SKKN Vận dụng hiệu quả sơ đồ tư duy trong dạy học ngữ văn THPT 0 SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THANH HÓA TRƯỜNG THPT DÂN TỘC NỘI TRÚ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VẬN DỤNG HIỆU QUẢ SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN THPT Người thực hiện Phạm Thị Thanh Hà Chức vụ Giáo viên SKKN thuộc lĩnh vực Ngữ Văn THANH HÓA, NĂM 2017 SangKienKinhNghiem net 1 MỤC LỤC Trang I Mở đầu 0 1 1 Lí do chọn đề tài 1 1 2 Mục đích nghiên cứu 1 1 3 Đối tượng nghiên cứu 2 1 4 Phương pháp nghiên cứu 2 1 5 Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm[.]
Trang 1SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG HIỆU QUẢ SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG
DẠY HỌC NGỮ VĂN THPT
Người thực hiện: Phạm Thị Thanh Hà Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ Văn
THANH HÓA, NĂM 2017
Trang 2MỤC LỤC
Trang
I Mở đầu 0
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5 Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm 2
II Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm 2
2.1 Cơ sở lí luận 2
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3
2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết 3
2.3.1 Cách tạo - các bước vẽ sơ đồ tư duy: 3
2.3.2 Vận dụng tư duy trong dạy văn và học văn 5
2.3.2.1 Trong tiết đọc hiểu văn bản 5
2.3.2.2 Trong tiết học làm văn nghị luận xã hội 15
2.4 Hiệu quả của đề tài 21
III Kết luận - Kiến nghị 22
3.1 Kết luận 22
3.2 Kiến nghị 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 3I Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
- Ngành giáo dục những năm gần đây đã chú ý tới đổi mới phương pháp dạy học trong các cấp học, bộ môn học Các nhà nghiên cứu giáo dục, các nhà giáo ưu tú từng nghĩ tới nhiều phương pháp để dạy học hiệu quả, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Với bộ môn Ngữ Văn ở cấp THPT sự đổi mới ấy thể hiện rõ trong một số phương pháp như: phương pháp nhập vai, đọc sáng tạo, đàm thoại, vận dụng công nghệ thông tin Song mỗi phương pháp vẫn còn mang những hạn chế nhất định, chưa thay đổi được tư duy sáng tạo, chưa phát huy hết tính tích cực, tự giác, chủ động của người học
- So với bộ môn học khác, Ngữ Văn là môn học mang đặc thù thù riêng, môn học của nghệ thuật ngôn từ, ngôn từ mang tính chất “phi vật thể”, đa nghĩa, tính hình tượng cao Trong khi đó mỗi trang văn, mỗi tác phẩm văn học đều truyền tải tư tưởng, tình cảm, ước mơ, khát vọng, lí tưởng, nhân sinh quan
….của tác giả Mặt khác trong giờ giảng, người giáo viên dạy Văn vừa phải đảm bảo hệ thống kiến thức đồ sộ của bài học, song cũng cần cho học sinh cảm thụ được thứ ngôn ngữ văn chương giàu có, phong phú, sáng tạo, sang trọng, đẹp đẽ, đầy hình tượng thẩm mĩ Trong khi đó những bộ môn khác có thể dùng những kí hiệu, đường nét, màu sắc, âm thanh .hỗ trợ thêm cho việc dạy học, làm rõ những đơn vị kiến thức như: hội họa dùng màu sắc, đường nét, âm nhạc diễn tả bằng âm thanh, tiết tấu, điêu khắc dùng chất liệu (kim loại, đá, gỗ…) tạo nên hình khối, đường nét v.v… Còn giáo viên dạy Văn chỉ có ngôn từ để giúp học sinh cảm thụ bộ môn của mình nên mỗi giờ học dễ sa vào thuyết giảng, dài dòng, lan man…Vì điểm này môn Văn dần trở nên ngại học, nhàm chán, thụ động với học sinh ở độ tuổi trưởng thành THPT
- Phương pháp “Vận dụng hiệu quả sơ đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn THPT” sẽ khắc phục được những hạn chế của lối giảng Văn truyền thống, hơn nữa sẽ giản hóa được đơn vị kiến thức lớn ở mỗi bài học Mặt khác tính ưu việt của phương pháp này chính là giúp học sinh hiểu rõ được cấu trúc bài học một cách mạch lạc, khoa học nhất, thấy được trọng tâm kiến thức cần tiếp nhận, tránh học vẹt, học máy móc Đây cũng là phương pháp thúc đẩy học sinh phát huy được sự nhạy cảm phong phú trong liên tưởng, suy luận, cảm xúc với tất cả mọi giác quan và tâm hồn, sự chủ động, tích cực, đặc biệt tất cả học sinh đều có thể tham gia xây dựng bài
Vì những lí do trên, lại là người trực tiếp giảng dạy nhiều năm tôi nghĩ rằng
đề xuất một phương pháp dạy học hiệu quả hơn cho môn Văn là việc cần thiết
Vì thế tôi chọn đề tài “Vận dụng hiệu quả sơ đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn THPT”
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Đề tài này nghiên cứu nhằm mục đích giúp học sinh tóm tắt, ghi nhớ, tư duy, cảm thụ một cách hệ thống những đơn vị kiến thức trong mỗi bài học Đọc Văn - Tiếng Việt - Làm văn - Ôn tập
Trang 4- Đề tài cũng giúp học sinh phát huy được tiềm năng trong khả năng sáng tạo, tư duy, tạo sự hứng thú học tập tích cực, chủ động trong mỗi giờ học
- Đề tài còn đáp ứng được yêu cầu đổi mới trong giáo dục hiện nay
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài sẽ nghiên cứu về Sơ đồ tư duy và hiệu quả sử dụng sơ dồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn THPT
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu loại hình: sơ đồ tư duy là một công cụ hỗ trợ tư duy hiện đại Đó là một kĩ thuật hình họa, một dạng sơ đồ kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp, tương thích với cấu trúc, hoạt động của
bộ não
- Phương pháp thực nghiệm: được sử dụng trong quá trình áp dụng đề tài đối với các lớp được chọn làm đối tượng thực nghiệm
- Phương pháp so sánh: được sử dụng trong quá trình so sánh đối chiếu kết quả bài kiểm tra giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: được sử dụng trong quá trình khảo sát, phân tích kết quả thực nghiệm và tổng hợp kết quả thực nghiệm
- Phương pháp hệ thống - cấu trúc: được sử dụng trong quá trình hệ thống hóa kiến thức các tác phẩm và thể hiện bằng SĐTD
1.5 Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
- Sáng kiến có cái nhìn đầy đủ hơn về phương pháp, kĩ năng sử dụng sơ đồ
tư duy trong dạy học Văn
- Trong sáng kiến sẽ đưa ra nhiều phân loại kiểu bài bộ môn Ngữ Văn có thể áp dụng sơ đồ dạy học: Nghị luận văn học, Đọc hiểu văn bản, Tiếng Việt…
II Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận
- Mindmap) do Barry Buzan và Tony Buzan là hai tác giả đầu tiên tìm ra khái niệm “Sơ đồ tư duy” Các tác giả này đã dựa trên những đặc điểm của não
bộ, Tony Buzan đã sáng tạo ra SĐTD theo nguyên lí hoạt động của bộ não Vì thế người học cá khả năng phát huy toàn bộ tư duy khi sử dụng sơ đồ tư duy Họ cũng từng nghiên cứu bộ não của con người gồm 2 bán cầu: não phải và não trái Não phải nhạy cảm với các thông tin về màu sắc, nhịp điệu, hình dạng, tưởng tượng… những yếu tố đó sẽ tác động, kích thích não trái Não trái thích hợp với các từ ngữ, con số, tư duy và phân tích cho ra sản phẩm Do đó người ta tìm cách kích thích não phải tốt nhất và khi hai bán cầu não có sự tương tác, tác động, kích thích lẫn nhau nó sẽ đem đến cho con người khả năng to lớn ) Vì thế
sơ đồ tư duy là mô hình giúp người học nhằm hệ thống, tái hiện lại kiến thức bằng các kí hiệu, đường nét, màu sắc qua sự tác động của não bộ
- Nghị quyết 40/2000 - QH10 của Quốc hội khóa 10 và Chỉ thị số14/2001/CT - TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ GD&ĐT đã đặc biệt chú trọng đến việc bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên từng bước nâng cao trình độ, đổi mới PPDH Ngày 05/5/2006, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành Quyết định số 16/2006/BGDĐT nêu rõ những định hướng đổi mới phương pháp giáo dục, tạo
Trang 5điều kiện thuận lợi để giáo viên thực hiện việc đổi mới PPDH Cho nên sử dụng SĐTD sẽ đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, lấy học sinh làm trung tâm, phát huy sự chủ động, sáng tạo trong học tập Điều này rất phù hợp với mục đích học tập do UNESCO đề xướng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
- Sự phát triển của công nghệ thông tin trong hệ thống trường học làm cho thực trạng dạy và học môn Ngữ văn tại trường THPT hiện nay được nâng cao, đổi mới Những mô hình, sơ đồ, biểu đồ… giản tiện về công đoạn, thời gian mang nhiều ưu việt được đưa vào quá trình dạy học Vì thế những giờ học đã trở nên sôi nổi và hứng thú Học sinh không còn cảm thấy ngại học môn Văn như trước, không còn thụ động trước những đơn vị kiến thức đồ sộ Ngược lại các
em có thể chủ động tiếp cận kiến thức qua những sơ đồ tư duy
- Tuy nhiên hiện nay việc đưa SĐTD vào ứng dụng trong quá trình dạy học đối với môn học Ngữ văn, nhất là các tiết đọc hiểu còn là vấn đề gặp không ít khó khăn, trở ngại đối với giáo viên Cụ thể như trong việc tổ chức, thiết kế các hoạt động dạy học với việc sử dụng SĐTD Qua dự giờ, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn đối với các đồng nghiệp trong tổ, tôi nhận thấy, hầu hết các giáo viên chưa quen với cách dạy học bằng SĐTD Họ mới chỉ dừng lại ở việc sử dụng SĐTD để hệ thống hóa kiến thức mỗi bài ôn tập, tổng kết một phân môn, một mảng kiến thức nào đó mà thôi chứ chưa mạnh dạn phát huy được tính phổ biến và đa năng của SĐTD trong các tiết đỌC hiểu văn học
- Không chỉ đối với giáo viên mà ngay học sinh trong trường có nhiều em chưa có khái niệm gì về SĐTD, chưa quen với cách học bằng SĐTD và còn nhiều lúng túng khi thiết lập một SĐTD Vì thế việc đưa phương pháp dạy học theo sơ đồ tư duy vào dạy bộ môn Ngữ Văn là việc cần làm ngay để kích thích
tư duy người học
- Thực tế chất lượng trong mỗi giờ giảng Văn đang là vấn đề đáng bàn Thời gian bó hẹp trong 45 phút, học sinh quen với cách cảm thụ theo kiểu truyền thống, chưa chủ động tư duy, chiếm lĩnh tri thức Các giờ Tiếng Việt và Làm văn tư duy trừu tượng khá dài Phần đọc hiểu văn bản lượng kiến thức cần nhớ
và học thuộc tương đối lớn Vì những lí do đó đã tạo ra tâm lí của học sinh với môn Văn: chán học, ngại ghi chép, ngại viết bài…tạo nên nhiều bài văn khô khan, thiếu cảm xúc, không sáng tạọ…
2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết
2.3.1 Cách tạo - các bước vẽ sơ đồ tư duy:
- Cách tạo sơ đồ tư duy:
+ Dùng SĐTD để dạy bài mới: Giáo viên đưa ra một từ khoá cho bài mới sau đó hỏi những câu hỏi liên quan đến bài mới để học sinh tìm ra các ý kết nối cho bài mới Cuối cùng học sinh có thể tự hoàn thiện được sỏ đồ tư duy cho bài học mới
Qua SĐTD đó học sinh sẽ nắm được kiến thức bài học một cách dễ dàng
Trang 6+ Công cụ vẽ sơ đồ tư duy: vẽ bằng tay hoặc bằng máy vi tính Học sinh dùng giấy A4 và hộp màu cùng trí tưởng tượng để vẽ Nếu vẽ bằng tay học sinh
có thể tưởng tượng ra các cấu trúc hình vẽ khác nhau như: hình xương cá, hình cây, hình quả, hình tròn, hình càng cua, cánh bướm… Sau đó dùng màu phù hợp
để tô tạo những điểm nhấn Bước cuối cùng là ghi những ý chính vào hình vẽ để hoàn thiện sơ đồ tư duy Khác với cách thức vẽ bằng máy vi tính, HS có thể sử dụng các phần mềm Mind Mapping, phần mềm Bzan’s iMindMap, phần mềm Mindjet MindManager Professional…) hoặc vẽ bằng Microsoft Word, hình ảnh trung tâm có thể dễ dàng tìm kiếm trên internet
+ Quy tắc vẽ sơ đồ tư duy: cần tuân theo các quy tắc: nhấn mạnh, liên kết
và mạch lạc
- Các bước vẽ sơ đồ tư duy
+ Vẽ chủ đề chính ở trung tâm: HS phải xác định được trọng tâm của bài học hoặc chủ đề chính của bài học rồi vẽ chủ đề ở chính giữa tờ giấy đặt nằm ngang bằng hình ảnh hoặc từ khóa (Lưu ý đến kích thước, màu sắc… để làm nổi bật nội dung của chủ đề chính)
+ Từ chủ đề trung tâm vẽ thêm các nhánh nhỏ hơn để cụ thể ý cho chủ đề trung tâm Các nhánh nhỏ này chính là các tiêu đề phụ bằng hình ảnh hoặc chữ
in hoa xung quanh hình ảnh trung tâm Để làm nổi bật học sinh có thể chú ý đến cách bố trí và sử dụng màu sắc
+ Từ tiêu đề phụ học sinh vẫn có thể chia ra những tiêu đề nhỏ hơn nữa và dùng thêm các chi tiết hỗ trợ Trong khi vẽ, HS cũng nên tận dụng các từ khóa
và hình ảnh Mỗi từ khóa, hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên nhánh
+ Cuối cùng để hoàn thiện sơ đồ tư duy của mình HS có thể thêm nhiều hình ảnh và sử dụng màu sắc giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, bổ sung các liên kết cần thiết để hoàn thiện sơ đồ tư duy của mình
- Cấu trúc một sơ đồ tư duy như sau:
+ Hình ảnh, biểu tượng trung tâm thể hiện một ý tưởng chính hay nội dung chính
+ Từ hình ảnh trung tâm này sẽ được chia ra các nhánh chính, nhánh nhỏ nhằm thể hiện chủ đề ở mức độ sâu hơn
+ Các nhánh nhỏ này lại được chia tách thành các nhánh nhỏ hơn nhằm thể hiện chủ đề ở mức độ sâu hơn nữa
+ Tiêu điểm ở mỗi nhánh sẽ được khái quát bằng các cụm từ ngữ, câu văn hoặc một hình ảnh cụ thể ngắn gọn hàm súc
- Hiệu quả của sơ đồ tư duy:
– Sơ đồ tư duy tạo sự tập trung của mắt và bộ não, kích thích quá trình tư duy, giúp người tiếp nhận có khả năng ghi nhớ dễ dàng, hiệu quả
- Sự kết nối của các nhánh chính, nhánh phụ sẽ tạo sự liên kết chặt chẽ trọng tâm của vấn đề, kích thích được khả năng tưởng tượng và liên kết các ý tưởng của bộ não
Trang 7- Ghi nhớ sâu sắc vấn đề bằng hệ thống luận điểm, luận cứ, dẫn chứng mạch lạc, không thiếu ý, lặp ý, viết lan man, tự do trong diễn đạt
- Học sinh sử dụng SĐTD hỗ trợ học tập ở nhà, phát triển tư duy lôgic, tự học trước bài mới, củng cố, ôn tập kiến thức bằng cách vẽ BĐTD trên giấy, bìa… hoặc để tư duy một vấn đề mới Nhờ vậy học sinh có khả năng tư duy lôgic, khắc sâu kiến thức, kĩ năng ghi chép
- Học sinh nâng cao kĩ năng sử dụng máy tính trong học tập qua việc vẽ SĐTD
2.3.2 Vận dụng tư duy trong dạy văn và học văn.
2.3.2.1 Trong tiết đọc hiểu văn bản
Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề
Từ chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính Trên mỗi nhánh chính viết một khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề, viết bằng chữ in hoa Nhánh và chữ viết trên đó được vẽ và viết cùng một màu Nhánh chính đó được nối với chủ đề trung tâm Chỉ sử dụng các thuật ngữ quan trọng để viết trên các nhánh
• Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường
• Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo
- Văn bản minh họa:
*Lập sơ đồ kết cấu của Bình Ngô đại cáo và phân tích tác dụng của nghệ thuật kết cấu đó
Bình Ngô đại cáo là một áng văn nghị luận có sự kết hợp hài hoà giữa yếu
tố chính luận và yếu tố nghệ thuật Kết cấu của bài cáo rất chặt chẽ, thể hiện tính chính luận và sự kết hợp chính luận - nghệ thuật Trong bài cáo của Nguyễn Trãi
ta không chỉ thấy được tư tưởng nhân nghĩa mà còn thấy được chân lí độc lập tác giả đưa ra ngay từ đầu tác phẩm Từ tiền đề chính nghĩa soi sáng vào thực tiễn ta lại thấy được tác giả vừa tố cáo được tội ác của giặc Minh đồng thời ca ngợi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng Qua bài cáo người học cũng dễ rút ra được bài học lịch sử đầy ý nghĩa
Nhìn vào sơ đồ tư duy sau chúng ta có thể thấy rõ hơn được về nội dung tác
phẩm Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi).
Trang 8-Sơ đồ kết cấu trên cho thấy tính chính luận mẫu mực của một áng văn chính luận Trước hết nêu lên tiền đề chính nghĩa có tính chân lí làm cơ sở vững chắc cho lập luận Trên cơ sở ấy, tác giả đem tiền đề lí luận soi sáng vào thực tiễn để chứng minh tính đúng đắn của nó Cuối cùng là kết luận được rút ra từ thực tiễn Đó là lời kết luận phải đổi bằng xương máu nên vô cùng thấm thìa Bài học được rút ra có giá trị nhân văn to lớn và sâu sắc
*Lập sơ đồ tư duy cho “Rừng Xà Nu” (Nguyễn Trung Thành):
Rừng Xà Nu chỉ là một truyện ngắn nhưng dung lượng hiện thực của nó
thật lớn lao Đó là bản anh hùng ca về cuộc chiến đấu anh hùng của đồng bào Tây Nguyên với sự trưởng thành của một thế hệ cách mạng mới, trẻ trung nhiệt tình, mưu trí và kiên cường Đọc Rừng Xà Nu có cảm tưởng như được xem một
bộ phim về số phận một con người với biết bao sự kiện Truyện bắt đầu từ hiện tại từ cái thời điểm anh chiến sĩ giải phóng quân TNú đặt chân lên mảnh đất quê hương ‘‘sau ba năm đi lực lượng” rồi ngược dòng thời gian trở về quá khứ Quá khứ cứ hiện dần lên trong sự hồi tưởng của TNú, trong lời kể của tác giả, trong lời kể của cụ những mảng đời quá khứ, những mảng đời hiện tại, cứ đan ngang, soi tỏ cho nhau để cắt nghĩa sự trưởng thành của thế hệ TNú, sự trưởng thành
Tiền đền chính nghĩa
Tư tưởng nhân nghĩa Chân lí độc lập
Tiền đền chính nghĩa soi sáng vào thực tiễn
Giặc Minh phi nghĩa
(Tố cáo tội ác giặc Minh) Đại Việt chính nghĩa
(Ca ngợi cuộc kh.nghĩa Lam Sơn)
Kết luận: Chính nghĩa chiến thắng
Bài học lịch sử
Trang 9của làng Xô Man trong cuộc chiến đấu với kẻ thù, để làm nổi rõ chủ đề của truyện, từ nỗi đau riêng và nỗi đau chung Vì thế tư tưởng này đã chi phối kết cấu tác phẩm Để vẽ sơ đồ tư duy tác phẩm ta phải thấy được hình ảnh trung tâm chính trong truyện là rừng Xà Nu và ý nghĩa của hình tượng này Từ hình tượng Rừng Xà Nu chúng ta cũng thấy được vẻ đẹp của con người Tây Nguyên anh dũng và kiên cường trong tranh đấu, tình nghĩa với đồng bào, son sắt với quê hương Các nhân vật trong tác phẩm cũng tượng trưng cho những thế hệ con người Tây Nguyên trong cuộc đấu tranh vệ quốc bảo vệ quê hương Cho nên ở
sơ đồ này chúng ta có thể chia thành hai nhánh lớn về hình tượng rừng Xà Nu và
vẻ đẹp con người Tây Nguyên Từ hai nhánh lớn tỏa ra các nhánh nhỏ cụ thể hơn về vẻ đẹp của hai hình tượng này
Trang 10Rừng Xà Nu
Ca ngợi vẻ đẹp con người Tây Nguyên
Hình tượng Xà Nu mang nhiều ý nghĩa
Cụ Mết già làng vững chắc Hình tượng T Nú
Mai biểu tượng cho thế hệ trẻ
Dít, bé Heng thế hệ tương lai nối tiếp
Chịu thương tích, chết chóc Ham ánh sáng mặt trời Sức sống mãnh liệt
Có mặt trong sự kiện của làng Gắn bó với người dân Tây Nguyên
Mưu trí, dũng cảm Yêu nước sâu sắc Giàu tình yêu thương Trung thành với cách mạng