1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN Nâng cao kĩ năng xây dựng đề đọc hiểu môn Ngữ văn cho giáo viên THPT

20 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 310,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN Nâng cao kĩ năng xây dựng đề đọc hiểu môn Ngữ văn cho giáo viên THPT SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA TRƯỜNG THPT CHUYÊN LAM SƠN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NÂNG CAO KĨ NĂNG XÂY DỰNG ĐỀ ĐỌC HIỂU MÔN NGỮ VĂN CHO GIÁO VIÊN THPT Người thực hiện Lê Thu Trang Chức vụ Giáo viên Đơn vị công tác Trường THPT chuyên Lam Sơn SKKN thuộc môn Ngữ văn THANH HÓA NĂM 2017 SangKienKinhNghiem net 1 MỤC LỤC 1 MỞ ĐẦU 2 1 1 Lí do chọn đề tài 2 1 2 Mục đích nghiên cứu 3 1 3 Đối tượng nghiên cứu 3 1 4 Phương pháp nghiên[.]

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT CHUYÊN LAM SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Người thực hiện: Lê Thu Trang Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường THPT chuyên Lam Sơn SKKN thuộc môn: Ngữ văn

THANH HÓA NĂM 2017

Trang 2

MỤC LỤC

1 MỞ ĐẦU 2

1.1 Lí do chọn đề tài 2

1.2 Mục đích nghiên cứu 3

1.3 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

2 NỘI DUNG 4

2.1 Cơ sở lí luận 4

2.1.1 Quan niệm về đọc hiểu 4

2.1.2 Văn bản đọc hiểu 5

2.2 Thực trạng vấn đề 6

2.3 Một số biện pháp nâng cao kĩ năng xây dựng đề đọc hiểu môn Ngữ văn cho Giáo viên THPT 7

2.3.1 Nắm vững cấu trúc của đề thi và sự thay đổi theo từng năm 7

2.3.2 Kĩ năng chọn văn bản đọc hiểu khi xây dựng đề 11

2.3.3 Nắm vững vùng kiến thức thường xuất hiện trong dạng đề Đọc hiểu văn bản khi xây dựng câu hỏi 13

2.3.4 Nắm vững ma trận của đề với số lượng câu hỏi và mức độ nhận thức cụ thể cho từng câu hỏi 15

2.3.5 Xây dựng đáp án và thang điểm; đối chiếu xem xét lại đề 16

2.4 Xây dựng thực hành một số đề Đọc hiểu văn bản 16

2.5 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục 19

3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 20

3.1 Kết luận 20

3.2 Kiến nghị 20

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

Trang 3

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài

Dựa trên tinh thần của Nghị quyết 29 – NQ/TW về “Đổi mới căn bản,

toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” của hội nghị lần thứ 8 BCH Trung ương Đảng khóa XI, từ năm học 2014 –

2015, Bộ GD&ĐT đã thực hiện việc đổi mới kiểm tra đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn trong kì thi tốt nghiệp THPT theo hướng đánh giá năng lực học sinh nhưng ở mức độ phù hợp Cụ thể là tập trung đánh giá học sinh ở hai kĩ năng quan trọng: kĩ năng đọc hiểu văn bản và kĩ năng tạo lập văn bản Theo đó, cấu trúc đề thi tốt nghiệp môn Ngữ Văn gồm 2 phần: Phần đọc hiểu và Phần làm văn (viết), trong đó tỷ lệ điểm của phần Làm văn nhiều hơn phần đọc hiểu

Mặc dù tỷ lệ điểm chiếm khoảng 30% tổng điểm số bài làm nhưng Phần đọc - hiểu trong đề thi môn Ngữ văn là một phần quan trọng và có khả năng quyết định cao tới điểm thi toàn bài, từ đó ảnh hưởng tới kết quả của bài thi THPT Quốc gia Hơn nữa, năng lực đọc hiểu trong môn Ngữ văn còn giúp các em ứng dụng

rất nhiều trong cuộc sống Chính vì thế từ năm 2014 dạng câu hỏi Đọc hiểu bắt đầu được đưa vào đề thi để thay thế cho dạng câu hỏi tái hiện kiến thức

Có thể nói đây là sự đổi mới tích cực trong cách ra đề Ngữ văn theo định

hướng mới Nếu dạng câu hỏi tái hiện kiến thức chỉ có thể kiểm tra học sinh ở mức

nhận biết, thông hiểu, (có biết, hiểu, nắm được những kiến thức văn học đã được

dạy trong chương trình hay không) thì dạng câu hỏi Đọc hiểu đã nâng cao hơn một mức vận dung thấp, vận dụng sáng tạo (kiểm tra, phát triển được năng lực tự cảm

nhận một văn bản bất kì, dù văn bản đó hoàn toàn xa lạ đối với các em)

Tuy nhiên, câu hỏi đọc hiểu là một kiểu dạng đề khá mới mẻ được đưa vào đề thi THPT quốc gia nên ở cả chương trình Ngữ văn Cơ bản và Nâng cao

nó chưa được cụ thể hóa thành một bài học riêng, cụ thể Dạng câu hỏi này cũng không có nhiều tài liệu, bài viết chuyên sâu để giáo viên – học sinh có thể tham khảo Hơn nữa thực tế dạng câu hỏi đọc hiểu rất phong phú, đa dạng; lý thuyết

Trang 4

đọc – hiểu lại nằm ở diện rộng rải rác từ chương trình học ngữ văn THCS (lớp 6,7,8,9) đến ngữ văn THPT (lớp 10,11,12) Ngữ liệu có thể nằm trong chương trình sách giáo khoa và cả ngoài sách giáo khoa

Chính vì thế mà không ít giáo viên ôn thi THPT quốc gia tỏ ra lúng túng khi xây dựng đề, khi hướng dẫn học sinh làm bài Điều đó cũng ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng, kết quả bài thi của học sinh

Với những lí do trên, chúng tôi xin được mạnh dạn trao đổi với các bạn

đồng nghiệp một số kinh nghiệm về Nâng cao kĩ năng xây dựng đề đọc hiểu

môn Ngữ văn cho Giáo viên THPT

1.2 Mục đích nghiên cứu

Với sáng kiến kinh ngiệm này, chúng tôi muốn nhấn mạnh vai trò quan trọng của dạng câu hỏi đọc hiểu trong đề thi văn THPT quốc gia hiện nay Đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng trong kĩ năng ra đề đọc hiểu của người giáo viên Từ đó hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả phần đọc hiểu trong bài thi môn Ngữ văn của học sinh

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Khi đi sâu tìm hiểu vấn đề này, đối tượng nghiên cứu mà chúng tôi hướng đến đó là:

- Dạng câu hỏi đọc hiểu trong đề thi văn THPT quốc gia

- Kĩ năng ra đề đọc hiểu môn văn của Giáo viên THPT

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Khảo sát thống kê

- So sánh đối chiếu

- Phân tích tổng hợp

Trang 5

2 NỘI DUNG

2.1 Cơ sở lí luận

2.1.1 Quan niệm về đọc hiểu

Đọc hiểu là hoạt động cơ bản của con người để chiếm lĩnh văn hóa Khái niệm đọc hiểu (comprehension reading) có nội hàm khoa học phong phú, có nhiều cấp độ gắn liền với lí luận dạy học văn, lí thuyết tiếp nhận tâm lí học nghệ thuật, lí thuyết giao tiếp thi pháp học, tường giải học văn bản học … Trong đó,

“Đọc” là một hoạt động của con người, dùng mắt để nhận biết các kí hiệu và chữ viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc và sử dụng bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe Còn

“Hiểu” là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của mối quan hệ đó “Hiểu” còn là sự bao quát hết nội dung

và có thể vận dụng vào đời sống “Hiểu” là phải trả lời được các câu hỏi Cái gì?

Như thế nào? Làm thế nào?

Đọc hiểu là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phân tích, khái quát, biện luận đúng – sai về logic, nghĩa là kết hợp với năng lực, tư duy và biểu đạt Mục đích trong tác phẩm văn chương, Đọc hiểu là phải thấy được: Nội dung của văn bản; mối quan hệ ý nghĩa của văn bản do tác giả tổ chức và xây dựng; ý đồ, mục đích; thấy được tư tưởng của tác giả gửi gắm trong tác phẩm; giá trị đặc sắc của các yếu tố nghệ thuật; ý nghĩa của từ ngữ được dùng trong cấu trúc văn bản; thể loại của văn bản, hình tượng nghệ thuật…

Lâu nay trong dạy học văn, người ta thường dùng thuật ngữ là giảng văn, phân tích văn…song từ khi thay sách đã thay bằng thuật ngữ Đọc hiểu văn bản Đây không chỉ là sự thay đổi về tên gọi mà thực chất là sự thay đổi quan niệm

về bản chất của môn văn, cả về phương pháp dạy học văn và các hoạt động khi tiếp nhận tác phẩm văn học cũng có những thay đổi Theo Giáo sư – Tiến sĩ

Nguyễn Thanh Hùng “Đọc hiểu là một khái niệm khoa học chỉ mức độ cao nhất

của hoạt động đọc; đọc hiểu đồng thời cũng chỉ năng lực văn của người đọc”.“Đọc hiểu là hoạt động truy tìm và giải mã ý nghĩa văn bản” Còn với

Trang 6

Giáo sư Trần Đình Sử “Đọc hiểu văn bản như một khâu đột phá trong việc đổi

mới dạy học và thi môn Ngữ văn, là yêu cầu bức thiết đối với việc đào tạo nguồn nhân lực mới cho đất nước tiến theo các nước tiên tiến”

Như vậy, đọc hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn bản thông qua khả năng tiếp nhận của học sinh Đọc hiểu là tiếp xúc với văn bản, hiểu được nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông hiểu các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật

Với quan điểm phát huy vai trò chủ thể của học sinh, xuất phát từ đặc thù của văn chương (nghệ thuật ngôn từ), mà vấn đề đọc hiểu văn bản ngày càng được quan tâm

2.1.2 Văn bản đọc hiểu

Thuật ngữ “văn bản” được dùng để chỉ phương tiện ghi tin và truyền đạt thông tin bằng ngôn ngữ (hay ký hiệu) nhất định Nó là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, được diễn đạt bằng hình thức chữ viết Văn bản có sự thống nhất về chủ đề; các câu văn kết cấu mạch lạc, có trình tự, và đều hướng tới một mục đích giao tiếp nhất định Văn bản được sáng tạo bởi một hay nhiều người được gọi là tác giả và người đọc là người tiếp nhận văn bản Tác giả và người đọc có mối tương tác với nhau Không có người đọc, văn bản chỉ tồn tại như một vật thể

Tùy theo lĩnh vực hoạt động liên quan đến đời sống xã hội mà văn bản được sản sinh ra với các nội dung và hình thức khác nhau

Trong chương trình Ngữ văn của Việt Nam có đề cập đến hai loại văn bản

để dạy đọc hiểu, đó là: Văn bản văn học và Văn bản nhật dụng

Văn bản văn học (nghệ thuật) là khái niệm dùng để chỉ các loại hình văn chương như thơ ca, tiểu thuyết, tản văn, ký sự, kịch bản văn học, kịch bản điện ảnh v v Đó là những văn bản được viết theo phong cách ngôn ngữ nghệ thuật – kiểu ngôn ngữ không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của con người Đây cũng là thứ ngôn ngữ được tổ chức, sắp xếp, lựa chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật, thẩm

Trang 7

mỹ cao Mỗi văn bản văn chương bao giờ cũng là lời nhắn gửi trực tiếp hay gián tiếp, kín đáo hay công khai của người viết vế con người và cuộc sống

Ngôn ngữ nghệ thuật khá đa dạng về thể loại, phong phú về màu sắc, biến hóa về tính sáng tạo và thống nhất ở ba đặc tính cơ bản là tính hình tượng, tính biểu cảm và tính hàm súc

Theo sách Ngữ văn 12, tập một - nâng cao, Văn bản nhật dụng không phải là một khái niệm chỉ thể loại văn học hoặc kiểu văn bản Nói đến loại văn bản này, người ta thường xuất phát từ góc độ chức năng, đề tài và tính cập nhật của nội dung được đề cập Cho nên, nói văn bản nhật dụng là nói tính chất của nội dung văn bản Đó là những vấn đề gần gũi và bức xúc của đời sống hiện tại như chống chiến tranh, gìn giữ hòa bình, bảo vệ môi trường, phòng chống tệ nạn

xã hội (ma túy, mại dâm, ngược đãi đối với trẻ em và phụ nữ, đại dịch HIV/AIDS, tham nhũng, ), thực hiện bình đẳng giới, hạn chế gia tăng dân số, đổi mới tư duy, Xét về mặt hình thức, văn bản nhật dụng có thể được thể hiện bằng hầu hết các thể loại văn học cũng như các kiểu văn bản Tuy nhiên, do tính thời sự cao nên các tác phẩm thông tấn - báo chí thường phù hợp hơn

Trong chương trình Ngữ văn của Việt Nam đề cập đến cả hai loại văn bản trên để làm ngữ liệu dạy đọc hiểu Trong đó các văn bản được xếp theo tiến trình

lịch sử hoặc theo thể loại Các văn bản văn học thường đa dạng hơn các văn bản

nhật dụng, nhưng các văn bản nhật dụng lại gần sát hơn với những vấn đề nóng của cuộc sống, có khả năng khơi gợi được nhiều suy nghĩ, quan điểm của người viết

2.2 Thực trạng vấn đề

Từ năm 2014, Bộ GD&ĐT đưa phần Đọc hiểu vào đề thi môn Ngữ văn và

từ những năm tiếp theo, cấu trúc của đề đọc hiểu luôn có sự thay đổi cho phù hợp với yêu cầu của thực tế Việc làm này có tác động tích cực đến quá trình rèn khả năng tiếp nhận Văn bản đọc hiểu của các em nhưng đồng thời cũng gây nên những lúng túng cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy – học Bởi đây là một kiểu dạng đề mới mẻ được đưa vào đề thi THPT quốc gia nên ở cả chương trình Ngữ văn Cơ bản và Nâng cao nó chưa được cụ thể hóa thành một bài học

Trang 8

riêng, cụ thể Dạng câu hỏi này cũng không có nhiều tài liệu, bài viết chuyên sâu

để giáo viên – học sinh có thể tham khảo Vì thế, giáo viên còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình xây dựng một đề đọc hiểu chuẩn theo cấu trúc từ lựa chọn văn bản, xây dựng câu hỏi theo các mức độ phù hợp… Học sinh lại lúng túng khi làm bài; cách trả lời lan man, không tập trung đúng yêu cầu của câu hỏi

Trước thực tế khó khăn như thế trong vấn đề dạy – học dạng đề đọc hiểu, đòi hỏi cần phải có những biện pháp, cách thức giải quyết kịp thời, hợp lí Bản thân người viết thiết nghĩ, để có kết quả cao nhất đối với học sinh, chính những thầy cô đứng trên bục giảng làm nhiệm vụ gợi mở, dẫn dắt phải là những người tiên phong đi đầu Trong đó nâng cao kĩ năng biên soạn đề, xây dựng đáp án là việc làm quan trong đầu tiên cần hướng đến Bởi người giáo viên có kiến thức chuẩn, năng lực chuyên môn vững vàng, có sự nhanh nhạy, linh hoạt, sáng tạo với cái mới thì mới có thề xây dựng được những đề thi chuẩn, phù hợp với yêu cầu dạy, học và thi cử hiện nay Từ những đề thi hay, chuẩn mực, thầy cô mới

có thể hướng dẫn học sinh học tốt, làm bài hiệu quả, đạt kết quả cao trong kì thi quan trọng THPT Quốc gia

2.3 Một số biện pháp nâng cao kĩ năng xây dựng đề đọc hiểu môn Ngữ văn cho Giáo viên THPT

2.3.1 Nắm vững cấu trúc của đề thi và sự thay đổi theo từng năm

Để có thể xây dựng được đề đọc hiểu sát với đề thi của Bộ, trước hết mỗi giáo viên cần nắm vững cấu trúc của đề thi nói chung, cấu trúc của phần đọc hiểu nói riêng cũng như sự thay đổi của cấu trúc ấy theo từng năm cụ thể

Nhìn lại một số năm gần đây, đề thi Đại học môn Ngữ văn luôn có sự thay đổi trong cấu trúc để phù hợp với công cuộc đổi mới giáo dục Cấu trúc một đề thi

Ngữ văn từ 2010 đến 2015 luôn có 3 dạng bài, trong đó có 2 dạng ổn định là Nghị luận xã hội và Nghị luận văn học Riêng từ năm 2014, dạng câu hỏi tái hiện kiến

thức về giai đoạn văn học, tác giả, tác phẩm Văn học Việt Nam được thay đổi sang

dạng đề Đọc hiểu văn bản nhằm kiểm tra năng lực đọc hiểu của học sinh, năng lực

Trang 9

tự mình cảm thụ, tìm hiểu, khám phá văn bản Và cũng từ năm 2014 đến nay, cấu trúc của riêng phần thi Đọc hiểu cũng đã có nhiều thay đổi

Năm 2014 là năm đầu tiên đưa dạng Đọc hiểu vào đề thi, đề chỉ gồm một văn bản duy nhất và vẫn giữ thang điểm giữa các câu, các dạng là 2 – 3 – 5 điểm (Đọc hiểu – Nghị luận xã hội – Nghị luận văn học)

Đến 2015, phần Đọc hiểu có 2 văn bản; thang điểm mới là 3 – 3 – 4 Như vậy, điểm được phân bố đều hơn giữa các phần, các dạng bài Điều này đòi hỏi thí sinh phải có kiến thức và kĩ năng, năng lực toàn diện chứ không chỉ học tủ, học vẹt Cấu trúc này được duy trì trong đề thi năm 2016

Như vậy, có thể thấy hai năm gần đây nhất, phần đọc hiểu trong đề thi THPT quốc gia gồm 2 văn bản và 8 câu hỏi theo cấu trúc như sau:

Phần 1: Đưa ra một văn bản (văn bản văn học hoặc văn bản nhật dụng, văn xuôi hoặc thơ, có thể là một văn bản hoàn chỉnh hoặc một đoạn trích )

Phần 2: Đưa ra các câu hỏi theo các mức độ nhận thức từ thấp đến cao: từ nhận biết -> thông hiểu -> vận dụng

Ví dụ: Trong Đề thi THPT Quốc gia 2016 môn Ngữ văn, phần Đọc hiểu (3,0 điểm) gồm 2 văn bản:

Văn bản 1: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

Ch ưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói

V ầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ

Ôi ti ếng Việt như bùn và như lụa

Óng tre ngà và m ềm mại như tơ

Ti ếng tha thiết, nói thường nghe như hát

K ể mọi điều bằng ríu rít âm thanh

Nh ư gió nước không thể nào nắm bắt

D ấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh

D ấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy

M ột tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn

Nghe mát l ịm ở đầu môi tiếng suối

Ti ếng heo may gợi nhớ những con đường

M ột đảo nhỏ xa xôi ngoài biển rộng

V ẫn tiếng làng tiếng nước của riêng ta

Ti ếng chẳng mất khi Loa Thành đã mất Nàng M ị Châu quỳ xuống lạy cha già.

Ti ếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng

D ưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi

Ti ếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán Thành Nguy ễn Du vằng vặc nỗi thương

đời (Trích Tiếng Việt – Lưu Quang Vũ)

Trang 10

Câu 1 Sự mượt mà và tinh tế của tiếng Việt được thể hiện ở những từ ngữ nào trong khổ thơ thứ nhất?

Câu 2 Kể tên hai biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ thứ hai và thứ ba

Câu 3 Nêu nội dung chính của đoạn trích

Câu 4 Từ đoạn trích, anh/ chị hãy bày tỏ cảm nghĩ của mình về tiếng Việt (Trình bày khoảng 7 đến 10 dòng)

Văn bản 2: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:

“Cuộc sống riêng không biết gì hết ở bên kia ngưỡng cửa nhà mình là một cuộc sống nghèo nàn, dù nó có đầy đủ tiện nghi đến đâu đi nữa Nó giống như một mảnh vườn được chăm sóc cẩn thận, đầy hoa thơm, sạch sẽ và gọn gàng Mảnh vườn này có thể làm chủ nhân của nó êm ấm một thời gian dài, nhất là khi lớp rào bao quanh không còn làm họ vướng mắt nữa Nhưng hễ có một cơn dông tố nổi lên là cây cối sẽ bị bật khỏi đất, hoa sẽ nát và mảnh vườn

sẽ xấu xí hơn bất kì một nơi hoang dại nào Con người không thể hạnh phúc với một hạnh phúc mong manh như thế Con người cần một đại dương mênh mông

bị bão táp làm nổi sóng nhưng rồi lại phẳng lì và trong sáng như trước Số phận cảu những cái tuyệt đối cá nhân không bộc lộ ra khỏi bản thân, chẳng có gì đáng thèm muốn.” (Theo A L Ghéc-xen, Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục

Việt Nam, 2015, tr.31)

Câu 5 Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích

Câu 6 Vẻ bề ngoài đẹp đẽ của “cuộc sống riêng không biết gì hết ở bên kia ngưỡng cửa nhà mình” được thể hiện rõ nhất qua hình ảnh so sánh nào?

Câu 7 Tại sao tác giả cho rằng: “Số phận của những cái tuyệt đối cá nhân, không bộc lộ ra khỏi bản thân, chẳng có gì đáng thèm muốn”?

Câu 8 Anh/ Chị suy nghĩ như thế nào về cuộc sống của con người khi thoát ra khỏi “cái tuyệt đối cá nhân”? (Trình bày khoảng 7 đến 10 dòng)

Nếu cấu trúc đề của năm 2016 và những năm trước đó, phần một Đọc hiểu (3 điểm) có phần dàn trải, gồm 2 ngữ liệu (thơ và văn) với 8 câu hỏi thì năm nay 2017, theo thông tin của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Phần Đọc hiểu chỉ

Ngày đăng: 22/05/2022, 05:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w