1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN môn kinh tế chính trị mác lê nin đề tài lý luận của các mác về hàng hóa sức lao động và sự phát triển của thị trường hàng hóa sức lao động ở việt nam

13 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 178,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở bài tiếu luận này tôi sẽ phân tích đề tài “Lý luận hàng hóa sức lao động với việc và việc phát triển của thị trường hàng hóa sức lao động của Việt Nam hiện nay” để có thể hiểu rõ hơn v

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

************************

BÀI TIỂU LUẬN Môn: Kinh Tế Chính Trị Mác Lê-Nin

ĐỀ TÀI:

Lý luận của Các-mác về hàng hóa sức lao động và sự phát triển của thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam

Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 12 năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu đề tài 1

3 Đối tượng nghiên cứu: 1

4 Kết cấu bài tiểu luận 1

NỘI DUNG 2

I Lý luận của c Mác về hàng hóa sức lao động 2

1.1 Khái niệm hàng hóa sức lao động 2

1.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa 2

1.3 Các thuộc tính của hàng hóa sức lao động 3

1.3.1 Giá trị hàng hoá sức lao động 3

1.3.2 Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động 3

1.4 Khái niệm thị trường sức lao động 4

II Thị trường sức lao động ở việt nam hiện nay 4

2.1 Tình hình thị trường lao động ở Việt Nam 4

2.2 Thực trạng thị trường sức lao động ở Việt Nam: 4

2.2.1 Thực trạng cung lao động: 4

2.2.2 Thực trạng cầu lao động 5

2.2.3 Chính sách tiền công, tiền lương tối thiểu 6

2.2.4 Thị trường xuất khẩu lao động 6

2.3 Nguyên nhân của hiện trạng thị trường sức lao động 7

2.4 Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường sức lao độngViệt Nam hiện nay 7 KẾT LUẬN 8

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 9

PHỤ LỤC 9

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sức lao động là một khái niệm trọng yếu trong kinh tế chính trị Mác-xít Mác định nghĩa sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị thặng dư nào đó Sức lao động là khả năng lao động của con người, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất và là lực lượng sản xuất sáng tạo chủ yếu của xã hội Trong bất kỳ xã hội nào, sức lao động cũng đều là yếu tố hàng đầu của quá trình lao động sản xuất Sức lao động biến thành hàng hoá là điều kiện chủ yếu quyết định sự chuyển hoá tiền thành tư bản

Ở bài tiếu luận này tôi sẽ phân tích đề tài “Lý luận hàng hóa sức lao động với việc và việc phát triển của thị trường hàng hóa sức lao động của Việt Nam hiện nay” để có thể hiểu rõ hơn về mặt hàng hóa đặc biệt này

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề hàng hóa sức lao động ở Việt Nam Đánh giá tình hình thế giới và đất nước hiện nay và liên hệ với việc và việc phát triển của thị trường hàng hóa sức lao động của Việt Nam Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, bài tiểu luận có nhiệm vụ:

Phân tích về hàng hóa và hàng hóa sức lao động

Đánh giá tình hình thị trường hàng hóa sức lao động của Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng nghiên cứu:

Vấn đề hàng hóa sức lao động là một vấn đề rộng Trong đối tượng của tiểu luận, bản thân nghiên cứu về sức lao động – một hàng hóa đặc biệt và tình hình phát triển của thị trường hàng hóa sức lao động của Việt Nam hiện nay

4 Kết cấu bài tiểu luận

Bài tiểu luận được chia làm 2 chương, 7 tiết và 6 tiểu tiết với tìm hiểu lý luận và phân tích về vấn đề hàng hóa sức lao động trong việc phát triển thị trường lao động Việt Nam

1

Trang 4

NỘI DUNG

I Lý luận của c Mác về hàng hóa sức lao động

1.1 Khái niệm hàng hóa sức lao động

Để tìm hiểu về một vấn đề cụ thể nào đó, trước hết ta phải hiểu khái niệm của nó Vậy “Hàng hóa sức lao động” là gì?

Theo C Mác, “Sức lao động, đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong thân thể một con người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con người phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích” [2, 65]

Sự biến đổi giá trị của số tiền cần phải chuyển hóa thành tư bản không thể xảy

ra trong bản thân số tiền ấy, mà chỉ có thể xảy ra từ hàng hóa mua vào (T – H) Hàng hóa đó không thể là một hàng hóa thông thường, mà phải là một hàng hóa đặc biệt, hàng hóa mà giá trị sử dụng của nó có đặc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị Thứ hàng hóa đó là sức lao động mà nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường

1.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa

Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản xuất Nhưng không phải trong bất kỳ điều kiện nào, sức lao động cũng là hàng hóa Thực tiễn lịch sử cho thấy, sức lao động của người nô lệ không phải hàng hóa, vì bản thân

nô lệ thuộc sở hữu của chủ nô, anh ta không có quyền bán sức lao động của mình Người thợ thủ công tự do tuy được tùy ý sử dụng sức lao động của mình, nhưng sức lao động của anh ta cũng không phải hàng hóa, vì anh ta có tư liệu sản xuất để làm ra sản phẩm nuôi sống mình chứ chưa buộc phải bán sức lao động để sống Sức lao động chỉ có thể trở thành hàng hóa trong những điều kiện lịch sử nhất định sau đây:

Thứ nhất, người có sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được sức lao động của mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa

Thứ hai, người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất,

để tồn tạo buộc anh ta phải bán sức lao động của mình để sống

Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động trở thành hàng hóa Sức lao động biến thành hàng hóa là điều kiện quyết định để tiền biến thành tư bản Tuy nhiên để tiền biến thành tư bản thì lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ phải phát triển đến một mức độ nhất định

Trong các hình thái xã hội trước chủ nghĩa tư bản chỉ có sản phẩm của lao động mới

là hàng hóa Chỉ đến khi sản xuất hàng hóa phát triển đến một mức độ nhất định nào đó, các hình thái sản xuất xã hội cũ (sản xuất nhỏ, phường hội, phong kiến) bị phá vỡ, thì mới xuất hiện những điều kiện để cho sức lao động trở thành hàng hóa, chính sự xuất hiện của hàng hóa sức lao động làm cho sản xuất hàng hóa có tính chất phổ biến và đã

Trang 5

báo hiệu cho sự ra đời của một thời đại mới trong lịch sử xã hội – thời đại của chủ nghĩa tư bản [2, 66]

1.3 Các thuộc tính của hàng hóa sức lao động

Cũng giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động cũng có hai thuộc tính:

giá trị và giá trị sử dụng

1.3.1 Giá trị hàng hoá sức lao động

Giống như các hàng hoá khác, giá trị hàng hoá sức lao động cũng do thời gian lao động xã hội cần thiết để xuất và tái sản xuất sức lao động quyết định

Sức lao động chỉ tồn tại như năng lực sống của con người Muốn tái sản xuất ra năng lực đó, người công nhân phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định để mặc, ở, học nghề Ngoài ra người lao động còn phải thoả mãn những nhu cầu của gia đình và con cái anh nữa Chỉ có như vậy, thì sức lao động mới được sản xuất và tái sản xuất ra một cách liên tục Như vậy thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động sẽ được quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất

ra những tư liệu sinh hoạt nuôi sống bản thân người công nhân và gia đình anh ta; hay nói cách khác, giá trị hàng hoá sức lao động được đo gián tiếp rằng giá trị của những

tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động.

Mặc dù bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử nhưng đối với mỗi một nước nhất định và trong một thời kỳ nhất định, thì quy mô những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định, do đó có thể xác định được lượng giá trị hàng hoá sức lao động do những bộ phận sau đây hợp thành:

Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động, duy trì đời sống của bản thân người công nhân;

Hai là, phí tổn đào tạo người công nhân;

Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho con cái và gia đình người công nhân.[2, 66]

1.3.2 Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động

Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao động của người công nhân Quá trình sử dụng hay tiêu dùng hàng hoá sức động khác với quá trình tiêu dùng hàng hoá thông thường ở chỗ:

Đối với các hàng hóa thông thường, sau quá trình tiêu dùng hay sử dụng thì cả giá trị lẫn giá trị sử dụng của nó đều tiêu biến mất theo thời gian

Đối với hàng hoá sức lao động, quá trình tiêu dùng chính là quá trình sản xuất ra một loại hàng hoá nào đó, đồng thời là quá trình tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá của bản thân hàng hoá sức lao động Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản sẽ chiếm đoạt Như vậy, giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động có chất đặc biệt, nó là nguồn gốc sinh ra giá trị, tức là nó có thể tạo ra giá trị mới

3

Trang 6

lớn hơn giá trị của bản thân nó Đây chính là chìa khoá để giải thích mâu thuẫn của công thức chung của tư bản Chính đặc tính này đã làm cho sự xuất hiện của hàng hóa sức lao động trở thành điều kiện để tiền tệ chuyển hóa thành tư bản [6]

1.4 Khái niệm thị trường sức lao động

Thị trường sức lao động (Thị trường lao động) là một bộ phận của hệ thống thị trường, trong đó diễn ra quá trình trao đổi giữa một bên là người lao động tự do

và một bên là người có nhu cầu sử dụng lao động Sự trao đổi này được thoả thuận trên cơ sở mối quan hệ lao động như tiền lương, tiền công, điều kiện làm việc thông qua một hợp đồng làm việc bằng văn bản hay bằng miệng [5]

Ii Thị trường sức lao động ở việt nam hiện nay

2.1 Tình hình thị trường lao động ở Việt Nam

Việc làm ở Việt Nam phổ biến là sản xuất nông nghiệp trong khuôn khổ hộ gia đình và hợp tác xã Vào thời kỳ trước Đổi mới (1986), cả nước có gần trăm nghìn hợp tác xã nông nghiệp và tiêu thủ công nghiệp, là nơi hàng triệu gia đình tham gia sản xuất và gắn bó chặt chẽ cuộc sống sinh hoạt Nhà nước có vai trò tuyệt đối đối với kinh tế tập thể và hộ gia đình, trong khi kinh tế tư nhân bị phủ định Nhà nước kiểm soát toàn bộ các yếu tố sản xuất và giữ quyền quyết định đối với các yếu tố sản xuất cũng như phân phối sản phẩm, thu nhập của người lao động Quan hệ lợi ích giữa Nhà nước, hợp tác xã, xã viên không được phân định rạch ròi, đặc biệt lợi ích của xã viên và người lao động trong hợp tác xã ít được chú trọng.[3]

Đổi mới kinh tế và cơ chế chính sách của nền kinh tế từ năm 1986 đến nay đã có ảnh hưởng lớn đến thị trường lao động Kinh tế hô hộ gia đình không chỉ góp phần tạo công ăn việc làm cho xã hội mà còn nâng cao thu nhập cho người lao động Hơn một nửa việc làm phi nông của nền kinh tế hiên nay thuộc lĩnh vực chế biến, chế tạo và dịch vụ, với sự gia tăng lực lượng lao động trong các công ty tư nhân và doanh nghiệp nước ngoài Đây là cơ

sở quan trọng để nâng cao thu nhập, mức sống và tăng trưởng ở Việt Nam Tuy nhiên, cần nhận thấy rằng tăng trưởng việc làm do nhiều yếu tố quyết định mà đột phá chính hiện nay

là đổi mới thể chế và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi [3]

Với diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 tại nhiều địa phương, đặc biệt tại các tỉnh, thành phố trọng điểm kinh tế đã khiến cho tình hình lao động việc làm năm

2021 tồi tệ hơn Số người có việc làm giảm sâu năm trước, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm tăng lên mức cao nhất chưa từng thấy Thu nhập bình quân tháng của người lao động sụt giảm nghiêm trọng so với quý trước và cùng kỳ năm trước

2.2 Thực trạng thị trường sức lao động (thị trường lao động) ở Việt Nam:

2.2.1 Thực trạng cung lao động:

Trang 7

Cung lao động là tổng nguồn sức lao động do người lao động tự nguyện đem vào quá trình tái sản xuất xã hội Cung lao động được xem xét dưới hai góc độ là số lượng và chất lượng lao động

Thứ nhất, về số lượng lao động

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên 9 tháng năm 2021 đạt 50,4 triệu người, giảm 250 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Lực lượng lao động ở khu vực thành thị là 18,3 triệu người, chiếm 36,3%; lực lượng lao động nữ đạt 23,6 triệu người, chiếm 46,9% lực lượng lao động của cả nước.[6]

Lực lượng lao động nước ta khá đông đảo nhưng có sự phân bố không đồng đều giữa thành thị và nông thôn; giữa đồng bằng, ven biển và miền núi; không đồng đều giữa cơ cấu lao động trong các ngành kinh Lao động khu vực thành thị chịu thiệt hại nhiều hơn so với khu vực nông thôn Có 46,2% lao động khu vực thành thị bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19 trong khi đó con số này ở nông thôn là 32,4%.[6]

Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động 9 tháng năm 2021 là 67,6%, giảm 1,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước

Thứ hai, về chất lượng lao động

Lao động nước ta cần cù, chịu khó, luôn sáng tạo, có tinh thần ham học hỏi, kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế hệ (đặc biệt trong các ngành truyền thống như Nông – lâm

– ngư nghiệp) Chất lượng lao động ngày càng được nâng cao nhờ những thành tựu phát triển trong văn hóa, giáo dục và y tế

Lao động đã qua đào tạo từ trình độ “Sơ cấp” trở lên 9 tháng năm 2021 là 13,1 triệu người, chiếm 26,1% lực lượng lao động, tăng 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước

Về ý thức kỷ luật lao động của người lao động còn thấp do nước ta là một nước nông nghiệp nên phần lớn người lao động còn mang nặng tác phong sản xuất của một nền nhà nước tiểu nông Người lao động chưa được trang bị các kiến thức và kỹ năng làm việc theo nhóm, không có khả nặng hợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại phát huy sáng kiến và chia sẻ kinh nghiệm làm việc [6]

2.2.2 Thực trạng cầu lao động

Cầu lao động là nhu cầu về sức lao động của một quốc gia, một địa phương, một ngành hay một doanh nghiệp trong một khoảng thời gian xác định Nhu cầu này thể hiện qua khả năng thuê mướn lao động trên thị trường lao động

Trong thời gian vừa qua d iễn biến bất thường của đại dịch Covid-19 đã đẩy tỷ lệ thất nghiệp tăng đột biến, vượt xa con số 2% như thường thấy Kể từ khi dịch Covid-19 bắt đầu khởi phát cho đến nay, Việt Nam đã trải qua 4 đợt bùng phát của đại dịch, trong

5

Trang 8

đó đợt bùng phát thứ nhất và đợt thứ tư ảnh hưởng nặng nề nhất đến thị trường lao động Đợt dịch thứ tư kéo dài và diễn biến phức tạp đã làm cho nhiều doanh nghiệp không còn sức chống đỡ và phải rời khỏi thị trường, hàng vạn lao động phải

về quê do mất việc Lao động có việc làm trong quý III năm 2021 tiếp tục giảm sâu chưa từng thấy từ trước tới nay, giảm gần 2,6 triệu người so với quý trước và giảm 2,7 triệu người so với cùng kỳ năm trước Số lượng lao động có việc làm quý III là 47,2 triệu người, xuống mức thấp nhất trong nhiều năm qua.[7]

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ở mức 3,98% là mức tăng cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây, khiến cơ hội tìm kiếm việc làm của người lao động càng khó khăn hơn Trước khi đại dịch xảy ra, mặc dù có những giai đoạn nền kinh tế phải đối mặt nhiều khó khăn nhưng tỷ lệ thất nghiệp vẫn chỉ tăng lên đến 2,82% (trong quý I năm 2011) Trong năm 2020 và 6 tháng đầu năm 2021, mặc dù bị tác động nhiều bởi đại dịch Covid-19, tỷ lệ thất nghiệp cả nước cũng vẫn dao động xung quanh con số 2%, với mức cao nhất được ghi nhận trong quý II năm 2020 là 2,85%.[7]

2.2.3 Chính sách tiền công, tiền lương tối thiểu đối với người lao động ở Việt Nam hiện nay

Trên thị trường lao động giá cả hàng hóa sức lao động được thể hiện dưới dạng tiền lương/tiền công Dưới tác động của Covid-19, chính sách tiền lương năm

2021 có thay đổi so với năm 2020, năm 2021 là năm đầu tiên Bộ luật Lao động

2019 chính thức được áp dụng với nhiều điểm mới trong quy định về lương thưởng

Hiện mức lương bình quân mà NLĐ nhận được ở hầu hết các doanh nghiệp, các KCN

ở Việt Nam là thấp Việt Nam có trên 300 KCN, KCX, KKT đang sử dụng trên 10 triệu lao động Mức lương bình quân thấp chưa đến 5 triệu đồng/người/tháng, ngoài yếu tố trình độ khoa học, công nghệ, tay nghề, chất xám của NLĐ thấp, nguyên nhân có thể do: Thiết kế mức lương tối thiểu thấp; việc vận dụng mức lương tối thiểu của doanh nghiệp, ở một số nhà đầu tư, một số người làm quản lý lao động chưa thỏa đáng Có tình trạng NSDLĐ lợi dụng tình trạng dư cung của thị trường lao động Viêt Nam; một số chủ doanh nghiệp và người quản lý doanh nghiệp lợi dụng biến mức lương tối thiểu thành mức lương bình quân; một số doanh nghiệp “phớt lờ” kỳ “nâng lương” cho NLĐ [8]

2.2.4 Thị trường xuất khẩu lao động

Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 đã làm cho nhiều DN ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan phải tạm dừng hoạt động hoặc bị phá sản Thị trường tuyển dụng lao động nước ngoài sắp tới, vì thế sẽ có sự giảm sút về mặt số lượng Tuy nhiên, theo các chuyên gia về XKLĐ, thị trường lại có sự gia tăng đáng kể

về mặt chất lượng "Cơ chế lọc" của dịch Covid-19 không chỉ có ý nghĩa với Việt Nam mà còn cả ở các nước tiếp nhận lao động [10]

Trang 9

Theo Cục Quản lý lao động ngoài nước, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trong 7 tháng đầu năm 2021, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 41.383 lao động, trong đó có 14.912 lao động nữ Đài Loan (Trung Quốc) là thị trường tiếp nhận nhiều lao động Việt Nam nhất với 19.300 lao động, Nhật Bản đứng thứ 2 với 18.819 lao động Đáng chú ý, Hàn Quốc, Romania, Hungary hay cả Singapore vẫn đều đặn tiếp nhận lao động Việt Nam Số liệu thống kê gần đây cho thấy trong tháng 7 - tháng mà dịch bùng phát khắp cả nước - vẫn có 781 lao động Việt Nam xuất cảnh ra nước ngoài làm việc [10] 2.3 Nguyên nhân của hiện trạng thị trường sức lao động

Thứ nhất, những hạn chế, bất cập nêu trên có nguyên nhân khách quan từ nội lực nền kinh tế còn yếu, chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp; tích luỹ còn ít, nguồn lực nhà nước còn hạn chế nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu Việc thể chế hoá các chủ trương của Đảng về chính sách tiền lương còn chậm, chưa có nghiên cứu căn bản và toàn diện về chính sách tiền lương trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.[9]

Thứ hai, chất lượng lao động thấp, chủ yếu là lao động nông nghiệp, nông thôn, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển: Tình trạng thể lực của lao động Việt Nam ở mức trung bình kém Kỷ luật lao động chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra của quá trình sản xuất công nghiệp Người lao động chưa được trang bị các kiến thức và kỹ năng làm việc theo nhóm, không có khả năng hợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại phát huy sáng kiến và chia sẻ kinh nghiệm làm việc [9]

Ba là, còn nhiều rào cản, hạn chế trong dịch chuyển lao động: Phần lớn lao động di

cư chỉ đăng ký tạm trú, không có hộ khẩu, gặp khó khăn về nhà ở, học tập, chữa bệnh

trình độ học vấn của lao động di cư thấp và phần đông chưa qua đào tạo nghề Hầu hết các khu công nghiệp và khu chế xuất – nơi sử dụng đến 30% lao động di cư không có dịch vụ hạ tầng xã hội (ký túc xá, nhà trẻ, nhà văn hóa, đào tạo nghề, tham gia bảo hiểm xã hội…), lao động di cư ít có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản Tình trạng trên dẫn tới hậu quả là nguồn cung lao động không có khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của các vùng, các khu công nghiệp, khu chế xuất[9]

Thứ tư, do ảnh hưởng của đại dịch Covid làm nền kinh tế ngưng trệ, nhiều doanh nghiệp công ty phá sản dẫn tới nhiều công nhân thât nghiệp

2.4 Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường sức lao độngViệt Nam hiện nay

Thứ nhất, hỗ trợ kết nối cung cầu lao động: hai bên có cung hoặc có cầu nhưng đôi khi không gặp nhau, chúng ta giúp cho việc kết nối này nhanh hơn Rà soát, đơn giản hóa thủ tục về chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp; có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong thu, nộp và hoàn thuế để nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ cho các doanh nghiệp được chuyển đổi từ hộ kinh doanh Trong bối cảnh hội nhập và ảnh hưởng lan

7

Trang 10

tỏa của CMCN4.0, cần dự báo được cung – cầu lao động, đánh giá cơ cấu ngành nghề mới để dự báo nhu cầu việc làm và khả năng dung nạp của thị trường lao động Cần có kế hoạch chủ động đào tạo lao động có tay nghề, kiến thức chuyên môn, đồng thời hỗ trợ cho những lao động ngoài 40 tuổi không còn thời gian để đào tạo lại để thích ứng với CMCN4.0 [8]

Thứ hai, văn dụng lý luận hàng hoá sức lao động phải phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế và xu thể phát triển của nền kinh tế tri thức Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải chủ động xây dựng và phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng

và chất lượng, nhất là về trình độ chuyển môn, kỹ thuật, về phẩm chất năng lực thì mới có thể tiếp cận được nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế [10]

Thứ ba, tăng lương tối thiểu cho người lao động; cần thêm những động thái tích cực nhằm kích cầu tiêu dùng; tăng khoảng cách giữa các bậc liền kề trong bảng lương; hoàn thiện chính sách tiền lương, tiền công theo hướng thị trường; cần có chế độ, chính sách về tiền lương và phụ cấp đối với cán bộ, công chức cơ sở cho phù hợp sự phát triển kinh tế thị trường; cần quy định các nguyên tắc xây dựng thang lương, bảng lương để người lao động

và người sử dụng lao động có cơ sở xác định tiền lương, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra để đảm bảo quyền lợi của người lao động [9]

Thứ tư, nâng cao năng lực, tuyên truyền, kiểm tra, giám sát, đánh giá thực hiện dự án, trong đó: Tăng cường đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý nhà nước về việc làm; phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng khung chương trình và tổ chức đào tạo, tập huấn cho đội ngũ tư vấn viên của trung tâm dịch vụ việc làm; Thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về lao động, việc làm, nhất là cho lao động nông thôn, lao động di cư và các đối tượng lao động đặc thù [7]

KẾT LUẬN

Bài viết xem xét lý luận thị trường hàng hóa sức lao động- thực tiễn thị trường sức lao động ở Việt Nam Bằng việc phân tích lý luận về hàng hóa sức lao động và thực trạng thị trường sức lao động Việt Nam trong đại dịch Covid hiện nay bài viết đã chỉ ra những bất cập, khoảng trống và một số giải pháp chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn, khắc phục hạn chế trong lĩnh vực trên Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong ba khâu đột phá phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh quyết liệt để tồn tại và phát triển Cần tạo môi trường và điều kiện để phát triển thị trường lao động hiện đại, thông thoáng, thống nhất Nâng cao hiệu quả đào tạo nhằm nâng cao kỹ năng và đáp ứng nhu cầu thị trường lao động trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 đang có tác động lan tỏa Kinh tế số và kỷ nguyên công nghệ số mang đến những cơ hội bứt phá về năng suất lao động, phát triển nhân lực chất lượng cao nhưng

Ngày đăng: 21/05/2022, 20:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Giáo trình “Kinh tế chính trị Mác – Lê nin”, NXB Chính trị Quốc gia, 2004 3. Thị trường lao động - việc làm và quan hệ lao động trong điều kiện hội nhập ở Việt Nam: Thực trạng và một số định hướng chính sáchhttp://hdll.vn/vi/nghien-cuu---trao-doi/thi-truong-lao-dong---viec-lam-va-quan-he-lao-dong-trong-dieu-kien-hoi-nhap-o-viet-nam-thuc-trang-va-mot-so-dinh-huong-chinh-,truy cập ngày 1/1/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế chính trị Mác – Lê nin
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
4. Hàng hóa sức lao động và vấn đề lao động và việc làm ở Việt Nam” http://luanvan.net.vn/luan-van/de-tai-hang-hoa-suc-lao-dong-va-van-de-lao-dong-va-viec-lam-o-viet-nam-70189/, truy cập ngày 1/1/2022 Link
5. Thực trạng lực lượng lao động Việt Nam và một số vấn đề đặt ra! https://laodongphothong.vn/thuc-trang-luc-luong-lao-dong-viet-nam-va-mot-so-van-de-dat-rasach--%E2%80%8B.html, truy cập ngày 1/1/2022 Link
6. Thông cáo báo chí tình hình lao động việc làm quý iii và 9 tháng năm 2021 https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2021/10/thong-cao-bao-chi-tinh-hinh-lao-dong-viec-lam-quy-iii-va-9-thang-nam-2021/, truy cập ngày 1/1/2022 Link
7. Dịch Covid-19 tác động nặng nề đến thị trường lao động, việc làm cả nước quý III năm 2021 http://consosukien.vn/bao-cao-tac-dong-cua-dich-covid-19-den-tinh-hinh-lao-dong-viec-lam-quy-iii-nam-2021.htm, truy cập ngày 1/1/2022 Link
8. Chính sách tiền lương ở Việt Nam - những chặng đường cải cách https://tcnn.vn/news/detail/42155/Chinh-sach-tien-luong-o-Viet-Nam-nhung-chang-duong-cai-cach.html, truy cập ngày 1/1/2022 Link
9. Thực trạng tiền lương, thu nhập, đời sống của người lao động Việt Nam https://cuocsongantoan.vn/thuc-trang-tien-luong-thu-nhap-doi-song-cua-nguoi-lao-dong-viet-nam-71371.html, truy cập ngày 1/1/2022 Link
10. Thị trường xuất khẩu lao động sau dịch covid-19: nhiều tín hiệu lạc quan, https://nld.com.vn/cong-doan/thi-truong-xuat-khau-lao-dong-sau-dich-covid- Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w