Chương 1 NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 1.1 Một số quan điểm của các nhà triết học về mối liên hệ Quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng, quá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN: TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
ĐỀ TÀI: Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ GIÁ TRỊ VẬN DỤNG CỦA NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN CỦA
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị Thu Hiền
Mã số sinh viên: 3121410135
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ……….……… …… 1
Chương 1: NỘI DUNG NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 1.1 Một số quan điểm của các nhà triết học về mối liên hệ… ………
…
2
1.2 Quan điểm Triết học Mác – Lênin về mối liên hệ……… … 2
1.3 Các khái niệm của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến ……… 3
1.4 Các tính chất của mối liên hệ phổ biến……… 4
1.5 Các mối liên hệ phổ biến….……….……….… 5
Chương 2: Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 2.1 Quan điểm toàn diện……….……….…… 6
2.1 Quan điểm lịch sử cụ thể……….……….… 7
Trang 3Chương 3: GIÁ TRỊ VẬN DỤNG CỦA NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
3.1 Vận dụng quan điểm toàn diện trong công cuộc đổi mới đất nước….…… 8
3.2 Vận dụng quan điểm toàn diện để tu dưỡng học tập, rèn luyện năng lực toàn diện của bản thân……….9
3.3 Vận dụng quan điểm lịch sử cụ thể trong công cuộc đổi mới đất nước… 9
3.4 Vận dụng quan điểm lịch sử cụ thể trong hoạt động của bản thân……….10
KẾT LUẬN……… …….11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 12
Trang 4MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Triết học là bộ môn nghiên cứu về những vấn đề chung và cơ bản của con người, thế giới quan và vị trí của con người trong thế giới quan, những vấn đề có kết nối với chân lý, sự tồn tại, kiến thức, giá trị, quy luật, ý thức, và ngôn ngữ Triết học được phân biệt với những môn khoa học khác bằng cách thức mà nó giải quyết những vấn đề trên,
đó là ở tính phê phán, phương pháp tiếp cận có hệ thống chung nhất và sự phụ thuộc của
nó vào tính duy lý trong việc lập luận.Đặc biệt là triết học Mác -Lênin đem đến thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận khoa học trong hoạt động nhận thức và thực tiễn Thực tế, con người thường hoạt động kết hợp giữa chủ quan và khách quan, nên không thể không có phương pháp tư duy đúng đắn mà dẫn đến thành công được Vì vậy, người viết muốn dùng một nguyên lý cơ bản của triết học, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, để phân tích cách áp dụng vào thực tiễn
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài là làm rõ nguyên lý về mối liên phổ biến.Chính vì vậy Nhiệm
vụ của bài tiểu luận tập trung vào giải quyết các vấn đề chính: Trình bày kiến thức cơ bản, ý nghĩa phương pháp luận nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật, thông qua đó liên hệ được thực tế, xác định giá trị vận dụng của nguyên lý này
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đề tài có thể làm tài liệu khoa học để giảng dạy và nghiên cứu về nguyên lý mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật
Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 Chương và 11 Tiết
1
Trang 5Chương 1 NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN CỦA PHÉP BIỆN
CHỨNG DUY VẬT 1.1 Một số quan điểm của các nhà triết học về mối liên hệ
Quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng, quá trình khác nhau trong thế giới tồn tại cô lập, tách biệt nhau, cái này nằm cạnh cái kia, không có sự liên hệ lẫn nhau; còn nếu giả sử có sự liên hệ thì đó chỉ là sự liên hệ ngẫu nhiên, hời hợt, bề ngoài; và nếu
có nhiều mối liên hệ thì bản thân từng mối liên hệ lại cô lập lẫn nhau
Quan điểm biện chứng cho rằng mối liên hệ là sự tác động qua lại, ràng buộc lẫn nhau mà sự thay đổi cái này sẽ tất yếu kéo theo sự thay đổi cái kia Đối lập với sự liên hệ
là sự tách biệt Sự tách biệt cũng là sự tác động qua lại nhưng sự thay đổi cái này sẽ không tất yếu kéo theo sự thay đổi cái kia Các sự vật, hiện tượng, quá trình khác nhau trong thế giới vừa tách biệt nhau vừa liên hệ ràng buộc, thâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau; thế giới là một hệ thống chỉnh thể thống nhất mà mọi yếu tố, bộ phận của nó luôn tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau Tuy nhiên, có hai loại quan điểm biện chứng
Quan điểm biện chứng duy tâm cố tìm cơ sở của sự liên hệ qua lại, ràng buộc lẫn nhau đó ở trong các lực lượng siêu tự nhiên hay cảm giác, ý thức con người
Quan điểm biện chứng duy vật luôn cho rằng cơ sở của sự liên hệ qua lại, ràng buộc lẫn nhau đó ở trong vật chất, và mối liên hệ mang tính khách quan – tức tồn tại không phụ thuộc vào ý thức và nhận thức của con người, và mang tính phổ biến – tức tồn tại trong mọi sự vật, hiện tượng, trong mọi lĩnh vực hiện thực
1.2 Quan điểm Triết học Mác – Lênin về mối liên hệ
Triết học Mác-Lênin là khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của
2
Trang 6mối liên hệ giữa các sự vật và hiện tượng Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới dù có
đa dạng, phong phú, có khác nhau bao nhiêu, song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất, thống nhất- thế giới vật chất
Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập tách rời nhau mà tồn tại trong sự tác động qua lại chuyển hoá lẫn nhau theo những quan hệ xác định Chính trên cơ
sở đó triết học duy vật biện chứng khẳng định rằng mối liên hệ là phạm trù triết học dùng
để chỉ sự quy định sự tác động qua lại sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới.Theo chủ nghĩa Mác -Lênin thì các sự vật hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua
sự vận động, sự tác động qua lại lẫn nhau Bản chất tính quy luật của sự vật, hiện tượng cũng chỉ bộc lộ thông qua sự tác động qua lại giữa các mặt của bản thân chúng hay sự tác động của chúng đối với sự vật, hiện tượng khác Đồng thời cũng qua đó phê phán cách xem xét của các nhà siêu hình học
1.3 Các khái niệm của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Liên hệ là quan hệ giữa hai đối tượng nếu sự thay đổi của một trong số chúng nhất
định làm thay đổi đối tượng kia
Ví dụ: Công cụ lao động liên hệ tới đối tượng lao động và ngược lại, sự biến đổi của đối tượng lao động sẽ gây ra những biến đổi ở các công cụ lao động Ở thời kì
nguyên thủy, con người chỉ có thể săn, bắt, hái, lượm nhưng đến khi công cụ lao động như cày, cuốc xuất hiện đã tác động mạnh làm thay đổi đối tượng lao động là đất đai
Mối liên hệ là một phạm trù triết học dùng để chỉ các mối ràng buộc tương hỗ, quy
đinh và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố, bộ phận trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau
Ví dụ: giữa cung – cầu và giá cả có mối quan hệ mật thiết, quyết định, chi phối lẫn nhau Bởi vì sự tăng hay giảm giá cả của một loại mặt hàng nào đó chính là sự tách rời
3
Trang 7giá cả với giá trị của hàng hóa đó Nó kích thích hoặc hạn chế nhu cầu có khả năng thanh toán về hàng hóa này hay hàng hóa khác Từ đó dẫn đến sự chuyển dịch nhu cầu hàng hóa, gây nên sự biến đổi trong quan hệ cung cầu
Cô lập (tách rời) là trạng thái của các đối tượng, khi sự thay đổi của đối tượng này
không ảnh hưởng đến các đối tượng khác, không làm chúng thay đổi
Mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ, chỉ những mối
liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới hay nói cách khác mối liên hệ phổ biến được dùng với hai nghĩa cở bản đó là: dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ; dùng để chỉ sự khái quát những mối liên hệ có tính chất phổ biến nhất
Ví dụ: Giữa tri thức cũng có mối liên hệ phổ biến: Khi làm kiểm tra Toán, Lý, Hóa, chúng ta phải vận dụng kiến thức Văn học để phân tích đề bài, đánh giá đề thi Đồng thời, khi học các môn xã hội, chúng ta phải vận dụng tư duy, lôgic của các môn tự nhiên
1.4 Các tính chất của mối liên hệ phổ biến
Tính khách quan: Phép biện chứng duy vật khẳng định tính khách quan của các mối
liên hệ, tác động trong thế giới Giữa các sự vật, hiện tượng vật chất với nhau, giữa các sự vật hiện tượng với các hiện tượng tinh thần và giữa các hiện tượng tinh thần với nhau Chúng tác động qua lại, chuyển hoá và phụ thuộc lẫn nhau Đây là cái vốn có của bản thân
sự vật, tồn tại độc lập và không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan hay nhận thức của con người Con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình
Ví dụ: Mối liên hệ giữa con vật cụ thể (một cái riêng) với quy luật sinh học; sinh – trưởng thành – già – chết (cái riêng) con người không thể sáng tạo ra được mối liên hệ đó
mà chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn
Tính phổ biến của các mối liên hệ thể hiện ở chỗ, bất kỳ ở đâu, trong tự nhiên, xã hội
và tư duy đều có vô vàn các mối liên hệ đa dạng, chúng giữ những vai trò, vị trí khác
Trang 8nhau trong sự vận động, chuyển hóa của các sự vật, hiện tượng Mối liên hệ qua lại, quy định, chuyển hóa lẫn nhau không những diễn ra ở mọi sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội,
tư duy, mà còn diễn ra giữa các mặt, các yếu tố, các quá trình của mỗi sự vật, hiện tượng
Ví dụ: Không gian và thời gian; sự vật, hiện tượng; tự nhiên, xã hội, tư duy đều có mối liên hệ, chẳng hạn quá khứ, hiện tại, tương lai liên hệ chặt chẽ với nhau
Tính đa dạng, phong phú: Mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình khác nhau thì mối liên
hệ khác nhau; một sự vật hiện tượng có nhiều mối liên hệ khác nhau (bên trong – bên ngoài, chủ yếu – thứ yếu, cơ bản – không cơ bản ), chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng đó; một mối liên hệ trong những điều kiện hoàn cảnh khác nhau thì tính chất, vai trò cũng khác nhau Như vậy, không thể đồng nhất tính chất và vai trò của các mối liên hệ khác nhau đối với những sự vật nhất định, trong những điều kiện xác định
Việc phân loại này cũng chỉ mang tính tương đối bởi vì các mối liên hệ của các đối tượng rất phức tạp, không thể tách chúng khỏi các mối liên hệ khác Các mối liên hệ còn cần được nghiên cứu cụ thể trong sự biến đổi và phát triển cụ thể của chúng
Ví dụ: Mối liên hệ của con người với nhu cầu về nước Cùng con người nhưng mỗi giai đoạn phát triển khác nhau nhu cầu về nước cũng khác, con người sống ở nơi lạnh, nơi nóng nhu cầu về nước cũng khác nhau
1.5 Các mối liên hệ phổ biến
Mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình khác nhau trong thế giới rất đa dạng Chính tính đa dạng của tồn tại vật chất quy định tính đa dạng của mối liên hệ; và các hình thức, kiểu liên hệ khác nhau có vai trò khác nhau đối với sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng trong thế giới Tùy theo cơ sở phân chia mà mối liên hệ được chia thành:
- Liên hệ trực tiếp và liên hệ gián tiếp
- Liên hệ bản chất và liên hệ không bản chất
- Liên hệ tất nhiên và liên hệ ngẫu nhiên
- Liên hệ đồng đại (không gian) và liên hệ lịch đại (thời gian) v.v 5
Trang 9Chương 2
Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN 2.1 Nguyên tắc toàn diện
Mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại trong nhiều mối liên hệ, tác động qua lại với nhau; do vậy, khi xem xét đối tượng cụ thể cần tuân theo nguyên tắc toàn diện Từ nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, phép biện chứng khái quát thành nguyên tắc toàn diện với những yêu cầu đối với chủ thể hoạt động nhận thức và thực tiễn như sau:
Thứ nhất, khi nghiên cứu, xem xét đối tượng cụ thể, cần đặt nó trong chỉnh thể
thống nhất của tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính, các mối liên hệ của chỉnh thể đó
Ví dụ: khi đánh giá một sinh viên phải xem xét nhiều mặt (thể lực, trí lực, phẩm chất, học tập, đoàn thể ); nhiều mối liên hệ (Mối liên hệ con người với con người, mối liên hệ với tự nhiên) Giữa các mặt, mối liên hệ đó tác động qua lại, phải có cái nhìn bao quát chỉnh thể đó mới đánh giá được sinh viên
Thứ hai, chủ thể phải rút ra được các mặt, các mối liên hệ tất yếu của đối tượng đó
và nhận thức chúng trong sự thống nhất hữu cơ nội tại, bởi chỉ có như vậy, nhận thức mới
có thể phản ánh được đầy đủ sự tồn tại khách quan với nhiều thuộc tính, nhiều mối liên hệ, quan hệ và tác động qua lại của đối tượng
Ví dụ: Khi đánh giá về công cuộc đổi mới ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay, chúng
ta phải đánh giá toàn diện những thành tựu (kết cấu hạ tầng, thu nhập, mức sống, giáo dục,
y tế ) cùng những hạn chế (mặt trái của những yếu tố trên, đặc biệt là tệ nạn xã hội) Rút
ra được thành tựu vẫn là cái cơ bản, quyết định đổi mới của Đảng là đúng đắn
Thứ ba, cần xem xét đối tượng này trong mối liên hệ với đối tượng khác và với môi
trường xung quanh, kể cả các mặt của các mối liên hệ trung gian, gián tiếp; trong không gian, thời gian nhất định, tức là cần nghiên cứu cả những mối liên hệ của đối tượng trong quá khứ, hiện tại và phán đoán tương lai
Ví dụ: Khi chỉ ra những hạn chế trong xã hội như tham ô, tham nhũng, lãng phí, ma túy, cờ bạc, Chúng ta phải tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến kết quả đó Có cả nguyên nhân
Trang 10trực tiếp, gián tiếp, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu (đời sống kinh tế hiện tại;
do quan niệm truyền thống, đặc biệt là chủ nghĩa cá nhân, thói tham lam, ích kỷ ;hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, còn kẽ hở, một số cán bộ thoái hóa biến chất tham ô, tham nhũng; công tác giáo dục, tuyên truyền; giám sát, có lúc xử lý chưa mạnh, tính răn đe chưa cao )
Có phân tích nguyên nhân cơ bản, trực tiếp, chủ yếu dẫn đến kết quả đó mới có giải pháp phù hợp Tương lai những hiện tượng tiêu cực đó mới có thể bị xóa bỏ
Thứ tư, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, một chiều, chỉ thấy
mặt này mà không thấy mặt khác; hoặc chú ý đến nhiều mặt nhưng lại xem xét dàn trải, không thấy mặt bản chất của đối tượng nên dễ rơi vào thuật ngụy biện và chủ nghĩa chiết trung
Ví dụ: biến nguyên nhân cơ bản, chủ yếu thành thứ yếu và ngược lại (Ngụy biện – Sai lầm), chẳng hạn kết quả học tập đạt kết quả kém đỗ lỗi cho thầy cô, nhà trường
2.2 Nguyên tắc lịch sử - cụ thể
Vì các mối liên hệ có tính đa dạng, phong phú – sự vật, hiện tượng khác nhau, không gian, thời gian khác nhau các mối liên hệ biểu hiện khác nhau nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm lịch sử – cụ thể
Quan điểm lịch sử – cụ thể đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác
động vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử – cụ thể, môi trường cụ thể
trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển Thực tế cho thấy rằng, một luận điểm
nào đó là luận điểm khoa học trong điều kiện này, nhưng sẽ không là luận điểm
khoa học trong điều kiện khác
Vì vậy để xác định đúng đường lối, chủ trương của từng giai đoạn cách mạng, của từng thời kỳ xây dựng đất nước, bao giờ Đảng ta cũng phân tích tình hình cụ thể của đất nước ta cũng như bối cảnh lịch sử quốc tế diễn ra trong từng giai đoạn và
từng thời kỳ đó và trong khi thực hiện đường lối, chủ trương, Đảng ta cũng bổ sung
và điều chỉnh cho phù hợp với diễn biến của hoàn cảnh cụ thể
7
Trang 11Chương 3 GIÁ TRỊ VẬN DỤNG CỦA NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ
BIẾN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 3.1 Vận dụng quan điểm toàn diện trong công cuộc đổi mới đất nước
Nội dung quán triệt nguyên tắc toàn diện là phải xem xét và cải tạo sự vật trong một chỉnh thể của tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính, cùng các mối liên hệ của chúng trong bản thân sự vật, mối liên hệ giữa sự vật với các sự vật khác và vớimôi trường xung quanh, kể cả các mặt các mối liên hệ trung gian, gián tiếp Để nhận thức được
sự vật, chúng ta cần xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người Cùng một sự vật, xuất phát từ nhu cầu khác nhau, chủ thể sẽ phản ánh những mặt khác nhau của sự vật và do vậy, nó biểu hiện ra những cái khác nhau Vì vậy việc nắm bắt và áp dụng nguyên tắc toàn diện là điều rất quan trọng để áp dụng vào đời sống nói riêng và sự phát triển của đất nước nói chung
Về mặt kinh tế: Trong việc phát triển kinh tế, quan điểm toàn diện cũng được chúng
ta áp dụng cụ thể ở việc thực hiện phát triển chính sách kinh tết nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cụ thể là Nhà nước vẫn thừa nhận vai trò tích cực của các thành phần kinh tế khác cũng như thừa nhận sự tồn tại của hình thức sở hữu tư nhân Tuy nhiên, trong đó chúng ta vẫn đặt biệt nhấn mạnh và coi trọng hình thức sở hữu công cộng với vai trò chủ đạo là thành phần kinh tế quốc doanh trong cơ chế thị trường
Về mặt chính trị: Chúng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trị
trong việc hoạch định đường lối và chính sạch đối nội, đối ngoại Không có sự đổi mới đó thì không có sự đổi mới khác Chúng ta phải xác định phải càng ngày càng hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nâng cao năng lực lãnh đạo và năng lực tổ chức thực tiễn của Nhà nước, nhà nước phải được xây dựng thành Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, quản lý xã hội bằng pháp luật Nước ta đã đã và đang xây dựng một nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hóa xây dựng đội ngữ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực