1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn 9 giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, sá...

19 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn 9 giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập 0 MỤC LỤC STT NỘI DUNG TRANG Mục lục 1 1 PhÇn I Mở đầu 1 Lí do chọn đề tài 2 Mục đích nghiên cứu 3 Đối tượng nghiên cứu 4 Phương pháp nghiên cứu 1 1 2 2 2 2 PhÇn II Nội dung 1 Cơ sở lí luận vµ c¬ së thùc tiÔn 1 1 C¬ së lÝ luËn 1 2 C¬ së thùc tiÔn 2 Thực trạng vấn đề tr­íc khi ¸p dông SKKN 2 1 §èi víi viÖc d¹y cña gi¸o viªn 2 2 §èi víi viÖc häc cña häc sinh 3 BiÖn ph¸p ,gi¶i ph[.]

Trang 1

MỤC LỤC

1 Lớ do chọn đề tài

2 Mục đớch nghiờn cứu

3 Đối tượng nghiờn cứu

4 Phương phỏp nghiờn cứu

1 1 2 2 2

1 Cơ sở lớ luận và cơ sở thực tiễn 1.1 Cơ sở lí luận

1.2 Cơ sở thực tiễn

2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN 2.1 Đối với việc dạy của giáo viên

2.2 Đối với việc học của học sinh 3.Biện pháp ,giải pháp chủ yếu để thực hiện đề tài 3.1.Cơ sở đề xuất giải pháp giải phỏp

3.2 Các bước chuẩn bị sử dụng sơ đồ tư duy

3.2.2 Chọn đơn vị kiến thức có thể sử dụng sơ đồ tư duy

3.2.3 Chuẩn bị vẽ sơ đồ tư duy 3.2.4 Cách sử dụng sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học

3.2.4.1 Sử dụng sơ đồ tư duy trong kiểm tra bài cũ 3.2.4.2.Sử dụng sơ đồ tư duy trong việc chuẩn bị bài mới

3.2.4.3.Sử dụng sơ đồ tư duy khi dạy bài mới 3.2.4.4 Giáo án minh hoạ

3.2.4.5 Kết quả đạt được

2 2 2 3 4 4 5 5 5 6 6

6 7

7 8

9 10 14

3

Phần III Kết luận, kiến nghị

1 Kết luận

2 Kiến nghị

15 15

15

5 Danh mục cỏc đề tài SKKN đó đạt giải do Hội

đồng Phũng GD và ĐT huyện Quảng xương đỏnh giỏ

17

Trang 2

Phần I Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

Trong cuộc đời mỗi người, muốn trưởng thành khụng ai là khụng trải qua những năm thỏng miệt mài trờn ghế nhà trường - những năm thỏng được gọi là“ thời hoa mộng” cỏi thời đặt nền múng cho mọi kiến thức, nền tảng nhõn cỏch của mỗi con người Tất cả cỏc mụn học trong nhà trường đều ớt nhiều gúp phần hoàn chỉnh điều đú Trong đú mụn Ngữ văn đúng vai trũ đặc biệt quan trọng vỡ

cổ nhõn đó núi:“ Văn học là nhõn học” Nhưng một thực tế đỏng buồn là hiện nay cỏc mụn học ở nhà trường - mụn xó hội núi chung, mụn Ngữ văn núi riờng đang bị coi là “ thất sủng” Điều đú do nhiều nguyờn nhõn cả chủ quan lẫn khỏch quan Vậy làm thế nào để cỏc em hứng thỳ với mụn học, học giỏi mụn học? Đõy

là mong muốn chớnh đỏng của nhiều học sinh cũng như giỏo viờn Để yờu thớch, say mờ và học giỏi bộ mụn kỡ diệu này, trước hết cỏc em phải nuụi dưỡng lũng say mờ, sau nữa phải cú phương phỏp học tập đỳng đắn để khụng ngừng nõng cao vốn kiến thức của mỡnh Bờn cạnh đú, người giỏo viờn phải khụng ngừng đổi mới phương phỏp dạy học cho phự hợp với tõm sinh lớ lứa tuổi, với đối tượng tiếp thu, với điều kiện cơ sở vật chất ở trường …để giờ dạy đạt kết quả như mong muốn

Sơ đồ tư duy ra đời như một luồng khụng khớ mới thổi vào vựng đất khụ cằn của kiểu truyền đạt, lắng nghe tri thức trước đõy Nú định hướng cho giỏo viờn biết phải trỡnh bày như thế nào trờn đú để mang lại hiệu quả cao nhất Nú giỳp học sinh chủ động phỏt triển ý kiến của mỡnh, học tập một cỏch chủ động, tớch cực và huy động được tất cả học sinh tham gia vào việc xõy dựng bài một cỏch hào hứng Với sản phẩm độc đỏo là: “ kiến thức, hội hoạ” là niềm vui sỏng tạo hàng ngày của cỏc em Cỏc em cú quyền nờu lờn những nhận xột, những ý tưởng của mỡnh về một tỏc phẩm nào đú… Cú thể những ý tưởng của cỏc em đụi khi chưa chớnh xỏc, gõy tranh cói nhưng cũng đó gúp phần rất lớn trong việc điều chỉnh trong nhận thức, gõy hứng thỳ cho cỏc em và giờ văn lỳc này khụng cũn là: “ đúng khung trong thỏp ngà nữa” mà thật sự gần gũi biết bao

Khi sử dụng sơ đồ tư duy, phần nội dung thỡ khụng thể làm mới, khụng thể thay đổi nhưng chỳng ta vẫn cú thể thay đổi và làm mới hỡnh thức, phương phỏp giảng dạy của mỡnh sao cho kớch thớch được sự hứng thỳ, khả năng tỡm tũi, sỏng tạo của học sinh Trước đõy, với phương phỏp giảng dạy cổ truyền, cỏc tiết học mà đặc biệt là cỏc tiết ụn tập, tổng kết…Sỏch giỏo khoa cũng đó đưa ra một

số bảng biểu cụ thể để học sinh làm và dự cú thành cụng nhưng vẫn cũn là ỏp đặt cỏch hiểu, cỏch cảm thụ của cỏc em Hơn nữa, cỏc bảng biểu đú đơn thuần chỉ là

kẻ bảng mà chưa chỳ ý đến hỡnh ảnh, màu sắc, đường nột Sau đợt tập huấn, nhiều giỏo viờn đó tớch cực ỏp dụng sử dụng sơ đồ tư duy vào trong dạy học Việc vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học sẽ giỳp giỏo viờn đổi mới về phương phỏp dạy học, cú nhiều ý tưởng hơn trong việc thiết kế bài giảng, đồng thời giỳp học sinh dần hỡnh thành tư duy mạch lạc, dễ hiểu, dễ nhớ vấn đề một cỏch sõu sắc, cú cỏch nhỡn vấn đề một cỏch hệ thống, khoa học và phỏt huy tối đa kỹ năng sỏng tạo của học sinh trong quỏ trỡnh học Sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp

Trang 3

với cỏc phương phỏp dạy học tớch cực khỏc sẽ là cụng cụ rất hữu ớch trong quỏ trỡnh dạy và học tập… Chớnh vỡ những ưu việt đú, tụi đó mạnh dạn chọn đề tài:

“ Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn 9 giỳp học sinh phỏt huy tớnh tớch cực, chủ động, sỏng tạo trong học tập”

Qua đề tài này, tụi mong rằng những vấn đề được đề cập tới sẽ gúp phần khụng nhỏ vào việc nõng cao chất lượng giỏo dục và sẽ tạo được luồng giú mới thổi vào tõm hồn cỏc em giỳp cỏc em hứng thỳ, say mờ trong học tập, giảm bớt

đi sự căng thẳng, mệt nhọc trong mỗi tiết học Đồng thời, sẽ giỳp quớ thầy cụ cựng cỏc em học sinh yờu thớch và sử dụng nhiều hơn trong giảng dạy

2 Mục đớch nghiờn cứu:

Với để tài nghiờn cứu này, mục đớch mà tụi hướng đến trước hờt là giỳp cỏc lớp HS mà tụi giảng dạy vẽ được sơ đồ tư duy nội dung kiến thức bài học .Nắm vững kiến thức một cách sâu sắc hơn

Cũng với đề tài này, tụi mong muốn đem đến cho đồng nghiệp những kinh nghiệm nhỏ trong giảng dạy để cựng nhau nõng cao trỡnh độ chuyờn mụn, đem lại hiệu quả trong cụng tỏc giảng dạy

3 Đối tượng nghiờn cứu:

Sử dụng Sơ đồ tư duy trong giảng dạy mụn Ngữ văn đối với học sinh lớp 9

ở tất cả cỏc hoạt động của một giờ dạy: ễn lại bài cũ, giới thiệu bài mới, tỡm hiểu nội dung bài học, luyện tập, củng cố hoặc đơn giản là một trũ chơi để tỡm ra tỏc phẩm

- Đề tài này đó được nghiờn cứu, ứng dụng trong quỏ trỡnh dạy học tại đơn vị cụng tỏc – Trường THCS Quảng Vọng

- Phạm vi ỏp dụng: học sinh lớp 9A, 9B Trường THCS Quảng Vọng năm học 2017 -2018

4 Phương phỏp nghiờn cứu.

Trong quỏ trỡnh nghiờn cứu tụi sử dụng cỏc phương phỏp sau:

Phương phỏp so sỏnh trong văn học; phương phỏp đối lập; phương phỏp nghiờn cứu tài liệu; phương phỏp điều tra phỏng vấn; phương phỏp nờu vấn đề; phương phỏp thảo luận nhúm; phương phỏp nờu vớ dụ; phương phỏp logic; phương phỏp thu thập tài liệu, phương phỏp trực quan( sử dụng Bản đồ tư duy, ứng dụng cụng nghệ thụng tin trong giảng dạy

và phương phỏp thực nghiệm

Phần 2 Nội dung

1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn:

1.1 Cơ sở lý luận

Gần đõy, những người quan tõm đến vấn đề đổi mới phương phỏp dạy học thường đề cập đến việc dạy học tớch cực Dạy học tớch cực là một quan điểm dạy học trong đú bao gồm việc sử dụng linh hoạt nhiều phương phỏp dạy học khỏc nhau nhằm phỏt huy tớnh tớch cực, chủ động, sỏng tạo của học sinh Trong dạy học tớch cực cú hệ thống cỏc kỹ thuật dạy học nhằm tớch cực húa hoạt động học

tập của học sinh trong đú cú sơ đồ tư duy Vậy sơ đồ tư duy là gì? Sơ đồ tư duy

hay cũn gọi là Lược đồ tư duy, Bản đồ tư duy (Mind Map) là PPDH chỳ trọng

Trang 4

đến cơ chế ghi nhớ, dạy cách học, cách tự học nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức, bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt, đây là một dạng sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, các em có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi em có thể

vẽ một kiểu khác nhau, dùng những màu sắc, hình ảnh, chữ viết và các cụm từ diễn đạt khác nhau, Tuy cùng một chủ đề nhưng mỗi em có thể “thể hiện” nó dưới dạng Sơ đồ tư duy theo cách riêng của mình Do đó, việc lập Sơ đồ tư duy phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người [1]

Sơ đồ tư duy – một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não Nó được coi là sự lựa chọn cho toàn bộ trí óc hướng tới lối suy nghĩ mạch lạc Nếu ta vận dụng đúng cách sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học nó sẽ hoàn toàn giải phóng những năng lực tiềm ẩn trong bạn, đưa bạn lên một đẳng cấp mới…[1]

Những tiện ích của việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn:

Khi dạy học bằng Sơ đồ tư duy giúp học sinh:

- Tăng sự hứng thú trong học tập Có được phương pháp học hiệu quả

- Giúp cho bộ não của các em sẽ hiểu sâu hơn, nhớ lâu hơn và in đậm cái

mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình

- Giúp các em phát huy tối đa khả năng sáng tạo, năng lực tư duy về hội họa

- Tạo bầu không khí học tập say mê sôi nổi, hứng thú

- Biết cách khái quát hóa và có cái nhìn tổng thể về nội dung bài học

Theo các nhà nghiên cứu giáo dục thì hiệu quả trong việc gây hứng thú cho học sinh trong giờ dạy Ngữ văn nói lên trình độ giáo dục văn học của nhà trường nói chung và của từng giáo viên Văn học dễ làm say mê người học nếu người dạy tạo được sự hứng thú tự thân nơi người học Tức là khi dạy phải: “ gõ vào trí thông minh” của học sinh, bởi lẽ giáo dục là đào tạo học sinh thành những thế hệ thông minh sáng tạo Để đạt được điều đó, bản thân mỗi người giáo viên phải ra sức học tập, rèn luyện, tích cực, chủ động vận những thành tựu dạy học tiên tiến của loài người vào giảng dạy trong đó có sơ đồ tư duy

Khi sử dụng sơ đồ tư duy vào trong dạy học, tôi thấy học sinh học say mê, hứng thú hơn với môn học Đặc biệt khi các em đã lập được sơ đồ tư duy theo trí nhớ của mình thì các em nhớ kiến thức rất tốt và tái hiện kiến thức nhanh hơn so với việc học theo cách ghi thường ngày Hơn nữa khi lập sơ đồ tư duy tôi thường hướng dẫn học sinh lập sau mỗi bài học ra một tập giấy A4 hoặc một tập

vở để lưu lại và mỗi khi ôn tập lại có thể mở ra học lại Và cách đó thực sự mang lại hiệu quả rất lớn trong nhận thức và lĩnh hội thức của môn học Không còn thấy các em học vẹt, học nông cạn, hình thức sáo rỗng nữa mà: “ Học đi đôi với hành”

Trang 5

2.1.Cơ sở thực tiễn:

Như chúng ta đã biết, quá trình dạy học là một quá trình tư duy sáng tạo Người giáo viên là một kĩ sư của tâm hồn, hơn nữa còn là một nhà làm nghệ thuật Và việc dạy học ngày nay luôn dựa trên cơ sở phát huy tính tích cực chủ động của học sinh Chính vì thế nó đòi hỏi người giáo viên phải luôn có sự sáng tạo, tự cải tiến phương pháp dạy học của mình nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy học

Thực tế, trong trường trung học cơ sở, môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt quan trọng Nó vừa là môn công cụ, vừa là môn khoa học xã hội và có tác động giáo dục sâu sắc đến tình cảm, nhân cách của học sinh Vì vậy, khi dạy môn học này người giáo viên không chỉ dừng lại ở việc cung cấp cho các em kiến thức về văn chương, về tư tưởng, tình cảm mà trên hết là dạy cho các em ý thức đạo đức làm người Bồi dưỡng, khơi dậy cho các em tình yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào dân tộc Chính vì vậy, để học sinh dễ nhớ, dễ hiểu, phát huy được khả năng nhận thức, khả năng tư duy, óc sáng tạo trong học tập thiết nghĩ sơ đồ tư duy sẽ

là một phương tiện vạn năng, hữu hiệu nhất cho các em

Rõ ràng, giờ đây học sinh được coi là bình diện thứ nhất còn giáo viên chỉ là người bạn đọc giàu kinh nghiệm là người cố vấn hướng dẫn khi học sinh cần chứ không can thiệp sâu vào cách đánh giá tác phẩm

Trở lại với vấn đề là làm sao để sử dụng sơ đồ tư duy vào trong giảng dạy đạt hiệu quả cao nhất Trước hết, bản thân người giáo viên phải là người biết tổ chức, khêu gợi, hướng dẫn học sinh thấy được cái hay của việc khái quát hóa vấn đề bằng những đường nét, màu sắc, hình ảnh tinh xảo

2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:

Như chúng ta đã biết: “ Văn học là nhân học" Học văn là để học cách làm người, để hiểu được cuộc đời từ đó biết yêu cuộc đời, yêu con người Thế nhưng, trong những năm gần đây, thực trạng học sinh chán học môn văn đã lên đến mức đáng báo động khiến cho những người làm công tác giáo dục không khỏi băn khoăn, suy nghĩ Thực tế số lượng học sinh chọn các môn xã hội trong

đó có môn văn ngày càng có chiều hướng giảm dần Theo chủ quan của bản thân thì có một vài lý do như sau:

2.1 Đối với việc dạy của giáo viên

Đa số các giáo viên đều là những người rất tâm huyết với nghề mà mình đã lựa chọn, tận tụy với công tác giảng dạy, chăm lo, quan tâm đến học sinh Họ đã

ý thức sâu sắc được phương pháp dạy học mới Trong giảng dạy, học đã phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Học sinh được bày tỏ cách cảm, cách hiểu, ý kiến của mình về bộ mơn, được thực hành giao tiếp Bên cạnh đó, họ đã biết ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại sau:

Một số giáo viên còn lúng túng khi sử dụng phương pháp dạy học tích cực

Họ không biết phải dạy như thế nào để tạo hứng thú cho các em trong học tập và nắm bắt được những kiến thức trọng tâm của bài học một cách nhẹ nhàng, sinh động

Trang 6

Khi giảng dạy, họ chưa biết linh hoạt sử dụng phương pháp giảng dạy cho phù hợp với đặc điểm của học sinh trường mình, để giúp các em hiếu và cảm nhận được sâu sắc về những giá trị của văn chương

Một số giáo viên còn giữ thói quen dạy học theo kiểu truyền thụ kiến thức một chiều: giáo viên giảng giải, học sinh lắng nghe, ghi nhớ và biết nhắc lại đúng những điều mà giáo viên đã truyền đạt Giáo viên chủ động cung cấp kiến thức cho học sinh

Trong một số tiết học, dù đã cố gắng thực hiện theo chủ trương giảm tải nhưng cách tổ chức các đơn vị kiến thức vẫn còn rườm rà, kiểu như phải ghi chép thành câu, đoạn hoàn chỉnh, có khi phải nhiều câu dài dòng, trong khi đó chỉ cần một sơ đồ là học sinh có thể hiểu vấn đề thông suốt

Nguyên nhân lớn nhất vẫn là do ý thức, nhận thức của một bộ phận giáo viên còn hạn chế Chưa thực sự tâm huyết với nghề, chưa khơi gợi được mạch nguồn cảm xúc ẩn sau mỗi trái tim người học

2.2 Đối với việc học của học sinh

Đa số các em đều ý thức được đây là bộ môn rất quan trọng quyết định đến chất lượng học tập của các em nên các em đều có ý thức học tập tốt, tích cực chủ động trong học tập Giờ học nhìn chung đã có một không khí mới, hào hứng, sôi nổi Tuy nhiên đi sâu vào thực tế việc học của các em tôi nhận thấy rằng:

Tồn tại lớn nhất của các em là thói quen thụ động: quen nghe, quen chép, ghi nhớ và tái hiện một cách rập khuôn, máy móc những gì giáo viên giảng

Một số học sinh thì ham chơi, hổng kiến thức nên chán học

Một thực trạng nữa mà chúng ta thấy rất rõ rệt đó là học sinh không có thói quen đọc sách Mà không đọc sách thì làm sao các em thấy được cái hay, cái đẹp của văn chương, biết rung động trước những bài văn hay, biết thương cảm đối với những số phận bất hạnh

Đời sống văn hóa tinh thần ngày một nâng cao, một số nhu cầu giải trí như xem ti vi, chơi game ngày càng nhiều làm cho một số em chưa có ý thức học

bị lôi cuốn, sao nhãng việc học tập

* Kết quả khảo sát HS năm học trước, khi chưa vận dụng đề tài:

- Năm học 2016 – 2017:

Lớp TSHS

3 BIện pháp, giải pháp chủ yếu khi áp dụng đề tài:

3.1 Cơ sở đề xuất các giải pháp:

Người thầy dạy học muốn học sinh học tích cực thì mình cũng phải dạy tích cực Xuất phát từ những nguyên nhân và thực trạng như phân tích trên, một vấn đề đang đặt ra là : làm thế nào để một tiết dạy văn học thật sự lôi cuốn, hấp dẫn, tạo hứng thú khơi gợi sự tìm tòi, khám phá những điều mới lạ qua văn bản Đồng thời, học sinh nắm vững kiến thức Tiếng Việt để học tập và sử dụng trong thực tế giao tiếp hằng ngày cũng như tạo lập các kiểu văn bản Giáo viên phải

Trang 7

dạy tích cực và vận dụng Sơ đồ tư duy vào như một phương pháp quen thuộc trong nhiều tiết dạy

Hơn nữa, việc vận dụng Sơ đồ tư duy còn là một chủ trương trong tiến trình đổi mới dạy học của ngành Giáo dục, nên đưa ra một cách thức tiếp cận và vận dụng cho bộ môn Ngữ văn lúc này là cần thiết để quý đồng nghiệp chia sẻ

và đóng góp Do đó, tôi đề xuất một số giải pháp cho việc thực hiện đề tài

3.2.Các bước chuẩn bị khi sử dụng Sơ đồ tư duy:

3.2.1 Hướng dẫn học sinh làm quen với Sơ đồ tư duy:

Đây là phương pháp học mới, cái mới bao giờ cũng gây nhiều bỡ ngỡ nhất là đối với lứa tuổi học trò chưa nhiều kinh nghiệm, bản lĩnh… học sinh có thể làm quen với sơ đồ tư duy, trước tiên tôi chọn một đơn vị kiến thức đã học ở lớp dưới hay vừa mới học xong để vẽ sơ đồ tư duy Sau đó giao nhiệm vụ cho các

em xem nội dung trên sơ đồ tư duy đó, những cụm từ ngắn gọn, hình vẽ, hình ảnh liên tưởng, các dạng tổng quát…em hãy tập thuyết minh lại kiến thức bằng lời như đang giảng lại cho các bạn em nghe hay đang làm gia sư cho các em nhỏ Tiếp theo tôi có thể vẽ những sơ đồ tư duy thiếu thông tin và yêu cầu học sinh dựa vào kiến thức đã học lên điền thêm cho đầy đủ Kế đến tôi hướng dẫn các em vẽ những đơn vị kiến thức đơn giản trước Các em vẽ, tô màu theo sở thích và khả năng miễn ghi lại nội dung kiến thức bài học theo cách hiểu của mình Tôi cũng lưu ý các em không nên vẽ đơn giản quá, cũng không quá cầu kì, màu sắc cũng nên hài hòa không quá lòe loẹt, phản cảm…Việc hướng dẫn học sinh làm quen với sơ đồ tư duy phải làm từng bước, không thể nóng vội Khi học sinh đã làm quen với sơ đồ tư duy rồi thì cách tự ghi kiến thức bằng sơ đồ

tư duy và đọc sơ đồ tư duy sẽ dễ dàng hơn

3.2.2 Chọn đơn vị kiến thức có thể sử dụng Sơ đồ tư duy

Đây là một trong những yếu tố rất quan trọng cũng như những anh bộ đội ra trận, nếu anh nhắm trúng mục tiêu thì sẽ diệt được địch, mang về chiến thắng vẻ vang; nếu không vừa lãng phí vũ khí vừa có thể bị lộ hậu quả sẽ khôn lường Quay trở lại vấn đề tôi đang đề cập tới Để chọn được đơn vị kiến thức sử dụng được sơ đồ tư duy là một vấn đề không hề đơn giản Người giáo viên phải nắm kĩ mục tiêu bài học, khối lượng kiến thức của bài học Ngoài ra, phải tính đến đối tượng học sinh, điều kiện cơ sở vật chất…Với riêng tôi để giải quyết vấn đề này tôi luôn xác định kĩ mục tiêu từng bài, xem xét những bài có đơn vị kiến thức nhỏ liên quan đến nhau; hoặc những cụm bài có chung kiến thức hay những bài có tính chất tổng kết, ôn tập…thì mới có thể áp dụng dùng Sơ đồ tư duy

3.2.3 Chuẩn bị để vẽ Sơ đồ tư duy

Làm gì cũng vậy, muốn thành công trong công việc gì thì bao giờ cũng phải chuẩn bị chu đáo Người nông dân muốn đi cày phải chuẩn bị con trâu, cái cày; người giáo viên lên lớp trước hết phải soạn bài; học sinh muốn làm bài kiểm tra, bài thi tốt phải chuẩn bị kiến thức….Vì thế, để sử dụng hiệu quả sơ đồ

tư duy trong dạy học trong các tiết dạy cũng phải chuẩn bị chu đáo để vẽ sơ đồ

tư duy Thói quen của bản thân tôi cũng như nhiều giáo viên là chỉ chuẩn bị chu

Trang 8

đáo đồ dùng và các phương tiện dạy học khi có người thanh tra, dự giờ Vì vậy,

ở những tiết có thể sử dụng sơ đồ tư duy giáo viên chỉ dùng tay hoặc dùng thước

để vẽ vừa mất thời gian, vừa mất thẩm mĩ lại không khoa học Để đạt được kết quả tốt giáo viên nên vẽ sơ đồ trước ở nhà ( với những sơ đồ phức tạp) hay có thể dùng bảng phụ, máy chiếu Nếu không, giáo viên chuẩn bị phấn màu, thước ( với những bài có sơ đồ đơn giản) để việc thực hiện được nhanh, đẹp Việc chuẩn

bị trước này sẽ rút ngắn thời gian, sơ đồ đẹp, khoa học sẽ gây hứng thú cho học sinh

3.2.4 Cách sử dụng Sơ đồ tư duy trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy và học.

3.2.4.1 Sử dụng sơ đồ tư duy trong việc kiểm tra bài cũ.

Giáo viên đưa ra một từ khóa (hay một hình ảnh trung tâm) thể hiện chủ đề của kiến thức cũ mà các em đã học, cần kiểm tra, yêu cầu các em vẽ SĐTD thông qua câu hỏi gợi ý Trên cơ sở từ khóa (hoặc hình ảnh trung tâm)

ấy kết hợp với câu hỏi định hướng của giáo viên, học sinh sẽ nhớ lại kiến thức và định hình được cách vẽ SĐTD theo yêu cầu

* Ví dụ 1: Sau khi các em học xong bài “Các phương châm hội thoại” -

Tiết 1,2 Ng÷ v¨n 9 TËp I trước khi tìm hiểu các kiến thức mở rộng có liên quan

đến phương châm hội thoại ở Tiết 3 (Tiết 13 trong PPCT), giáo viên kiểm tra bài

cũ bằng cách cho các em lập SĐTD để củng cố, hệ thống kiến thức đã học ở hai

tiết học trước thông qua câu hỏi sau: Ta đã học qua những phương châm hội

thoại nào? Em hãy lập SĐTD để hệ thống kiến thức về chúng? Sau đó, giáo viên

ghi cụm từ khóa lên giữa bảng phụ “Phương châm hội thoại”, rồi gọi một em xung phong lên bảng vẽ Học sinh sẽ dễ dàng vẽ được SĐTD theo nội dung yêu cầu

Dưới đây là SĐTD về các phương châm hội thoại có tính chất minh họa, các em vẽ

SĐTD đảm bảo các nội dung tương tự như sau là tốt

Trang 9

Khi học sinh vẽ xong, giáo viên cho cả lớp quan sát, gọi một vài em nhận xét, góp ý sơ đồ rồi giáo viên nhận xét và cho điểm

2.2.2 Sử dụng Sơ đồ tư duy trong việc chuẩn bị bài mới.

Như chúng ta đã biết, việc hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài mới là vô cùng quan trọng Đây không phải là công việc làm vội vã, lấy lệ khi trống đã điểm hết giờ mà đây là khâu có vai trò quyết định không nhỏ đến hiệu quả cho giờ học sắp tới Để định hướng cho học sinh chuẩn bị bài ở nhà mang lại hiệu quả, bao giờ cũng vậy tôi yêu cầu các em đọc kỹ bài mới, nghiên cứu nội dung có liên quan đến bài học và cuối cùng là lập một bản đồ tư duy cho bài Công việc này không khó đối với học sinh tuy nhiên để làm được điều đó thì bắt buộc học sinh phải đọc bài và nắm được nội dung chính của bài, sau đó chọn đơn vị kiến thức của bài học để vẽ Sơ đồ tư duy

dụ: Khi dạy bài “Chị em Thuý Kiều” của Nguyễn Du TiÕt 28 Ng÷

v¨n 9 TËp I giáo viên hướng dẫn học sinh tự lập một bản đồ tư duy ở nhà Để vẽ được sơ đồ tư duy cho bài học sinh phải đọc, nghiên cứu và thể hiện các nội dung bài học bao gồm:

1 Vẻ đẹp chung của hai chị em;

2 Vẻ đẹp của từng người

3 Nếp sống của hai chị em Kiều

CHỊ EM THÚY KIỀU

Đến giờ học, giáo viên dành một thời gian cho học sinh nhận xét một vài

sơ đồ tư duy Sau đó chọn một sơ đồ hay nhất Trên cơ sở sơ đồ được chọn này giáo viên sẽ hướng dẫn HS hoạt động tiếp theo đó là tìm hiểu nội dung bài học

Như vậy, việc cho học sinh lập bản đồ tư duy trong quá trình chuẩn bị bài giúp các em định hướng việc học tập của mình một cách tích cực, chủ động Học sinh xác định được công việc của mình trong tiết học Từ đó có thái độ nghiên cứu chuẩn bị bài tốt hơn

Trang 10

4.2.4.3 Sử dụng Sơ đồ tư duy khi dạy bài mới

Lâu nay, việc dạy bài mới thường được giáo viên thực hiện theo một qui trình nhất định dễ tạo sự nhàm chán cho học sinh Bởi lẽ, với cách học này, nhiều học sinh tuy rất chăm chú nghe giảng nhưng tiếp thu bài rất chậm vì không biết liên kết các kiến thức cơ bản với nhau Học sinh chỉ thụ động nghe

và ghi lại theo giáo viên mà không biết cách lưu thông tin sao cho khoa học Với hình thức sử dụng sơ đồ tư duy như là một đồ dùng trực quan phục vụ cho việc giảng bài mới mà đặc biệt khi dạy bằng giáo án điện tử rất có hiệu quả đối với các em Để dạy tốt tôi phải chuẩn bị bài kĩ ở nhà Từ nội dung bài học tôi đúc kết thành một sơ đồ tư duy rồi vẽ trên máy (nếu dạy bằng Giáo án điện tử) Khi dạy đến đâu tôi sẽ trình chiếu đến đó Khi lên lớp, tôi sẽ sử dụng sơ đồ tư duy đó

để hướng dẫn học sinh khai thác từng nội dung của bài học Mỗi nội dung ứng với một nhánh con của sơ đồ Hoặc vẽ trực tiếp lên bảng (nếu dạy Giáo án thường)

Ví dụ : Khi dạy bài: “Ánh trăng” của nhà thơ Nguyễn Duy TiÕt 59 Ng÷ v¨n 9

TËp I , sau khi ổn định lớp, kiểm tra bài cũ, giới thiệu bài mới, tìm hiểu chung xong tôi sẽ vẽ từ khoá chính lên bảng mà không ghi bài theo kiểu cũ Sau đó tôi

sẽ đặt câu hỏi để khai thác các nhánh con Phân tích đến đâu tôi sẽ tạo các nhánh con đến đó Cách ghi này giúp học sinh dễ nhận biết được diễn biến tâm trạng của nhân vật Cứ như vậy, cuối tiết học ta sẽ có một sơ đồ tư duy hoàn chỉnh Với việc sử dụng sơ đồ tư duy trong giảng dạy từng bước giáo viên sẽ giúp học sinh tự mình phát hiện dần dần toàn bộ kiến thức bài học Bắt đầu bằng những kiến thức tổng quát nhất (trọng tâm bài học - trung tâm bản đồ) Giáo viên giúp học sinh tái hiện những kiến thức lớn xoay quanh trọng tâm bài học, những ý nhỏ trong từng ý lớn Cứ như vậy, đến khi giờ học kết thúc cũng là lúc kiến thức tổng quát của bài học được trình bày một cách sáng tạo, sinh động trên bản đồ Không những cung cấp cho học sinh kiến thức tổng thể, sơ đồ tư duy còn giúp cho học sinh nhìn nhận đa chiều mọi mặt của vấn đề, từ đó đưa ra các ý tưởng mới, phát hiện mới, tìm ra sự liên kết, ràng buộc các ý tưởng trong bài, tức là tìm ra mạch logic của bài học Sau khi hoàn thiện, học sinh nhìn vào bản

đồ là có thể tái hiện, thuyết trình lại được toàn bộ nội dung kiến thức bài học

Trong quá trình dạy bài mới, tùy theo tiết dạy và thời gian, tôi còn cho học sinh thảo luận nhóm bằng cách vẽ sơ đồ tư duy theo các bước sau:

- Học sinh lập sơ đồ tư duy theo nhóm với sự gợi ý của giáo viên

- Học sinh đại diện của các nhóm lên báo cáo, thuyết minh về sơ đồ tư duy mà nhóm mình đã thiết lập

- Học sinh khác thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện Sơ đồ tư duy

về kiến thức của bài học đó Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh sơ đồ tư duy, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học

Tóm lại, với những ưu điểm của mình, sơ đồ tư duy trở thành một công cụ gợi mở, kích thích quá trình tìm tòi kiến thức của học sinh.Việc sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học giúp các em học tập một cách chủ động, tích cực và huy động được tất cả học sinh tham gia xây dựng bài một cách hào

Ngày đăng: 22/05/2022, 02:54

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm