1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN Phương pháp tạo hứng thú học văn bản nghị luận cho học sinh qua phần Đọc – hiểu Ngữ văn 8

20 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 322,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN Phương pháp tạo hứng thú học văn bản nghị luận cho học sinh qua phần Đọc – hiểu Ngữ văn 8 MỤC LỤC TT Nội dung Trang 1 Mở đầu 1 1 1 Lí do chọn đề tài 1 1 2 Mục đích nghiên cứu 2 1 3 Đối tượng nghiên cứu 2 1 4 Phương pháp nghiên cứu 2 2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2 2 1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 2 2 2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN 3 2 3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 5 2 3 1 Tái hiện không khí lịch sử, thời đại, tình huống tạo nên tác phẩm 5 2 3 2 Hư[.]

Trang 1

MỤC LỤC

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 5

2.3.1 Tái hiện không khí lịch sử, thời đại, tình huống tạo nên tác phẩm 5

2.3.2 Hướng dẫn học sinh đọc tốt văn bản nghị luận 6

2.3.3 Giảng bình trong giờ đọc – hiểu văn bản nghị luận 8

2.3.5 Tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm khi dạy đọc – hiểu văn bản 9

2.3.6 Kiểm tra, đánh giá trong dạy học đọc – hiểu văn bản nghị luận 10

Trang 2

1 Mở đầu.

1.1 Lí do chọn đề tài

Việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn hiện nay đã và đang thực sự là yếu

tố quyết định hiệu quả giờ dạy Phương pháp dạy học đổi mới chú trọng đến việc phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh, làm cho học sinh ham thích môn học Dạy văn và học văn, điều cơ bản là ở sự hứng thú Tuy nhiên hiện nay trong chương trình Ngữ văn THCS việc dạy và học phần văn bản nghị luận gặp nhiều khó khăn Vì giáo viên và học sinh không mấy hứng thú nên hiệu quả giờ dạy không cao Xuất phát từ đặc trưng của thể loại:

Mục đích của văn bản nghị luận: Phát ngôn cho một quan điểm, một tư tưởng, một chủ trương, một lập trường xã hội nhất định Vì thế, nội dung thường là các vấn đề có tính chất thời sự, chính trị, những chủ trương lớn của dân tộc, thời kì lịch sử tương đối rộng với tầm hiểu biết của học sinh

Về hình thức: Văn nghị luận thường sử dụng hệ thống lập luận chặt chẽ, nhiều lí

lẽ, đa dạng về phương thức biểu hiện và các phương tiện nghệ thuật

Về đặc điểm: Khô khan, ít phù hợp với tâm lí và nhận thức của học sinh; ít tính văn chương, khó đi vào cảm xúc người đọc; ý tưởng cao sâu thâm thúy khó nắm bắt

Về nguồn tư liệu bổ trợ cho dạy và học không nhiều

Quan niệm tác phẩm nghị luận vừa khó vừa khô, hình như đã ít nhiều ám ảnh trong nhận thức của người dạy và người học Bản thân tôi thời điểm mới vào ngành cũng có ý ngần ngại không mấy hứng thú với văn nghị luận Để ý quan sát đồng nghiệp, tôi cũng dễ nhận ra sự "đồng cảm" không đáng có này Dạy thì vẫn dạy, nhưng khi chọn bài để thao giảng hay để nhóm chuyên môn của trường mình, trường bạn và cấp trên về dự, tỉ lệ các bài được chọn là văn nghị luận thường là rất

ít, mọi người hay né tránh Chẳng hạn giữa hai bài "Ngắm trăng" (Vọng nguyệt) và bài "Chiếu dời đô" (Thiên đô chiếu) ít người chọn bài thứ hai để thao giảng

Từ thực tế này, tôi muốn tìm ra hứng thú để dạy và đặc biệt giúp cho học sinh

có hứng thú để học phần tác phẩm nghị luận Trong quá trình giảng dạy, nghiên cứu, tìm hiểu và dạy thử thành công, từ kinh nghiệm của bản thân tôi xin mạnh dạn giới thiệu để các đồng nghiệp cùng tham khảo và giúp học sinh học văn nghị luận cũng say sưa, thích thú như học các thể loại khác Đó chính là lí do tôi chọn đề tài:

Phương pháp tạo hứng thú học văn bản nghị luận cho học sinh qua phần Đọc – hiểu Ngữ văn 8”.

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu: “Phương pháp tạo hứng thú học văn bản nghị luận cho học sinh qua phần Đọc – hiểu Ngữ văn 8”, với mục đích cơ bản sau: Trình bày

một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh giờ dạy Đọc – hiểu các văn bản

Trang 3

nghị luận ở lớp 8 Từ đó giúp các em nắm vững kiến thức, yêu thích môn học, rèn luyện cho học sinh tư duy lô gíc; kĩ năng lập luận sắc bén, năng lực biểu đạt những quan niệm, tư tưởng một cách sâu sắc và bản lĩnh, tinh thần tự chủ trước đời sống nhờ vậy mà nâng cao chất lượng dạy và học Đồng thời đề tài này có thể chia sẻ cùng giáo viên dạy Ngữ văn khi tiếp cận với các văn bản nghị luận ở lớp 8 và các lớp khác qua các bài cụ thể

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài hướng tới đối tượng là: “Phương pháp tạo hứng thú học văn bản nghị luận cho học sinh qua phần Đọc – hiểu Ngữ văn 8” Nghiên cứu hứng thú,

kết quả học tập phần văn bản nghị luận của học sinh qua tiết Đọc – hiểu Ngữ văn 8

1.4 Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp điều tra sư phạm

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết; khảo sát thực tế, thu thập thông tin; thống kê, xử lý số liệu

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Luật Giáo dục sửa đổi năm 2009, Điều 24.2, đã ghi: "Phương pháp giáo dục

phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

Hứng thú là thái độ cảm xúc đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó,

nó có ý nghĩa đối với cuộc sống và có khả năng mang lại khoái cảm trong quá trình hoạt động Khi học sinh có hứng thú thì trong giờ học biểu hiện ở sự say mê, chăm chú nghe giảng; ghi chép bài đầy đủ, cẩn thận; tích cực suy nghĩ, hăng hái phát biểu xây dựng bài, hay nêu thắc mắc với giáo viên; tích cực làm việc cùng nhóm để hoàn thành nhiệm vụ Ở ngoài lớp và về nhà, các em tự giác học bài và làm bài đầy đủ; tự sưu tầm, đọc thêm nhiều tài liệu, sách báo có liên quan đến môn học

Văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ văn lớp 8, đa số là những tác phẩm có lịch sử lâu đời, nó không chỉ có ý nghĩa đối với những vấn đề lớn lao của dân tộc như công cuộc dựng nước, giữ nước, canh tân đất nước, mà còn rất gần gũi

và có ý nghĩa trong đời sống con người hiện nay Vì vậy, văn bản nghị luận được tuyển chọn dạy trong chương trình Ngữ văn 8 rất phong phú về đề tài và đa dạng về thể loại như chiếu, hịch, cáo, tấu Giáo viên dạy những tác phẩm nghị luận đó như

Trang 4

thế nào trong những giờ Đọc – hiểu để trả lại vẻ hấp dẫn thẩm mỹ đích thực của

những tá phẩm này

Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về đọc – hiểu văn bản, song đọc – hiểu

được dùng trong sách giáo khoa Ngữ văn mới bao gồm toàn bộ hoạt động cảm thụ,

phân tích và tiếp nhận văn bản Đọc – hiểu ở đây không chỉ là đọc và thông hiểu

nội dung của văn bản mà còn bao gồm đọc, phát hiện, tưởng tượng, liên tưởng, cắt

nghĩa, lí giải, phân tích, đánh giá, khái quát Đọc – hiểu nhấn mạnh đến vai trò chủ

động, sáng tạo của người học

Tất cả những kiến thức lí thuyết trên là cơ sở để tôi thực hiện đề tài sáng

kiến kinh nghiệm này Bên cạnh đó, tôi cũng khảo sát thực trạng Đọc – hiểu văn

bản nghị luận lớp 8 ở đơn vị trường để có giải pháp thực hiện hợp lí, hiệu quả

2.2 Thực trạng của vấn đề:

Đơn vị trường tôi đang trực tiếp giảng dạy là một xã xa trung tâm, điều kiện

kinh tế còn nhiều khó khăn nên ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng giáo dục

Chương trình Ngữ văn lớp 8 được học 6 văn bản nghị luận, trong đó có 4 văn

bản nghị luận trung đại được thể hiện bằng những thể văn cổ như: chiếu, hịch, tấu,

cáo; một văn bản nghị luận hiện đại Việt Nam và một văn bản nghị luận nước

ngoài Mỗi thể loại có những cách diễn đạt, ngôn ngữ, tính chất nghị luận mang

những sắc thái đặc thù riêng Những văn bản nghị luận trung đại có nhiều từ ngữ

cổ, nhiều hình ảnh giàu tính ước lệ, câu văn biền ngẫu sóng đôi nhịp nhàng, dùng

nhiều điển tích, điển cố Với đối tượng là học sinh lớp 8 đây là kiến thức vừa mới

lại vừa khó nên khó khăn trong việc tổ chức cho học sinh tiếp nhận và cảm thụ một

cách sâu sắc giá trị nội dung và nghệ thuật của các văn bản đó

Về phía giáo viên, trong thực tế giảng dạy, qua thăm dò ý kiến, dự giờ của

đồng nghiệp cho thấy giờ đọc – hiểu văn bản nghị luận đôi khi được tiến hành như

một giờ lí thuyết Tập làm văn về văn nghị luận Điều này khiến cho việc đọc – hiểu

văn bản nghị luận vốn đã nặng nề, kém hứng thú lại càng nặng nề, khô khan hơn

Đối với học sinh, tình trạng các em chưa chăm chú nghe thầy cô giảng dạy,

chưa tích cực suy nghĩ, phát biểu xây dựng bài, có làm bài tập nhưng còn sơ sài đối

phó, còn ngại đọc sách, đọc tài liệu, không say mê với việc tìm hiểu những vấn đề

thuộc lĩnh vực trừu tượng, khó hiểu của văn bản nghị luận còn nhiều Phong trào

học tập, thời gian cũng như sự quan tâm của phụ huynh còn quá hạn chế Học sinh

chưa có điều kiện giao lưu học hỏi kiến thức của các bạn trong địa phương cũng

như các xã bạn nên ảnh hưởng không nhỏ đến sự cập nhật, mở rộng, nâng cao tầm

nhận thức, hiểu biết, đặc biệt là khả năng tư duy ở các em

Ở lớp 7, các em đã được học 4 văn bản nghị luận hiện đại, còn lại chủ yếu là học các văn bản tự sự, trữ tình Tuy đã được học nhưng do thực trạng dạy và

học của học sinh như đã nói ở trên nên thói quen của các em vẫn chỉ là tư duy

hình ảnh theo phản ánh một chiều đối với hiện thực khách quan Vì vậy mà tư duy

lập luận lôgic của các em chưa được định hình, trong khi đó văn bản nghị luận đòi

hỏi yêu cầu cao hơn về tính khoa học, tính lôgic, tính biện chứng Đây là khó khăn

Trang 5

lớn nhất từ phía học sinh khi học văn bản này Bởi vậy, sự tiếp nhận kiến thức mới

về văn bản nghị luận đối với các em là rất khó, ảnh hưởng rất nhiều đến sự lắng đọng kiến thức mà giáo viên muốn truyền thụ đến các em, đặc biệt là ảnh hưởng đến tâm lí ngại và sợ học văn bản nghị luận

Từ thực trạng trên, tôi đã tiến hành phát phiếu thăm dò ý kiến học sinh về quan điểm, hứng thú đối với việc học các văn bản nghị luận ở lớp 8A, 8C của trường năm học 2015 – 2016 Phiếu trắc nghiệm đối với số học sinh là: 65 em Nội dung thăm dò

Trong sáu kiểu văn bản các em đã được học: miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, hành chính – công vụ Em thích, không thích học những kiểu văn bản nào? Đánh dấu (x) vào các cột tương ứng trong bảng sau:

Kiểu văn bản Thích học Có giờ không thích học giờ thích học, có thích Không học

Miêu tả

Biểu cảm

Nghị luận

Thuyết minh

Hành chính – công vụ

Qua hình thức phát phiếu, thu phiếu, tổng hợp, kết quả thăm dò cụ thể như sau:

Mức độ hứng thú

Thích học Có học, có giờ giờ thích

không thích học

Không thích học

Tổng

số HS Kiểu văn bản

65

Nhìn vào bảng kết quả trên, so với các kiểu văn bản khác, văn bản nghị luận

có tỉ lệ học sinh thích học thấp nhất, học sinh không thích học chiếm tỉ lệ cao

Từ mức độ hứng thú học tập của học sinh đối với kiểu văn bản nghị luận, tôi tiến hành khảo sát chất lượng học tập của các em.Đề khảo sát tôi đưa ra như sau:

Em nắm được những nội dung và đặc điểm nghệ thuật gì của các văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ văn lớp 8?

Cụ thể kết quả:

Trang 6

Nắm vững Nắm khá Chưa nắm vững Không hiểu

Như vây, mức độ hứng thú có liên quan trực tiếp đến chất lượng học văn bản nghị luận của học sinh

Từ kết quả thực tế trên, trong quá trình dạy học bản thân tôi đã nghiên cứu, tìm tòi, áp dụng các giải pháp để nâng cao hiệu quả dạy học kiểu văn bản nghị luận Các giải pháp đã được tôi áp dụng ở các năm học 2015 – 2016, 2016 - 2017 Kết qủa rất khả quan, nhất là ở năm học 2016 - 2017

2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện:

Để tạo nên sự hứng thú cho học sinh học văn bản nghị luận, ngoài những phương pháp cơ bản, đặc thù của môn dạy, bản thân tôi đã nghiên cứu, áp dụng một

số phương pháp sau:

- Tái hiện không khí lịch sử, thời đại, tình huống tạo nên tác phẩm

- Hướng dẫn học sinh đọc tốt văn bản nghị luận

- Giảng bình trong giờ đọc – hiểu văn bản nghị luận

- Liên hệ với thực tế

- Tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm khi dạy đọc – hiểu văn bản

- Kiểm tra, đánh giá trong dạy học đọc – hiểu văn bản nghị luận

Với mỗi giải pháp đã nêu, tôi đã xác định rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của mỗi giải pháp, từ đó, căn cứ vào mục tiêu của bài học để đưa ra các biện pháp tổ chức dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh của từng lớp, từng văn bản

2.3.1 Tái hiện không khí lịch sử, thời đại, tình huống tạo nên tác phẩm

Mỗi văn bản nghị luận thường được ra đời trong những tình huống, hoàn cảnh khá đặc biệt Những chi tiết xúc động về tác giả, những câu chuyện lịch sử thú

vị liên quan đến tác phẩm và sự ra đời của tác phẩm thường rất dễ gây được sự tò

mò, hứng thú của học sinh Vì vậy, để tạo tâm thế cho học sinh sẵn sàng đi vào tác phẩm cần tái hiện sinh động không khí lịch sử, thời đại, tình huống đã sản sinh ra tác phẩm Các hình thức tái hiện này, tôi sử dụng vào quá trình kiểm tra bài cũ, giới thiệu bài mới Với mỗi văn bản cụ thể, tôi có cách thức thực hiện khác nhau Sưu tầm những hình ảnh minh họa để học sinh dễ hình dung

Ví dụ: Dạy văn bản Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn

Trước khi vào bài học mới tôi giới thiệu câu chuyện lịch sử liên quan đến sự

ra đời của tác phẩm: Tháng 12 năm Giáp Thân 1284, niên hiệu Thiệu Bảo năm thứ

6, đời Trần Nhân Tông, đại binh Thoát Hoan tiến đánh Chi Lăng, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn thất thế đưa quân chạy về Vạn Kiếp Vua Nhân Tông thấy thế giặc mạnh, cho mời Hưng Đạo Vương về Hải Dương mà phán rằng:

"Thế giặc to như vậy, mà chống với chúng thì dân chúng bị tàn sát, nhà cửa

bị phá hại, hay là trẫm sẽ chịu hàng để cứu muôn dân ?"

Trang 7

Hưng Đạo Vương tâu: "Bệ hạ nói câu ấy là lời nhân đức, nhưng Tôn miếu

Xã tắc thì sao? Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin trước hết hãy chém đầu thần đi đã, rồi sau hãy hàng!” Vua Trần Nhân Tông nghe thế yên lòng Hưng Đạo Vương trở về

Vạn Kiếp hiệu triệu 20 vạn quân Nam và thảo bài Dụ chư tỳ tướng hịch văn (gọi là

Hịch tướng sĩ) để khuyên răn tướng sĩ, đại ý khuyên binh sĩ học tập và rèn luyện võ nghệ, khuyên các tướng học tập trận pháp theo sách Binh thư yếu lược, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ 2

Ví dụ: Dạy văn bản Nước Đại Việt ta (trích Bình Ngô đại cáo) của Nguyễn Trãi

Với văn bản này, tôi đưa ra câu hỏi kiểm tra bài cũ để dẫn dắt học sinh tiếp nhận kiến thức văn bản mới bằng phương pháp nêu và giải quyết vấn đề:

Trong lịch sử văn học dân tộc, những tác phẩm nào được coi là Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam? Em đã được học những tác phẩm đó chưa?

Sau khi học sinh trả lời, giáo viên nhận xét, chuẩn kiến thức và định hướng vấn đề: Những tác phẩm được coi là Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam:

“Nam quốc sơn hà” (Ngữ văn lớp 7), “Bình Ngô đại cáo”, “Bản tuyên ngôn độc lập

do Hồ Chí Minh viết, đọc tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, ngày 2 tháng 9 năm

1945 (học trong môn lịch sử)

Cuối năm 1427, Vương Thông, tên tổng chỉ huy quân đội nhà Minh ở Đại Việt đã phải mở cửa thành Ðông Quan đầu hàng Cuộc kháng chiến 10 năm đã kết thúc vẻ vang Mùa xuân năm 1428 thừa lệnh vua Lê, Nguyễn Trãi viết bài cáo (Bình Ngô đại cáo) nhằm tổng kết quá trình kháng chiến và tuyên cáo thành lập

triều đại mới Văn bản Nước Đại Việt ta là phần đầu của bài cáo.

Tôi thực hiện cách thức như trên sẽ thu hút mạnh mẽ trí tò mò, sự thích thú,

độ tập trung chú ý của học sinh; xoá bớt khoảng cách quá xa về không gian, thời gian; tạo sự quan tâm, chia sẻ giữa học sinh với tác giả và những vấn đề được đặt ra trong tác phẩm và mọi sự phân tích, giảng giải của giáo viên về sau là không áp đặt, hình thức

2.3.2 Hướng dẫn học sinh đọc tốt văn bản nghị luận

Đọc là con đường đầu tiên và quan trọng nhất để đến với một tác phẩm văn học Đọc văn bản nghị luận không giống với đọc văn bản tự sự, trữ tình Tác phẩm văn chương hình tượng thường có tính mơ hồ, đa nghĩa, tính mở Thông tin trong văn bản văn chương hình tượng chủ yếu là thông tin hình tượng, hình ảnh, cảm xúc Ngôn ngữ tác phẩm văn chương hình tượng có tính hàm ngôn, đa nghĩa và luôn chuyển nghĩa trong văn cảnh Tư tưởng chủ đề của tác phẩm; quan điểm, thái

độ, tình cảm của tác giả càng được bộc lộ kín đáo bao nhiêu thì tác phẩm càng trở nên ý nhị, sâu sắc bấy nhiêu

Ngược lại, đặc điểm cơ bản của văn nghị luận ở lớp 8 là: các tư tưởng, quan điểm, thái độ của người viết được xác lập, thể hiện một cách rõ ràng, trực tiếp qua ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu Ngôn ngữ trong văn bản nghị luận có tính khách quan, chính xác, tính đơn nghĩa tương đối Vì vậy mà mục đích chính, yêu cầu cơ bản, hình thức biện pháp chủ yểu, yêu cầu về giọng đọc, yêu cầu và thái độ, tình

Trang 8

cảm của việc đọc văn bản nghị luận là khác so với đọc các văn bản văn chương hình tượng Có thể thấy rõ qua bảng so sánh sau:

Loại văn bản

Nội dung

Văn bản văn chương hình

Mục đích chính

của việc đọc Thu cảm xúc, tư tưởng.nhận thông tin, hình ảnh, Thu tưởng, quan điểmnhận thông tin, lí lẽ, tư

Yêu cầu cơ bản Đọc đúng, đọc hay, có khả năng truyền cảm đến người

nghe

Đọc đúng, dõng dạc, có khả năng thuyết phục người nghe

Hình thức, biện

pháp chủ yếu

Đọc diễn cảm, đọc phân vai, đọc kết hợp với bình giảng từ ngữ, hình ảnh, biểu tượng,

Đọc thành tiếng, đọc thầm gắn với việc phát hiện luận điểm, luận cứ, luận chứng

Yêu cầu về giọng

đọc

Phát huy tối đa ưu thế về chất giọng, sức vang ngân của ngôn từ; thay đổi linh hoạt ngữ điệu đọc theo sự biến đổi giọng điệu của tác giả

Giọng đọc dõng dạc, mạch lạc, làm sáng rõ thông tin, lí

lẽ, quan điểm của tác giả

Yêu cầu về thái

độ, tình cảm khi

đọc

Bộc lộ tình cảm, cảm xúc chủ quan trong khi đọc; có khả năng truyền cảm đến người nghe

Giữ thái độ khách quan, sắc thái trung hòa trong khi đọc

để có thể chuyển tải đúng nội dung thông tin của văn bản Tuỳ thuộc vào đặc điểm, thể loại của từng văn bản nghị luận mà tôi xác định, lựa chọn hình thức đọc, biện pháp đọc phù hợp Việc hướng dẫn đọc tốt văn bản và giáo viên đọc mẫu thật tốt là rất cần thiết, có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với sự tiếp nhận của học sinh

Ví dụ:

* Dạy văn bản Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu), tôi hướng dẫn học sinh đọc: Giọng

dõng dạc, khoan thai, hùng hồn; Làm rõ những câu văn biền ngẫu, đối xứng nhau (ví dụ: “Đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây; lại tiện hướng nhìn sông tựa núi Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng” làm cho lời văn cân xứng, nhịp nhàng

* Dạy văn bản Thuế máu (trích Bản án chế độ thực dân Pháp), tôi hướng dẫn học

sinh đọc: Thể hiện giọng mỉa mai, châm biếm, đả kích khi vạch trần thủ đoạn của thực dân; Thể hiện giọng xót xa, thương cảm khi phơi bày nỗi thống khổ của người dân nô lệ

Khi có học sinh đọc không đúng yêu cầu, tôi cho học sinh nhận xét, sau đó tôi chỉ rõ đúng sai, hướng dẫn để học sinh nắm vững cách đọc để đọc tốt văn bản

Như vậy, đọc tốt vừa gợi được không khí, vừa tạo được sự truyền cảm, gây hứng thú cho học sinh, xoá đi trong các em cảm tưởng văn cổ khó hiểu, ít hấp dẫn

2.3.3 Giảng bình trong giờ đọc – hiểu văn bản nghị luận

Trang 9

Giảng bình là một phương pháp giảng văn truyền thống lâu đời trong nhà trường Việt Nam Cái hay của một giờ giảng văn không chỉ phụ thuộc vào bài văn

mà còn phụ thuộc vào lời giảng, bài giảng, chất giọng, nghệ thuật giảng, cung bậc trầm bỗng của ngô ngữ Giảng bình vừa có tác dụng khơi gợi cảm xúc, sự rung động mạnh mẽ trong tâm hồn, tình cảm của học sinh, vừa có tác dụng khắc sâu ấn tượng, hình ảnh; lắng đọng cảm xúc, khắc sâu kiến thức Giảng bình hay là làm cho học sinh yêu văn, thích văn, đồng thời là cơ sở cho sự cảm thụ sáng tạo ở học sinh phát triển

Tuy nhiên, khi sử dụng phương pháp giảng bình tôi luôn ý thức về mức độ: gợi dẫn, tạo đường viền, định hướng hoặc tổng kết, khắc sâu và mở rộng kiến thức chứ không lạm dụng Bởi lẽ, lạm dụng phương pháp này sẽ rơi vào dạy học văn truyền thụ – tiếp nhận thụ động Việc lựa chọn phương pháp bình tôi phải căn cứ vào đặc điểm của từng văn bản Tùy vào giá trị nội dung, nghệ thuật, đặc trưng thể loại của văn bản mà sử dụng lời bình cho phù hợp

dụ: Dạy văn bản Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn.

Khi kết thúc phần tìm hiểu chung văn bản, để khắc sâu về tác giả Lí Công

Uẩn tôi có lời bình như sau: “Hơn một 1.000 năm đã trôi qua, kể từ ngày Lí Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La “Mưu toan việc lớn, tính kế muôn đời cho con cháu” Quyết định táo bạo, sáng suốt đó của ông không chỉ đặt nền móng vững chắc cho sự tồn tại và phát triển rực rỡ của tám vương triều nhà Lý kéo dài suốt 214 năm trong lịch sử nhà nước phong kiến Việt Nam mà Quyết định

ấy còn là một cống hiến vĩ đại cho dân tộc, đất nước và có giá trị tới hàng nghìn năm sau Bởi từ Năm Canh Tuất 1010 đến nay, Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội luôn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước, luôn vững vàng trước những thử thách của lịch sử Phải là người có tầm nhìn xa trông rộng, một tầm nhìn thấu cả tương lai mới có thể có được quyết định đúng đắn đến như vậy!”

dụ: Dạy văn bản Nước Đại Việt ta của Nguyễn Trãi.

Sau khi hướng dẫn học sinh nắm được những yếu tố mà Nguyễn Trãi đưa ra

để khẳng định chủ quyền độc lập của dân tộc và so sánh với “Sông núi nước Nam” của Lí Thường Kiệt vì có sự kế thừa và phát triển, tôi có lời bình như sau để khắc sâu kiến thức, thấy được quan niệm của Nguyễn Trãi là đúng đắn, toàn diện, sâu

sắc và mới mẻ: Ngoài chủ quyền và lãnh thổ, để khẳng định nền độc lập của một dân tộc, Bình Ngô Đại Cáo còn bổ sung thêm ba phương diện quan trọng: Văn hiến, phong tục tập quán và lịch sử Với những yếu tố căn bản này, Nguyễn Trãi đã phát biểu một cách khá hoàn chỉnh quan niệm về quốc gia, dân tộc So với thời Lí, nhận thức về vấn đề dân tộc đã phát triển cao hơn nhiều bởi tính toàn diện và sâu sắc của nó Văn hiến, phong tục tập quán và lịch sử là linh hồn của một quốc gia Quan niệm của Nguyễn Trãi, vì thế, sâu sắc và rất mới so với đương thời.

Như vậy, phương pháp giảng bình mà tôi vận dụng đã khuyến khích, gây dựng được niềm đam mê, sự hứng khởi cho học sinh khi tiếp nhận kiến thức của văn bản

Trang 10

2.3.4 Liên hệ với thực tế.

Để rút ngắn khoảng cách quá xa giữa văn học nhà trường và đời sống xã hội,

gắn tác phẩm với đời sống của cá nhân học sinh là một quan điểm lớn của chương

trình, sách giáo khoa Ngữ văn Cùng với các văn bản nhật dụng, các văn bản nghị

luận được chọn đọc – hiểu góp phần quan trọng vào việc hiện thực hoá quan điểm

trên Kể cả các văn bản nghị luận trung đại đã cách xa chúng ta nhiều thế kỉ, song

những vấn đề mà tác phẩm đặt ra vẫn có ý nghĩa thời sự đối với thời đại chúng ta

Để giờ học thực sự sinh động và có ý nghĩa giáo dục, giáo viên cần hướng

mối quan tâm của học sinh vào những vấn đề có ý nghĩa thiết thực với đời sống

hôm nay, tổ chức cho học sinh trao đổi, tranh luận về những vấn đề phức tạp

Ví dụ:

- Từ lối học xưa, em có liên tưởng, suy nghĩ gì về mục đích và phương pháp

học của chúng ta ngày nay? (Bàn luận về phép học của Nguyễn Thiếp)

- Từ việc đọc – hiểu văn bản, em hãy bày tỏ suy nghĩ của bản thân về việc

bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của đất nước ta hiện nay? (Nước Đại Việt ta của Nguyễn

Trãi)

Liên hệ như vậy vừa giúp học sinh hiểu tác phẩm hơn, vừa gắn với thực tế,

vừa tạo điều kiện cho học sinh bộc lộ quan điểm, tư tưởng, chính kiến riêng, qua đó

góp phần hình thành kĩ năng sống, bản lĩnh đối mặt với những vấn đề đang đặt ra

trong cuộc sống

2.3.5 Tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm khi dạy đọc – hiểu văn bản

Hoạt động nhóm hay học hợp tác là biện pháp tích cực hóa hoạt động nhận

thức của học sinh, một hình thức dạy học phổ biến ở các môn học Trong dạy học

Ngữ văn nói chung, các văn bản nghị luận lớp 8 nói riêng hoạt động nhóm là hình

thức tổ chức cho học sinh đọc, cảm thụ tác phẩm theo từng nhóm, cùng nhau trao

đổi, thảo luận về một yếu tố, hình tượng, chi tiết phức tạp trong tác phẩm; cùng

nhau giải quyết một câu hỏi, một tình huống có vấn đề đặt ra từ văn bản, qua đó

giúp các em tự khám phá, chiếm lĩnh các giá trị văn học, phát triển các kĩ năng học

văn một cách sáng tạo dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên

Căn cứ vào mục tiêu, bản chất, quy trình thực hiện của phương pháp hoạt

động nhóm, tôi đã áp dụng vào trong dạy đọc – hiểu văn bản nghị luận lớp 8 Hoạt

động nhóm được tôi tổ chức dưới nhiều hình thức: Giải thích, cắt nghĩa, phân tích

theo nhóm; luyện tập theo nhóm; ngoại khoá theo nhóm …

Tổ chức cho học sinh học theo nhóm có ý nghĩa nhiều mặt, học sinh sẽ thấy

có thể có nhiều câu trả lời, nhiều giải pháp, nhiều ý kiến, nhiều quan điểm khác

nhau cho cùng một vấn đề Từ đó sẽ khuyến khích phát triển tư duy độc lập, sáng

tạo của học sinh Ngoài ra, hoạt động nhóm dựa trên nguyên tắc dân chủ và tương

hỗ nên tất cả học sinh từ giỏi, khá, trung bình, yếu và kém đều có thể tham gia

Cách thức, biện pháp chủ yếu để tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm là

thông qua một hệ thống câu hỏi, bài tập, tình huống có vấn đề… Số lượng học sinh

trong nhóm tuỳ thuộc vào mức độ yêu cầu của câu hỏi, bài tập, có nhóm từ 3 – 4

học sinh trở lên, có nhóm đôi (từng cặp) Nhưng nhóm đôi sử dụng thường xuyên

Ngày đăng: 22/05/2022, 05:14

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w