vì quan niệm như trên, nên mọi hoạt động của nhà trường đặt trọng tâm vào các kì thi, những hoạt động khác nhằm rèn luyện đạo đức, nâng cao sức khỏe, nâng cao kĩ năng sống bị xem nhẹ
- KT ĐG mang tính áp đặt, không linh hoạt, giảm khả năng sáng tạo.
Với cách thức KT này HS thường bị áp đặt HS không được lựa chọn và chủ động trong bài KT, trả lời phải đúng đáp án mới đạt điểm, khác đáp án (có khi là
của HS như: tìm hiểu thực tế rồi làm báo cáo, thuyết trình tác phẩm văn học theo nhóm… hiện nay rất ít thực hiện, vì quy chế chưa cho phép và GV chưa thực sự am hiểu phương pháp này
- Giáo viên và học sinh chưa thực sự chủ động trong KTĐG
KTĐG ở Việt Nam chủ yếu theo sự chỉ đạo của cơ quan quản lí cấp trên Bộ chỉ đạo Sở, Sở chỉ đạo trường và phải tuân thủ các quy định Gần đây, nhiều nơi tổ chức KT định kì theo đề chung của Sở Điều này dẫn đến việc GV các trường không được ra đề thi định kì (giảm năng lực ra đề thi) Mặt khác, do nội dung đề thi phải chú ý đến các trường vùng sâu, vùng khó khăn nên đối với các trường chất lượng cao lại không phù hợp
- So sánh KT ĐG theo hướng tiếp cận nội dung và hướng tiếp cận năng lực
Chương trình GDPT hiện hành quan tâm chủ yếu tới việc HS sẽ học được những gì Việc xây dựng chương trình như vậy được gọi là theo hướng tiếp cận nội dung Chương trình mới sẽ được xây dựng theo hướng tiếp cận năng lực HS, tức là xuất phát từ các năng lực mà mỗi HS cần có trong cuộc sống và kết quả cuối cùng
Trang 5phải đạt các năng lực ấy Theo đó, nội dung, phương pháp dạy học, phương pháp
Nghiên cứu về lí luận cũng như thực tiễn triển khai KT ĐG của thế giới và Việt Nam, chúng ta quan sát một số điểm so sánh giữa 2 cách thức KT ĐG nêu trên như ở bảng sau đây:
Bảng Một số điểm so sánh giữa 2 cách thức KT ĐG
STT KTĐG theo hướng tiếp cận nội
dung
KTĐG theo hướng tiếp cận năng lực
1
Các bài thi trên giấy được thực
hiện vào cuối một chủ đề, một
chương, một học kì
Nhiều bài KT đa dạng trong suốt quá trình học tập
2
Việc lực chọn câu hỏi và tiêu chí
ĐG không được nêu trước (có
tính chất đánh đố, yêu cầu HS
nỗ lực tối đa để vượt qua kì thi)
Lựa chọn câu hỏi và tiêu chí ĐG được nêu rõ từ trước (công khai, rõ ràng, đòi hỏi HS phải hiểu sâu vấn đề, sáng tạo, biết vận dụng)
3 Nhấn mạnh sự cạnh tranh Nhấn mạnh sự hợp tác
4 Quan tâm đến mục tiêu cuối
cùng của việc giảng dạy Quan tâm tập, phương pháp rèn luyện của HSđến đến phương pháp học 5
Chú trọng vào sản phẩm Chú trọng vào quá trình tạo ra sản
phẩm, chú ý đến ý tưởng sáng tạo, đến các chi tiết của sản phẩm để khen, chê
6 Tập trung vào kiến thức hàn
lâm
Tập trung năng lực thực tế và sáng tạo
7 Đánh giá do các cấp quản lí và
do GV còn tự ĐG của HS rất ít GV và HS khuyến khích tự ĐG của HSchủ động trong KT ĐG, 8
Đánh giá đạo đức HS chú trọng
đến việc chấp hành nội quy nhà
trường, tham gia phong trào, hạn
chế sự thể hiện cá tính của HS
Đánh giá đạo đức của HS một cách toàn diện, chú trọng đến năng lực cá nhân, khuyến khích HS thể hiện cá tính
và năng lực bản thân/
9
KT ĐG HS chủ yếu do GV bộ
môn và GV chủ nhiệm Nhiều người tham gia KT ĐG, không chỉ GV bộ môn, GV chủ nhiệm, GV tư vấn
mà ngay cả phụ huynh và cộng đồng, đặc biệt là tự ĐG lẫn nhau của HS
10
Đánh giá chú trọng đến kiến
thức, trong khi kĩ năng và thái
độ bị xem nhẹ
Đánh giá toàn diện, các tiêu chí đặt ra liên quan đến kiến thức, kĩ năng và thái
độ KT ĐG phải gắn với mục tiêu đã công bố từ trước, tránh tình trạng “mục tiêu một đường KT một nẻo”
Trang 6- Điểm yếu nhất của kiểm tra đánh giá giáo dục phổ thông hiện nay là chưa xác định rõ triết lý đánh giá: đánh giá để làm gì, tại sao phải đánh giá, đánh giá nhằm thúc đẩy, hình thành khả năng gi ở học sinh?
2.3 Các giải pháp sử dụng để giải quyết vân đề.
Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức về ý nghĩa, yêu cầu và định hướng đổi mới kiểm tra đánh giá KQHT.
1.1 Tổ chức việc học tập, nghiên cứu, thảo luận các chuyên đề nhằm nâng cao nhận thức về hoạt động đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Giải pháp cho vấn đề này là tìm mọi cách nâng cao hiểu biết của các cấp quản
lý giáo dục và đặc biệt là GV về triết lý đánh giá Trước hết phải bắt đầu từ chính trong ý thức của giáo viên và CBQL Nếu hiểu đó là vấn đề sống còn, vì lợi ích của học sinh, vì tương lai của nhà trường thì CBQL, GV mới nỗ lực để đổi mới kiểm tra đánh giá theo cách tiếp cận năng lực Giáo viên phải được tập huấn về đổi mới kiểm tra đánh giá theo cách tiếp cận năng lực là thế nào? tập trung đánh giá những năng lực cốt lõi nào? Chẳng hạn các bài kiểm tra thiết kế thế nào để đánh giá được các năng lực tư duy bậc cao của học sinh (tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn
đề…) Phương pháp đánh giá càng đa dạng thì mức độ chính xác trong đánh giá
càng cao vì phản ánh khách quan tốt hơn Và trong quá trình đánh giá như vậy, bản thân người giáo viên sẽ nâng cao được năng lực dạy học nói chung, năng lực đánh giá học sinh nói riêng Tập trung bồi dưỡng GV các các phương pháp, kỹ thuật, hình thức đánh giá mới, học để phát triển các kỹ năng, hình thành hứng thú, sự tự tin… chứ không phải học vì điểm số GV phải hình thành ở học sinh khả năng tự kiểm tra, tự đánh giá Giáo viên giúp học sinh hiểu rõ nhiệm vụ và có thể tự mình
tổ chức các hoạt động học của mình dưới sự hướng dẫn Giáo viên phải chọn lựa kỹ thuật và phương pháp giảng dạy ở trên lớp để kích thích học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức
Một số yêu cầu cụ thể đối với giáo viên trong đổi mới kiểm tra đánh giá KQHT:
Để thấy được sự cần thiết của đổi mới hoạt động kiểm tra đánh giá, cần hướng dẫn giáo viên hiểu được mối quan hệ giữa đổi mới KTĐG với quá trình đổi mới dạy học, thể hiện cụ thể qua bảng so sánh dạy học và KTĐG theo truyền thống và theo định hướng đổi mới Vì vậy, mỗi giáo viên phải thực hiện tốt các yêu cầu sau đây:
+ Nắm vững nguyên tắc đổi mới kiểm tra đánh giá KQHT, coi trọng tự học và biết tranh thủ sự giúp đỡ của đồng nghiệp, lãnh đạo tổ chuyên môn, lãnh đạo trường có tay nghề cao ở trong trường hoặc những giáo viên dạy giỏi có phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá đạt hiệu quả cao ở các trường trên địa bàn để học hỏi kinh nghiệm
+ Nắm chắc điều kiện của trường về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, phần mềm CNTT, tài liệu tham khảo để có thể khai thác giúp bản thân đổi mới kiểm tra
đánh giá
+ Hướng dẫn học sinh về phương pháp học tập và rèn luyện kỹ năng tự đánh giá KQHT, giúp học sinh biết cách tự học, tự giác, hứng thú trong học tập
Trang 7- Xác định trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc đổi mới kiểm tra đánh giá:
+ Trách nhiệm của hiệu trưởng: Hiệu trưởng chịu trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo
chặt chẽ công tác đổi mới kiểm tra đánh giá KQHT và các hoạt động liên quan như xây dựng đội ngũ giáo viên, tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, kịp thời động viên khen thưởng các cá nhân có thành tích Tăng cường chỉ đạo đổi mới kiểm tra đánh giá thông qua bồi dưỡng giáo viên, dự giờ trao đổi kinh nghiệm, tổ chức rút kinh nghiệm giảng dạy ở các tổ chuyên môn, hội thảo cấp trường, cụm trường, hội thi giáo viên giỏi các cấp
+ Trách nhiệm của tổ chuyên môn: Phải hình thành giáo viên cốt cán về đổi
mới kiểm tra đánh giá Thường xuyên tổ chức dự giờ thăm lớp và nghiêm túc rút kinh nghiệm Tổ chức sinh hoạt chuyên môn với nội dung phong phú, thiết thực Đánh giá đúng đắn và đề xuất khen thưởng những giáo viên thực hiện đổi mới kiểm tra đánh giá có hiệu quả
1.2 Tạo động lực đổi mới KTĐG cho giáo viên đồng thời xây dựng động cơ học tập đúng đắn, thái độ tích cực trong KTĐG ở học sinh, hạn chế tiêu cực trong thi cử:
Động lực là nhân tố thúc đẩy, phát triển hoạt động của con người Động lực của quá trình dạy học chỉ hình thành khi học sinh có nhu cầu nhận thức, tự giác học tập,
cố gắng tự thân nắm bắt kiến thức và kĩ năng Mặt khác, hoạt động đổi mới kiểm tra đánh giá chỉ có thể thành công khi giáo viên có động lực hành động và chuyển hóa được từ ý chí trở thành tình cảm và tinh thần trách nhiệm đối với học sinh, đối với nghề dạy học Vì vậy:
- Với giáo viên: Trong công tác quản lý nhân sự, một trong những khâu quan
trọng là đánh giá giáo viên Đánh giá giáo viên nhằm cung cấp thông tin phản hồi cho họ về mức độ thực hiện công việc của họ so với yêu cầu và so với người khác Nếu người cán bộ quản lý làm tốt công tác đánh giá sẽ là đòn bẩy, thúc đẩy chất lượng của nhà trường đi lên, đồng thời kích thích động viên, tạo động lực làm việc cho họ Mặt khác, để tạo động lực cần hình thành, phát triển, kích thích động cơ dạy học đúng đắn của người giáo viên
+ Với học sinh, để xây dựng động cơ học tập đúng đắn, hình thành thái độ tích
cực trong kiểm tra đánh giá, trước hết cần xây dựng nhu cầu, hứng thú học tập Hứng thú học tập có thể được hình thành từ truyền thống hiếu học của gia đình, dòng họ, từ phong trào học tập ở địa phương
Giải pháp 2: Quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên đảm bảo về số
lượng, cơ cấu, chất lượng đáp ứng yêu cầu đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập.
Nội dung và cách tổ chức thực hiện
2.1 Tổ chức chỉ đạo xây dựng quy hoạch đội ngũ CBQL và giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập, cần tập trung chỉ đạo theo định hướng sau:
+ Về quy hoạch số lượng, đòi hỏi hiệu trưởng phải nắm rõ thực trạng về số
lượng GV của trường trong từng môn cụ thể, đồng thời xác định rõ thực trạng về
Trang 8nhu cầu giáo viên trong từng năm hoặc từng giai đoạn Căn cứ trên quy mô phát triển của trường, hiệu trưởng xây dựng kế hoạch tuyển dụng và tạo nguồn tại chỗ Cần đảm bảo tỷ lệ giáo viên theo định mức quy định, có kế hoạch bảo đảm số lượng GV theo yêu cầu
+ Về cơ cấu, cần xác định sự bất cập về chuyên môn, tuổi đời, tuổi nghề, giới
tính… để có kế hoạch tuyển dụng nhằm đảm bảo cơ cấu trong đội ngũ giáo viên Hiện tại, đội ngũ giáo viên đang ở tình trạng vừa thừa, vừa thiếu: thừa giáo viên dạy các môn cơ bản, nhưng lại thiếu giáo viên dạy các môn đặc thù, chủ yếu tập trung ở các môn: Giáo dục quốc phòng, công nghệ và tin học
+ Về chất lượng, hiệu trưởng phải thường xuyên khảo sát, đánh giá chất lượng
đội ngũ giáo viên trên các mặt: phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ chuyên môn, trình độ nghiệp vụ sư phạm để có kế hoạch bồi dưỡng
+ Đối với đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục: Phải thể hiện trong việc xây dựng
quy hoạch, kế hoạch, khả năng tham mưu, chỉ đạo tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hướng dẫn của bộ và ngành, phát hiện động viên các nhân tố mới, việc ứng dụng các phương pháp quản lí giáo dục trong xu thế phát triển còn hạn chế Đa số vẫn làm việc dựa vào kinh nghiệm cá nhân, tính chuyên nghiệp thấp Đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục phải được đào tạo, bồi dưỡng một cách bài bản, chính quy
2.2 Đổi mới công tác bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên:
- Cần đổi mới phương thức bồi dưỡng theo hướng:
+ Bồi dưỡng theo nhu cầu thực tế, kết hợp bồi dưỡng tập trung với bồi dưỡng
từ xa và đặc biệt chú trọng tự bồi dưỡng
+ Hiệu trưởng phải tạo điều kiện cho giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn Muốn vậy, hiệu trưởng phải xây dựng thành kế hoạch cụ thể để không làm ảnh hưởng đến công tác chung của nhà trường, đồng thời thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách và
hỗ trợ một phần kinh phí cho giáo viên đi đào tạo
2.3 Thực hiện đầy đủ chính sách, chế độ đối với đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục:
Cần quan tâm đầu tư nguồn lực, có chế độ chính sách hợp lí, cơ chế đánh giá sàng lọc đi đôi với khuyến khích khen thưởng tạo động lực để đội ngũ giáo viên chuyên tâm với nghề nghiệp, tập trung đúng mức cho việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao chất lượng giảng dạy, đổi mới kiểm tra đánh giá và quản lý giáo dục
Tóm lại: Yếu tố con người giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển
của một quốc gia nói chung và của một tổ chức, một nhà trường nói riêng Nhiệm
vụ của ngành giáo dục là đào tạo lực lượng lao động có phẩm chất tốt, có trình độ văn hóa, kỹ thuật, có tay nghề… phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Vì vậy nhà trường cần phải có đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đạt chuẩn về chất lượng để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế – xã hội
Trang 9Giải pháp 3: Chỉ đạo dạy học và kiểm tra, đánh giá theo chuẩn kiến thức,
kĩ năng trong chương trình giáo dục phổ thông.
Nội dung và tổ chức thực hiện
3.1 Nâng cao nhận thức của CBQL và đội ngũ giáo viên về dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập trên cơ sở chuẩn kiến thức, kĩ năng của các môn học:
- Khi lựa chọn nội dung đánh giá cần quan tâm đúng mức đến việc biên soạn đề kiểm tra theo chuẩn kiến thức, kĩ năng đã quy định Vì vậy, khi đối chiếu yêu cầu của các đề kiểm tra đã thu thập được với mức độ cần đạt của chuẩn kiến thức, kĩ năng
- Nếu sử dụng chuẩn kiến thức, kĩ năng trong dạy học và kiểm tra đánh giá sẽ giúp: Đánh giá khách quan và công bằng KQHT; So sánh được KQHT với mục tiêu giáo dục; Xác định đúng mục tiêu dạy học cho một chủ đề Vì vậy, dạy học và kiểm tra đánh giá trên cơ sở chuẩn kiến thức, kĩ năng đòi hỏi phải thay đổi cơ bản
về nhận thức và một số thói quen trong chỉ đạo dạy học, kiểm tra đánh giá KQHT của CBQL và giáo viên để thích ứng với quan niệm và cách làm việc vừa đảm bảo tính chuẩn hóa vừa đáp ứng nhu cầu phân hóa theo từng đối tượng học sinh trong quá trình giáo dục
- Cần tổ chức các hội thảo chuyên đề, tập huấn giúp giáo viên tự nhận thức được:
+ Quan niệm, sự cần thiết của dạy học và kiểm tra đánh giá KQHT trên cơ sở chuẩn kiến thức, kĩ năng của các môn học
+ Cấu trúc, nội dung, mức độ chuẩn kiến thức, kĩ năng trong từng môn học và các yêu cầu học sinh cần đạt sau từng giai đoạn học tập
3.2 Thực hành tổ chức dạy học, KTĐG trên cơ sở chuẩn kiến thức, kĩ năng:
Tổ chức hội thảo, hội giảng chuyên đề theo tổ chuyên môn và theo từng môn học để giáo viên thực hành sử dụng chuẩn kiến thức, kĩ năng trong việc: xác định mục tiêu dạy học, thiết kế bài giảng, thực hành, luyện tập; thiết lập ma trận đề kiểm tra, biên soạn đề và xác định nội dung đánh giá Cụ thể là:
- Tự xây dựng và trao đổi ý kiến trong nhóm về kế hoạch bài học (giáo án) của
một số bài tiêu biểu, trọng tâm của chương trình môn học theo tinh thần dạy học và KTĐG trên cơ sở chuẩn kiến thức, kĩ năng, đáp ứng nhu cầu phát triển của từng đối tượng học sinh
- Tự xây dựng một số đề kiểm tra định kì trên cơ sở chuẩn kiến thức, kĩ năng và trao đổi về những định hướng đổi mới đánh giá KQHT đã nêu trong chương trình môn học
- Tổ chức dự giờ, thăm lớp, trao đổi ý kiến trong nhóm về việc dạy học, kiểm tra đánh giá trên cơ sở chuẩn kiến thúc, kĩ năng
3.3 Đẩy mạnh đổi mới cách quản lí, chỉ đạo giáo dục để thực sự tạo cơ hội cho việc triển khai dạy học, KTĐG trên cơ sở chuẩn kiến thức, kĩ năng:
- Thực hiện cam kết giữa hiệu trưởng và giáo viên về việc triển khai dạy học, kiểm tra đánh giá trên cơ sở chuẩn kiến thức, kĩ năng và thường xuyên tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện, rút kinh nghiệm nghiêm túc về vấn đề này
Trang 10- Thông qua các tổ chuyên môn, thực hiện chỉ đạo dạy học theo bộ sách giáo khoa thống nhất nhưng linh hoạt trong sử dụng các tài liệu hướng dẫn dạy học, phù
hợp với từng đối tượng học sinh
- Để nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra đánh giá, cần chú trọng vai trò của tổ chuyên môn trong việc phổ biến các văn bản về chuẩn kiến thức, kĩ năng, thống nhất mục tiêu đánh giá theo chuẩn và sử dụng hệ thống chuẩn đánh giá làm cơ sở cho việc đưa ra các quy định cái gì cần dạy và cần đánh giá trong từng lớp học, ở từng học sinh Đồng thời, tăng cường đổi mới khâu kiểm tra đánh giá thường xuyên
và định kì nhằm bảo đảm sự đánh giá phù hợp với chuẩn kiến thức, kĩ năng, lại có khả năng phân hóa cao
Giải pháp 4: Bồi dưỡng kĩ năng đánh giá cho giáo viên và rèn luyện kĩ năng tự đánh giá cho học sinh.
Nội dung và cách thức thực hiện
4.1 Chỉ đạo thực hiện công tác bồi dưỡng kĩ năng đánh giá cho GV:
Để thực hiện có hiệu quả hoạt động đổi mới kiểm tra đánh giá cần chú trọng việc bồi dưỡng và rèn luyện các kĩ năng sư phạm cho giáo viên trong hoạt động
kiểm tra đánh giá như: kĩ năng quan sát, kĩ năng kiểm tra vấn đáp (kiểm tra miệng),
cách đánh giá kĩ năng thực hành, kĩ năng biên soạn và chấm điểm bài kiểm tra tự luận, kĩ năng soạn thảo bài kiểm tra trắc nghiệm, kĩ năng tổng hợp thông tin đánh giá, ghi phiếu liên lạc và sổ học bạ Trước mắt, cần tập trung bồi dưỡng một số kĩ năng đánh giá chủ yếu sau:
- Kiểm tra vấn đáp (kiểm tra miệng):
+ Cần yêu cầu học sinh vận dụng những kiến thức đã học vào những tình huống mới Việc ghi nhớ kiến thức đã học không nên cho quá 5 điểm, số điểm còn lại dành cho việc đánh giá mức độ hiểu và vận dụng kiến thức vào tình huống mới + Chỉ cho điểm kiểm tra miệng khi thấy các câu hỏi và các câu trả lời đủ để đánh giá KQHT của học sinh Nếu thấy chưa đủ thì chỉ cần đưa ra một lời nhận xét hoặc một lời khen Tránh cho điểm một cách máy móc Vì kiểm tra miệng là một hoạt động quan trọng của tiết học nên hoạt động này cần được ghi và chuẩn bị trước trong giáo án
- Kiểm tra thí nghiệm thực hành:
Đối với giờ học thực hành theo quy định của chương trình bộ môn, giáo viên
có thể đánh giá năng lực thực hành thí nghiệm của học sinh qua các tiêu chí sau: (1) Đánh giá ý thức, thái độ tham gia hoạt động của từng cá nhân trong nhóm thực hành: Điểm về nội dung này có thể cho không quá 3 điểm Cụ thể là:
Mức độ học sinh tham gia thực hành Số điểm
2 Tham gia thụ động, chỉ quan sát và lặp lại các thao tác thực hành
3 Tham gia chủ động nhưng chưa đạt hiệu quả cao, đã lặp lại được
4 Tham gia chủ động, tích cực và có hiệu quả, chủ động thực hiện