SKKN Một số biện pháp giúp học sinh lớp 9 rèn kĩ năng làm bài Nghị luận xã hội về một vấn đề tư tưởng, đạo lí góp phần nâng cao chất lượng dạy – học môn Ngữ văn ở Trường TH & THCS Thiệu Minh 1 1 MỞ ĐẦU 1 1 Lí do chọn đề tài Cùng với các môn học khác trong nhà trường môn Ngữ văn có vai trò quan trọng giáo dục tư tưởng tình cảm cho học sinh Nhà văn hào Nga Mácxim Gor ki nói “Học văn là học làm người” học sinh học tốt môn Ngữ văn sẽ có tác động tốt đến việc học các môn khác và ngược lại Chương trìn[.]
Trang 11 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Cùng với các môn học khác trong nhà trường môn Ngữ văn có vai trò quan trọng giáo dục tư tưởng tình cảm cho học sinh Nhà văn hào Nga Mácxim Gor-ki nói: “Học văn là học làm người” học sinh học tốt môn Ngữ văn sẽ có tác động tốt đến việc học các môn khác và ngược lại Chương trình đã nêu rất rõ mục tiêu tổng quát của môn Ngữ văn: “Môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung của trường THCS, góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn phổ thông cơ sở”.[1] Môn Ngữ văn luôn luôn là phương tiện, là người bạn tốt trên đường đời của mỗi học sinh, giúp các em sống tốt hơn, đẹp hơn
Dạy môn Ngữ văn không chỉ đơn thuần là trang bị kiến thức làm nền tảng, cơ sở đề các em học sinh bước vào đời, tiếp xúc với xã hội hoặc tiếp tục học lên cao hơn; học văn các em sẽ hoàn thiện hơn về phẩm chất đạo đức hướng tới “chân, thiện, mỹ” Sản phẩm thu được trong quá trình dạy không chỉ là hệ thống kiến thức mà các em còn được bồi đắp về tâm hồn, hình thành kĩ năng, vốn sống cho học sinh Rèn luyện văn nghị luận xã hội giúp học sinh không chỉ hoàn thiện kĩ năng trình bày quan điểm của mình, mà còn cung cấp tri thức vô cùng phong phú về những vấn đề xã hội, để các em có những hiểu biết về những vấn đề xã hội đã và đang diễn ra trong cuộc sống của chúng ta
Để đảm bảo được chức năng này văn nghị luận có một vai trò đặc biệt.Cũng chính vì thế mà được chú trọng rèn luyện cho học sinh Xuất phát từ tầm quan trong ấy Văn nghị luận được đưa vào chương trình trở thành tiêu chí đánh giá đối với học sinh không chỉ trong những bài kiểm tra, thi học sinh giỏi, thi vào lớp 10 và ngay cả thi tốt nghiệp THPT rồi đến kì thi Đại học Hơn thế nữa nếu học sinh không có nguyện vọng học tiếp thì những kiến thức học từ văn nghị luận sẽ là một hành trang quý giá cung cấp kiến thức, kĩ năng mọi mặt đời sống cho học sinh giúp các em ứng xử giao tiếp trong cuộc sống Song có thể thấy một mâu thuẫn trong quá trình dạy học là hoc sinh quá quen với tư duy văn học , Các em chỉ nhạy bén với những vấn đề gần gũi đặc biệt là các hiện tượng liên quan đến các em Còn việc rèn luyện kĩ năng vốn sống bồi dưỡng tư tưởng tình cảm, các quan hệ chuẩn mực xã hội thường là những vấn đề xa vời với các em Kiểu bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý phạm vi bao hàm nghĩa của
nó rất đa dạng phong phú, muôn hình muôn vẻ mà thời lượng dành cho các tiết học lý thuyết còn ít dẫn đến kỹ năng làm bài còn hạn chế Trong khi đó cuối năm khi đi thi lại yêu cầu đòi hỏi học sinh phải thuần thục cách làm các dạng văn nghị luận này để các em làm tốt bài thi vào THPT nên đây là vấn đề trăn trở đối với giáo viên trực tiếp dạy Văn, nhất là Văn 9 làm thế nào các em hiểu đề bài, xác định được các luận điểm của bài văn đảm bảo đủ ý, các ý sắp xếp theo trình tự hợp lí, bài nghị luận của các em đủ sức thuyết phục người khác vấn đề
mà đưa ra bàn luận Bên cạnh đó dung lượng bài viết không được quá dài, trên thực tế, học sinh quá quen với tư duy văn học, kiến thức về xã hội còn hạn chế,
kĩ năng làm bài chưa thuần thục.Tất cả những điều đó tạo nên áp lực, gây khó khăn cho học sinh
Trang 2Xuất phát từ tầm quan trọng và thực trạng của việc làm bài nghị luận xã hội
ở trường TH &THCS Thiệu Minh hiện nay, để tạo tiền đề cho việc học và làm văn của các em ở các bậc học tiếp theo, tôi đã quyết định chọn nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 9 rèn kĩ năng làm bài Nghị luận xã hội về một vấn đề tư tưởng, đạo lí góp phần nâng cao chất lượng dạy –học môn Ngữ văn ở Trường TH & THCS Thiệu Minh ” Với sáng kiến này nhằm
trao đổi với đồng nghiệp một vài kinh nghiệm trong việc dạy đồng thời giúp cho học sinh lớp 9 nắm vững hơn phương pháp làm bài, góp phần nâng cao chất lượng bài văn nghị luận xã hội cho học sinh
1.2 Mục đích nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này bản thân tôi muốn chia sẻ kinh nghiệm nhằm mục đích giúp giáo viên có những phương pháp hiệu quả rèn luyện văn nghị luận xã hội giúp học sinh không chỉ hoàn thiện kĩ năng trình bày quan điểm của mình, mà còn cung cấp tri thức vô cùng phong phú về những vấn đề xã hội, để các em có những hiểu biết về những vấn đề xã hội đã và đang diễn ra trong cuộc sống của chúng ta
Kiểu bài nghị luận xã hội, học sinh cần làm rõ vấn đề nghị luận, sau đó mới đi vào đánh giá, bình luận, rút ra bài học cho bản thân Thực tế cho thấy nhiều học sinh mới chỉ dừng lại ở việc làm rõ vấn đề nghị luận mà coi nhẹ khâu thứ hai, vẫn coi là phần trọng tâm của bài nghị luận Vì những yêu cầu trên mà việc rèn luyện giúp cho học sinh có kĩ năng làm tốt một bài văn nghị luận xã hội
là một việc làm rất cần thiết Qua đó, giúp các em mở rộng vốn sống rèn luyện
tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẫm mỹ, từ đó hình thành và phát triển nhân cách cho các em
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Sáng kiến tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
Đề tài nghiên cứu: nghị luận xã hội về một vấn đề tư tưởng, đạo lí
Nghiên cứu đề tài giúp học sinh nắm được một số biện pháp nâng cao kỹ năng làm bài văn nghị luận xã hội về một vấn đề tư tưởng, đạo lí
Đối tượng áp dụng: học sinh lớp 9 trường TH &THCS Thiệu Minh, Thiệu Hóa
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài bản thân tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết về văn nghị luận
- Điều tra, vấn đáp khảo sát tình hình thực tế về viết kĩ năng viết văn nghị luận ở học sinh
- Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, số liệu
- Phương pháp thực nghiệm
Trang 3
2 NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1 N ghị luận.
Nghị luận là văn bản trình bày ý kiến bàn luận, đánh giá theo một quan điểm nhất định những sự kiện, vấn đề chính trị, xã hội, lịch sử, văn hóa, tư tưởng nhằm thuyết phục người đọc (người nghe) theo quan điểm nào đó
2.1.2 Văn Nghị luận
Văn bản nghị luận dùng để trình bày trực tiếp một tư tưởng quan điểm bằng luận cứ và lập luận trước một vấn đề trong cuộc sống
Trong chương trình Tập làm văn lớp 9 các em được tiếp cận với dạng nghị luận xã hội và nghị luận văn học Nghị luận văn học bao giờ cũng là nội dung và phương thức biểu đạt (nghệ thuật) là trình bày những nhận xét, đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện chủ đề…thì nghị luận xã hội là bộc lộ những quan điểm của mình trước vấn đề xã hội Mà vấn đề xã hội không giống vấn đề văn chương, Goethe đã từng nói: “Nếu coi văn chương là lí thuyết thì xã hội chính là cuộc đời Mọi lí thuyết đều màu xám chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi”[1] Ở đây màu xám ta hiểu theo một nét nghĩa nào đó là cái chuẩn mực có đơn vị kiến
thức cơ bản đã được cung cấp, còn cây đời- cuộc đời xã hội thì muôn màu muôn
vẻ, phong phú, đa dạng có rất nhiều góc độ để soi chiếu Văn nghị luận nói chung là dùng lí lẽ, dẫn chứng để làm sáng tỏ một vấn đề nào đó từ đó thuyết phục người đọc người nghe
2.1.3 Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý
Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống của con người Về nội dung: Làm sáng tỏ các vấn đề tư tưởng đạo lí bằng cách giải thích, chứng minh, so sánh, đối chiếu, phân tích để chỉ ra chỗ đúng (hay chỗ sai) của một tư tưởng nào đó nhằm khẳng định tư tưởng của người viết Về hình thức: bài văn phải có bố cục 3 phần rõ ràng, luận điểm đúng đắn, lập luận chặt chẽ, mạch lạc Lời văn: rõ ràng, sinh động.[2]
Dựa trên cấu trúc và nội dung kiểu bài, giáo viên không chỉ nắm chắc kĩ năng làm bài mà còn biết tận dụng, phát huy vốn kinh nghiệm đời sống và năng lực tư duy của học sinh bằng những câu hỏi gợi mở thích hợp và tổ chức viết từ đoạn văn ngắn đến bài văn ngắn Với từng kiểu bài cần đưa ra những vấn đề trong quá trình dạy để học sinh biết cách nhận diện bài và liên hệ thực tế cho đúng yêu cầu
2.1.4 Các bước làm văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý
Được rèn kĩ năng qua 4 bước:
Bước 1: Tìm hiểu đề và tìm ý: Tức là tìm hiểu dạng nghị luận, đối tượng nghị luận, phạm vi nghị luận Tìm ý: là thao tác đặt câu hỏi để tìm các luận điểm chính: câu hỏi để giải nghĩa, câu hỏi bàn luận, câu hỏi tìm bài học nhận thức
Bước 2: Lập dàn bài: Phần mở bài phải dẫn dắt và nêu vấn đề nghị luận Phân thân bài: Chủ yếu làm rõ 3 ý : Tìm ra tư tưởng đạo lý Bàn luận về tư tưởng đạo lý Bài học nhận thức được rút ra
Bước 3:Viết bài: Triển khai các ý ở phần mở bài, thân bài kết bài thành các đoạn văn đảm bảo rõ luận điểm và liên kết
Trang 4Bước 4: Đọc và sửa chữa: Sửa chữa các lỗi nhỏ như chỉnh tả, liển kết câu
2.1.5 Cách làm nghi luận về một vấn đề tưởng đạo lý.
Ở kiểu bài nghị luận xã hội về tư tưởng, đạo lí, học sinh qua những trải nghiệm của bản thân, trình bày những hiểu biết, ý kiến, quan niệm, cách đánh giá, thái độ của mình về các vấn đề xã hội, từ đó rút ra được bài học (nhận thức
và hành động) cho bản thân Để làm tốt khâu này, học sinh không chỉ biết vận dụng những thao tác cơ bản của bài văn nghị luận (như giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ ) mà còn phải biết trang bị cho mình kiến thức về đời sống xã hội Bài văn nghị luận xã hội nhất thiết phải có dẫn chứng thực tế Cần tránh tình trạng hoặc không có dẫn chứng hoặc lạm dụng dẫn chứng mà bỏ qua các bước đi khác của quá trình lập luận
Mặt khác với kiểu bài nghị luận xã hội về tư tưởng, đạo lí, học sinh cần làm rõ vấn đề nghị luận, sau đó mới đi vào đánh giá, bình luận, rút ra bài học cho bản thân Thực tế cho thấy nhiều học sinh mới chỉ dừng lại ở việc làm rõ vấn đề nghị luận mà coi nhẹ khâu thứ hai, vẫn coi là phần trọng tâm của bài nghị luận Phân biệt nghị luận xã hội về sự việc, hiện tượng dời sống và nghị luận
về tư tưởng, đạo lí Nghị luận về một vấn đề trực tiếp và gián tiếp Vì những yêu cầu trên mà việc rèn luyện giúp cho học sinh có kĩ năng làm tốt một bài văn nghị luận xã hội là một việc làm rất cần thiết
Văn nghị luận là một dạng văn khó với học sinh Khác hoàn toàn với cách viết văn tự sự, miêu tả, biểu cảm hay dạng văn theo khuôn mẫu có sẵn như văn thuyết minh Do vậy giáo viên cần tìm tòi, học hỏi để có phương pháp, hình thức
tổ chức dạy học phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, phù hợp với đặc điểm môn học giúp các em học tập tích cực sáng tạo và chủ động nhằm đạt kết quả tốt nhất
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Năm học 2017 - 2018 tôi được nhà trường phân công dạy môn Ngữ văn 9 Tôi đã tiến hành ra đề nghị luận xã hội dạng nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý: “Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời”
Từ ý thơ của Thanh Hải viết một bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của
em về ước nguyện cống hiến
Kết quả được thể hiện qua bài kiểm tra chất lượng đầu năm của các em như sau:
Từ bảng số liệu trên có thể nhận thấy thực trạng trong quá trình dạy và học của giáo viên và học sinh đó là:
Giáo viên dạy: Dạy Tập làm văn thường khô và khó nên tâm lý giáo viên
không đầu tư vào phân môn này Giáo viên đã có ý thức ra bài tập rèn luyện kĩ năng làm văn cho học sinh tuy nhiên hệ thống bài tập chưa nhiều, đôi khi chưa cung cấp đầy đủ cách làm các dạng văn nghị luận dẫn đến học sinh lúng túng khi xác định hệ thống luận điểm
Trang 5Về phía học sinh học: Những năm gần đây học sinh có xu thế ngại học văn,
sợ học văn hầu hết các em không hứng thú với việc học văn mà chủ yếu thiên về các môn tự nhiên dẫn đến kĩ năng làm văn của nhiều học sinh còn hạn chế nên khi viết bài văn về một vấn đề tư tưởng đạo lý các em thường lúng túng, diễn đạt chung chung, sơ sài chưa thể hiện được những suy nghĩ của mình trước một hiện tượng đời sống, thậm chí không có bố cục của bài Tập làm văn, nghĩa là các em chưa biết cách trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề tư tưởng đạo lý Từ đó các
em khó có thể xác định và tìm được hướng đi của bài, thậm chí các em chỉ làm qua loa, đại khái cho xong có em còn làm lạc đề hoặc kết cấu bài làm thiếu ý, đoạn văn thiếu mạch lạc rõ ràng Cá biệt nhiều em không cần suy nghĩ cách làm, khi giáo viên giao đề văn thì ngay lập tức đi tìm sách tham khảo để xem để chép hoặc dựa vào dàn ý cô giáo cho sẵn để làm dẫn đến bài viết không linh hoạt khô cứng, không chân thật có phần gượng ép
Từ kết quả bài kiểm tra đầu tiên tôi nhận thấy học sinh nhiều em chưa biết cách làm bài nghị luận hầu hết bài làm của các em thiếu ý, các ý sắp xếp theo trình tự chưa hợp lí, hết một ý, một luận điểm học sinh không biết tách ý, tách đoạn chuyển ý, chuyển đoạn Về hành văn thì chưa lưu loát, lí lẽ dẫn chứng chưa đủ tính thuyết phục, chưa biết liên hệ và nêu bài học cho bản thân… Cá biệt còn có em không hiểu được đề bài cần phải triển khai những ý chính nào? Xuất phát từ thực tế đó tôi xin đưa ra một số giải pháp
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Kiểm tra và hệ thống lí thuyết làm văn nghị luận về kiểu bài nghị luận một vấn đề tư tưởng, đạo lí cho học sinh
2.3.1.1 Sự cần thiết của kiểm tra và hệ thống lí thuyết: Trong 6 kiểu
văn bản mà học sinh được tiếp cận và học trong chương trình THCS thì văn bản nghị luận chiếm một vị trí quan trọng Thực chất văn bản nghị luận đã được học trong chương trình lớp 7, học sinh đã được làm quen và thực hành ở dạng đơn giản chứng minh hay giải thích Lên lớp 9 hai dạng bài đặc trưng được học trong chương trình là văn hai dạng bài nghị luận: nghị luận về hiện tượng xã hội và nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý Trong hai dạng nghị luận này thì nghị luận về một tư tưởng đạo lý khó hơn Mặc dù các em đã được làm quen ở lớp 7 nhưng thời gian sẽ làm các em nhanh chóng lãng quên nên muốn học sinh làm tốt trước hết phải cho học sinh nắm vững kiến thức lý thuyết về văn văn đặc biệt
là nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý Khắc sâu cho học sinh từ tìm hiểu
đề, tìm ý, lập dàn ý và viết bài hoàn chỉnh
2.3.1.2 Cách kiểm tra và hệ thống: Sử dụng các kĩ thuật điền khuyết, ghép đôi, trình bày 1 phút để kiểm tra và hệ thống kiến thức cho học sinh Cụ thể:
* Cách k iểm tra:
- Sử dụng kĩ thuật điền khuyết để kiểm tra khái niệm
Gv dùng bảng phụ hoặc máy chiếu sẵn ngữ liệu khuyết để học sinh điền khuyết VD: Hãy điền vào chỗ trống để hoàn thành khái niệm dưới đây:
“ Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí là về một vấn đề thuộc lĩnh vực có ý nghĩa quan trọng đối ”
- Dùng kĩ thuật ghép đôi để kiểm tra những yêu cầu làm bài nghị luận:
Trang 6VD: Em hãy nối cột A với nội dung của cột B sao cho phù hợp để thể hiện những yêu cầu khi làm bài nghị luận về vấn đề tư tưởng đạo lí:
Nội dung Rõ ràng, sinh động
Hình thức Làm sáng tỏ các vấn đề tư tưởng đạo lí bằng cách giải thích,
chứng minh, so sánh, đối chiếu, phân tích để chỉ ra chỗ đúng (hay chỗ sai) của một tư tưởng nào đó nhằm khẳng định tư tưởng của người viết
Lời văn Bài văn phải có bố cục 3 phần rõ ràng, luận điểm đúng đắn, lập
luận chặt chẽ, mạch lạc
* Cách h ệ thống lí thuyết về bài nghị luận về tư tưởng đạo lí
Sau khi kiểm tra xong kiến thức GV sẽ dùng hệ thống kiến thức bằng cách sử
dụng kĩ thuật “Trình bày 1 phút” Để hệ thống toàn bộ lí thuyết về làm văn nghị luận GV đặt câu hỏi khái quát để HS trả lời 1 phút
VD: Thế nào là văn nghị luận? Bài nghị luận cần nắm vững những yêu cầu nào? (HS sẽ trình bày 1 phút để hệ thống lí thuyết)
2.3.2 Rèn cho học sinh kĩ năng phân biệt hai kiểu bài: Nghị luận về sự việc, hiện tượng đời sống và nghị luận về tư tưởng đạo lí
2.3.2.1 Sự cần thiết của việc rèn kĩ năng phân biệt hai kiểu bài:
Khắc sâu để học sinh nắm được kiến thức của từng kiểu bài là hết sức quan trọng để các em vận dụng tốt trong quá trình làm bài cụ thể Việc nắm vững các kiểu bài sẽ giúp học sinh các em không bị nhầm lẫn các kiểu bài dẫn đến trình trạng viết nhầm dạng nhầm bài.Thường thường khi giáo viên dạy chỉ chú ý đến cho hoc sinh trình bày hai khái niệm và nhắc nhở các em phân biệt kiểu bài cách nắm khái niệm như vậy sẽ rất chung chung Học sinh sẽ vẫn nhầm lẫn hai kiểu bài này Chỉ cần học sinh xác định sai kiểu bài thì toàn bộ quá trình lập luận tiếp theo của các em sẽ không được chấp nhận Để khắc phục tình trạng này trong quá trình dạy tôi giúp học sinh phân biệt hai kiểu bài bằng cách sau
2.3.2.2 Cách rèn kĩ năng phân biệt hai kiểu bài
Lập bảng so sánh hai kiểu bài
Kiểu bài
Căn cứ phân
biệt NL về sự việc hiện tượng đời
Dạng đề và
tính chất của
đề
- Vấn đề thường xuất hiện ở sự việc, sự kiện có tính thời sự cao
- Yêu cầu HS bàn luận trực tiếp
về chính những sự việc, sự kiện
đã được đề cập
- Những sự việc hiện tượng xuất hiện trong đề bài có thể thấy hoặc sờ được
VD: Suy nghĩ của em về ô
- Vấn đề là lối sống, đạo đức, cách cư xử
- Yêu cầu học sinh bàn luận
về ý kiến, cách đánh giá nào
đó
- Những vấn đề đã được xác định thậm chí đã được coi là chân lý ( danh ngôn, châm ngôn tục ngữ), cũng có thể
là vấn đề bức xúc cập nhật
do cuộc sống hiện đại đặt ra
VD: Trách nhiệm của con
Trang 7nhiễm môi trường hiện nay
Tình trạng nghiện điện tử ở lứa tuổi học đường…
cháu với tổ tiên Tinh thần đoàn kết Tình yêu quê hương Lòng vị tha
Phương pháp
lập luận Xphân tích các uất phát từ hiện tượng sau đó biểu hiện nguyên
nhân, biện pháp-> Rồi lại rút ra
ý kiến người viết được khái quát
thành chân lý
Ví dụ : Từ việc chỉ ra
hiện tượng rác thải, phân tích nguyên nhân, mặt hại, ý kiên, người viết phải đưa ra nhận thức hành động về tư tưởng tốt đẹp
đó là thói quen văn minh văn hóa trong cộng đồng
Xuất phát thì chân lý đã có sẵn Người viết lấy dẫn chứng trong thực tế trong văn chương để chứng minh, bàn luận về chân lý ấy
Ví dụ : Để làm rõ
tinh thần đoàn kết thì người viết phải lấy dẫn chứng trong thực tế, dẫn chứng được mọi người thừa nhận để chứng minh tính chân lý của tư tưởng đạo lý
Định hướng
khi làm bài
Theo các ý: Biểu hiện, nguyên nhân, tác dụng/ tác hại, biện pháp
Theo cách đặt câu hỏi: Là gì? Tại sao? Thế nào? như thế để làm gì? Phải làm như thế nào?
2.3.3 Rèn luyện các kĩ năng làm văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý
Thứ nhất: Kĩ năng tìm hiểu đề
Bước tìm hiểu đề nếu các em xác định tốt thì bài làm đúng hướng, đủ ý còn ngược lại nhiều em vội vàng hấp tấp chưa chú ý cẩn trọng khi tìm hiểu đề nên dẫn đến làm bài thiếu ý hoặc làm lạc đề, không đúng yêu cầu của đề bài Để khắc phục tình trạng trên tôi đã hướng dẫn học sinh tự đặt câu hỏi và tự trả lời Các đề nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý rất đa dạng đặc biệt nếu nó nằm dưới dạng những ý kiến cần giải nghĩa từ hay nằm dưới dạng câu chuyện, câu danh ngôn nếu không đọc kỹ xác định sai nội dung nghị luận thì quá trình lập luận sau đó cũng sai Trong quá trình hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề giáo viên cũng chỉ nhắc nhở chung chung các em đọc kĩ đề nhưng chưa có cách thức hay một con đường dễ nhát cho các em tìm hiểu Cách làm của bản thân giúp học sinh nhận diện như sau:
Cách 1 : Tìm hiểu đề thể hiện ở nội dung nghị luận
Những vấn đề tư tưởng đạo lý hết sức phong phú và đa dạng Học sinh rất dễ nhầm lẫn và khó xác định Nên trong quá trình dạy đặc biệt là các bài mở đầu tôi thường quy về các dạng nội dung nghị luận và đặt câu hỏi Đề thuộc dạng đề gì?
Vấn đề nhận thức :lí tưởng, mục đích sống, nghề nghiệp, ước mơ
Vấn đề đạo đức, tâm hồn, tính cách : Lòng yêu nước, lòng nhân ái, vị tha,
bao dung độ lượng, tính trung thực dũng cảm chăm chỉ, cần cù, thái độ hòa nhã, khiêm tốn, thói ích kỉ, ba hoa, vụ lợi
Vấn đề về quan hệ gia đình: tình mẫu tử, tình phụ tử, tình anh em.
Vấn đề về quan hệ xã hội: tình đồng bào, tình thầy trồ, tình bạn.
Vấn đề về cách ứng xử, đối nhân xử thế của con người trong cuộc sống
Trang 8Với cách làm này học sinh có thể dễ dàng nhận diện các nội dung nghi luận trong từng đề
Cách 2 : Tìm hiểu đề thể hiện trong dạng thức đề thi:
Dạng thức đề thi được thể hiện ở mệnh lệnh làm bài Khi cho học sinh tiếp xúc với đề tôi luôn nhắc nhở các em xác định yêu cầu của đề bởi:
Có đề thể hiện rõ yêu cầu nghị luận, có đề chỉ đưa ra yêu cầu nghị luận
mà không đưa ra một yêu cầu cụ thể nào
Có đề nêu trực tiếp vấn đề nghị luận, có đề gián tiếp đưa ra vấn đề nghị luận qua một câu danh ngôn, một câu ngạn ngữ, một câu chuyện Chú ý các bước cơ bản của bài văn nghị luận về một tư tưởng đạo lí Đây cũng là trình tự thể hiện hệ thống lập luận trong bài viết Học sinh cần tranh thủ những hướng dẫn quan trọng trong sách giáo khoa để nắm chắc kĩ năng làm bài như ở trên
Bước 2: Kĩ năng tìm ý
Bất kì bài văn nào cũng cần tìm ra các ý chính- tìm ra hệ thống luận điểm
chính, khung sườn cho bài văn Vậy làm thế nào để tìm được ý? Sau khi các em xác định được kiểu dạng bài nghị luận thì các em bám vào từ khóa để lập ý, các
từ khóa của từng kiểu bài nghị luận học sinh Để thực hiện bước tìm ý học sinh bắt buộc tự đặt câu hỏi và lập ý cho bài văn
Ví dụ: Để tìm cho đề bài về tình yêu quê hương có thể đặt hệ thống câu hỏi
? Quê hương là gì?vì sao quê hương có vai trò quan trọng trong cuộc sống cuar con người? Muốn thể hiện tình yêu với quê hương con người phải làm gì?Phê phán những con người có thái độ gì với quê hương? Bài học nhận thức được rút ra như thế nào?
Bước 3: Kĩ năng lập dàn ý
Làm bài văn giống như dựng một ngôi nhà trước hết phải đủ vật liệu cần thiết, vật liệu ở đây chính là các luận điểm, luận cứ, các ý lớn, ý nhỏ, các dẫn chứng Sau khi chuẩn bị để viết bài người viết tiến hành dựng khung cho ngôi nhà hay còn gọi làm đề cương, lập dàn ý cho bài viết Đây là bước quan trọng vì không thể viết bài mà không lập dàn ý Ngay cả những cây bút chuyên nghiệp cũng phải có đề cương trước khi viết Đành rằng phải hiểu đề cương một cách linh hoạt dàn ý có thể viết ra giấy nháp nhưng cũng có thể là ý ở trong đầu người viết Miễn là trước khi viết mô hình bài viết cần được hình thành với những ý và
sự sắp xếp các ý để làm nổi bật vấn đề mà mình muốn làm sáng tỏ Trong nhà trường học sinh đang ở giai đoạn học tập và rèn luyện vì thế bắt buộc phải lập dàn ý ra giấy Không thể làm tắt hoặc bắt chước một số cây bút chuyên nghiệp Thực chất mục đích của lập dàn ý ra giấy là buộc người viết phải động não suy nghĩ trước khi viết
Dàn bài của bài văn nghị luận có ba phần, nhiệm vụ của từng phần rất rõ, tuy nhiên các phần nhiều khi rất linh hoạt Sau đây giáo viên cung cấp dàn ý chỉ mang tính chất gợi ý tham khảo, học sinh có thể thay đổi thêm bớt, đảo vị trí sao cho phù hợp với yêu cầu nghị luận
Đối với mỗi dạng, mỗi đề bài có một cách tiến hành lập dàn ý khác nhau Tùy thuộc vào mỗi dạng đề bài để có dàn ý khái quát cho phù hợp.rèn luyện khả năng ghi nhớ cho học sinh bằng cách đặt ghi nhớ cho các phần.[1]
Mở bài
Trang 9- Giới thiệu về tư tưởng đạo lý
Đặt từ khóa cho 3 phần theo kết cấu của bài văn, như sau: phần mở bài gồm
có 3 ý: Gợi - Đưa - Báo
+ Gợi: là Gợi ý ra vấn đề cần nghị luận.
+ Đưa: sau khi gợi thì Đưa vấn đề cần nghị luận ra.
+ Báo: là Báo phải làm gì về vấn đề đưa ra nghị luận
Thân bài:
Giải nghĩa- nhận xét đánh giá- bài học nhận thức
Thực chất là một tập hợp các đoạn văn nhỏ nhằm giải quyết một vấn đề chung Để tìm ý cho phần thân bài thì ta có thể dùng công thức sau đây để đặt câu hỏi nhằm tìm ý càng nhiều, càng dồi dào thì càng tốt
Giải – Phân – Bác- Đánh
)+ Giải: Giải thích rõ nội dung tư tưởng, đạo lí (bằng cách giải thích các từ
ngữ, khái niệm )
+ Phân: Phân tích các mặt đúng của tư tưởng đạo lí (dúng dẫn chứng cuộc sống và văn học để chứng minh
+ Bác: Bác bỏ những biểu hiện sai lệch liên quan đến tư tưởng đạo lí (Dùng dẫn chứng từ cuộc sống và và văn học để chứng minh)
+ Đánh: Đánh giá ý nghĩa tư tưởng, đạo lí đã nghị luận
Kết bài: Theo công thức Tóm - Rút - Phấn
+ Tóm: Tóm tắt, khái quát lại vấn đề đã nghị luận.
+ Rút: Rút ra ý nghĩa, bài học từ vấn đề đã nghị luận
+ Phấn: Phấn đấu, bày tỏ thái độ của bản thân vấn đề tư tưởng đạo lý
Bước 4 Kĩ năng viết bài : Đây là bước cuối cùng đẻ học sinh hoàn thiện
bài viết của mình hay chính là cách hoàn thành sản phẩm Để có những bài viết hay giáo viên cần cho học sinh luyện nhiều cách viết phần mở bài, các đoạn trong phần thân bài, viết phần kết bài
Viết mở bài: Có thể dẫn dắt từ vấn đề nghị luận từ chung đến riêng Hoặc viết dạng phản đề
Viết phần thân bài : Tập viết thành các đoạn: đoạn giải thích, đoạn bàn luận , đoạn bài học nhận thức và hành động
Viết phần kết bài: Cần hô ứng với phần mở bài
2.3.4.Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận tư tưởng đạo lý theo từng dạng bài (trực tiếp và gián tiếp)
Như chúng ta đã biết trong nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý có hai dạng đề thường được nói tới đó là những đạo lý được nhắc tới trực tiếp và đạo lý được nói tới gián tiếp Nên trong quá trình dạy học giáo viên cần nắm kĩ để giúp học sinh nhận diện được dạng đề trên
2.3.4.1 Đối với dạng bài trong đó tư tưởng đạo lí được nói tới một cách trực tiếp.
Với dạng đề này các ý kiến thường được nằm ở đề bài nên học sinh thường nhận biết được dễ dàng Nên trong cách rèn luyện kĩ năng này cơ bản hướng đến, các em các hình thức trình bày nội dung lập luận cũng như dàn ý chung của kiểu bài Với dạng bài trực tiếp này giáo viên chỉ cần hướng dẫn học
Trang 10sinh phát hiện từ ngữ cần phải giải thích Đó là các từ ngữ mang tính chất khái niệm
Ví dụ: Đề bài : Viết một văn bản nghị luận (không quá một trang giấy
thi) trình bày suy nghĩ về đức tính tự tin trong cuộc sống.[3]
Phân tích đề: Đề bài yêu cầu học sinh viết một văn bản nghị luận (không
quá một trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của bản thân về đức tính tự tin
Tìm ý và lập dàn bài
- Giải thích: Khái niệm cần giải thích là tự tin: Tự tin là tin vào chính mình, vào
năng lực của bản thân trước mọi hoàn cảnh
- Bàn luận
Đức tính tự tin: Nhưng con có tính người tự tin thường chủ động, bản lĩnh trước mọi tình huống, luôn có ý thức khẳng định mình trước mọi người, tin ở khả năng ở chính mình
Sự tự tin giúp con người dễ đi đến thành công hơn tự tin thường là người
có khả năng giao tiếp tốt, có những quyết định nhạy bén sáng suốt, nắm bắt được cơ hội cho mình Thiếu tự tin là phần lớn nguyên nhân của sự thất bại
Cần phân biệt tự tin với tự cao tự đại Để tự tin con người phải có thái độ cầu tiến, không ngưng học hỏi.Trái ngược với tự tin là tự ti
Phê phán những con người tự cao tự đại, tự ti
- Bài học nhận thức và hành động
Tự tin cần được rèn luyện từ những việc nhỏ nhất như phát biểu ý kiến xây dựng bài, tha, gia các hoạt động tập thể và được rèn luyện qua cả một quá trình Tuổi trẻ cần phải tích cực học tập, rèn luyện bồi đắpvới những gí trị đạo đức: chân thành, trung thực, tự tin
Kết bài: Khẳng định lại vai trò của tự tin
2.3.4.2 Dạng bài trong đó tư tưởng, đạo lí được nói tới một cách gián tiếp.
Ở dạng này vấn đề tư tưởng, đạo lí: xuất phát từ ngữ liệu - được ẩn trong một câu danh ngôn, một câu ngạn ngữ, một câu chuyện, một văn bản ngắn Xuất
xứ của một câu danh ngôn, ngạn ngữ, câu chuyện, văn bản ngắn này cũng rất đa dạng: Trong sách giáo khoa, trên báo chí, trên internét, đặc biệt trong cuốn “Quà tặng cuộc sống, cuộc sống quanh ta, bài học cuộc đời, hạnh phúc ở quanh ta ” Chính vì thế giáo viên cần hướng cho học sinh biết đọc tham khảo, kể cho các
em nghe những câu chuyện có liên quan, có nội dung thiết thực với các em hàng ngày Nhưng một thực tế cho thấy nếu giáo viên không có cách định hướng ngay
từ đầu cho các em thì học sinh sẽ xa vào phân tích câu chuyện, ý kiến hay câu danh ngôn biến bài văn nghị luận thành bài văn phân tích Khi làm bài cần chú ý cách nói bóng bẩy, hình tượng thường xuất hiện trong những câu danh ngôn, tục ngữ, thành ngữ , ý nghĩa ẩn dụ, triết lí sâu sắc của những câu chuyện, văn bản ngắn.Vì thế để rút ra được vấn đề tư tưởng đạo lí cần bàn bạc, cần chú ý :
Thứ nhất: Giải thích từ ngữ (nghĩa đen, nghĩa bóng) từ đó rút ra nội
dung câu nói (nếu đề bài có dẫn chứng câu danh ngôn, tục ngữ, ngạn ngữ )
Tóm tắt nội dung và ý nghĩa câu chuyện, văn bản (nếu đề bài có dẫn chứng câu chuyện, văn bản ngắn)
Rút ra tư tưởng đạo lý và khẳng định tính đúng đắn của vấn đề