1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo " Cần sửa đổi, bổ sung chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng " pdf

6 633 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cần Sửa Đổi, Bổ Sung Chế Định Bồi Thường Thiệt Hại Ngoài Hợp Đồng
Tác giả ThS. Trần Thị Huệ
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Đặc San
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 195,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề bồi thường khoản tiền cấp dưỡng, về nguyên tắc người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường khoản tiền này khi người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng bằng thu nhập của mì

Trang 1

ThS TrÇn ThÞ HuÖ * rong thực tiễn đời sống hàng ngày,

thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức

khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của

công dân; tài sản, danh dự, uy tín của

các tổ chức xảy ra do nhiều nguyên nhân

khác nhau, có thể là do lực lượng tự nhiên

gây ra (phương tiện cơ giới, súc vật, cây cối,

động đất, núi lửa, bão lụt…); có thể do hành

vi của con người gây ra, trong đó phần lớn là

do hành vi trái pháp luật của con người gây

ra Để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích

của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của

công dân và các chủ thể khác, Bộ luật dân sự

(BLDS) quy định trách nhiệm bồi thường

thiệt hại với tư cách là chế định dân sự độc

lập nhằm khôi phục lại những lợi ích bị xâm

phạm và bù đắp những thiệt hại xảy ra cho

người bị thiệt hại

BLDS quy định về bồi thường thiệt hại

tương đối đầy đủ, có hệ thống đã đóng góp

một phần to lớn trong việc điều chỉnh các

quan hệ pháp luật dân sự về bồi thường thiệt

hại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá

nhân, pháp nhân và các chủ thể khác Các

quy định này là cơ sở tốt để toà án áp dụng

giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại

Những quy định này cơ bản đã đi vào trạng

thái vận động ổn định, phù hợp với đòi hỏi

khách quan đặt ra trong thực tiễn cuộc sống và

giao lưu dân sự, đã phát huy được hiệu quả

điều chỉnh các quan hệ về bồi thường thiệt hại

Song các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn có những điểm chưa rõ, chưa đầy đủ, còn thiếu chặt chẽ Vì vậy, cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội hiện nay

1 Phần những quy định chung

Theo quy định tại Điều 609 BLDS thì một người có lỗi cố ý hay vô ý nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại Khi xác định một người có lỗi, phải là một người biết hoặc phải biết hành vi của mình có thể gây ra thiệt hại Tuy Điều 609 BLDS không quy định thế nào là lỗi cố ý và vô ý gây thiệt hại nhưng khoản 2 Điều 309 BLDS đã quy định vấn đề này đối với trường hợp cố ý gây thiệt hại và

vô ý gây thiệt hại

Để làm cơ sở cho việc xác định mức bồi thường trong trường hợp người gây thiệt hại

có lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn hoặc trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại hoặc là người bị thiệt hại cùng có lỗi (theo Điều 620, 621, 610 BLDS thì khi xác định mức bồi thường đều phải dựa vào mức độ lỗi) Bởi thế trong BLDS cần quy định cụ thể

về mức độ lỗi vô ý nhẹ và lỗi vô ý nặng Việc quy định này là hết sức cần thiết, bởi vì một người vô ý nặng gây thiệt hại thì không nên đặt ra vấn đề giảm mức bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 610 BLDS Bản thân

T

* Giảng viên chính Khoa luật dân sự

Trang 2

người gây thiệt hại hoàn toàn có khả năng

thấy trước mức độ hậu quả có thể xảy ra dù

mong muốn hoặc không mong muốn nhưng

để mặc cho thiệt hại xảy ra

Điều 610 BLDS quy định các nguyên tắc

bồi thường thiệt hại trong đó khoản 2 quy

định nguyên tắc xem xét mức độ lỗi và khả

năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người

gây ra thiệt hại để giảm mức bồi thường

Khái niệm "thiệt hại quá lớn" còn là khái

niệm mở Việc cụ thể hoá thiệt hại “quá lớn”

là bao nhiêu cho mọi trường hợp hay tuỳ

từng trường hợp để khẳng định có quá lớn

hay không so với khả năng kinh tế của từng

chủ thể gây thiệt hại… Hiện nay, chưa có

quy định cụ thể Vì thế thực tế cho thấy khi

áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh

chấp loại này, cơ quan bảo vệ pháp luật đã

xem xét dựa vào từng trường hợp cụ thể

trong mối liên hệ với điều kiện sống trong

không gian và thời gian nhất định Điều đó

đòi hỏi có sự chu đáo, công bằng, tận tuỵ và

đầy trách nhiệm trong công việc của người

làm công tác xét xử Tuy nhiên, thực trạng này

vẫn đòi hỏi phải có quy định “chuẩn” tối thiểu

- tối đa để đảm bảo sự thống nhất trong

đường lối xét xử của toà án

Khoản 3 Điều 610 quy định về việc thay

đổi mức bồi thường

Thay đổi mức bồi thường là việc toà án

hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác

ấn định lại mức bồi thường không còn phù

hợp trong một số trường hợp cụ thể

Việc không còn phù hợp về mức bồi

thường có thể do:

+ Thực tế phát sinh những điều kiện mới

(người được bồi thường đã trở lại thu nhập

bình thường, người phải bồi thường quá khó khăn về kinh tế);

+ Giá cả thị trường không còn phù hợp với thực tế;

+ Sức khoẻ bị giảm sút hoặc hồi phục so với thời điểm toà án ấn định mức bồi thường Khi giải quyết thay đổi mức bồi thường

dù tăng hay xuống sẽ không dễ dàng đối với người được yêu cầu thay đổi mức bồi thường (người gây thiệt hại cũng như người bị thiệt hại), vì việc chứng minh sẽ gặp rất nhiều khó khăn Có thay đổi được hay không? thay đổi theo hướng nào? Vào thời điểm nào thì có thể yêu cầu thay đổi mức bồi thường

Thông thường, yêu cầu thay đổi phát sinh khi phán quyết của toà án chưa có hiệu lực pháp luật nhưng nếu bản án đã có hiệu lực pháp luật và các bên đã thi hành bản án hoặc

đã thi hành thoả thuận trong quyết định hoà giải của toà án thì có thay đổi mức bồi thường được không? Do vậy, văn bản pháp luật hướng dẫn về thời điểm yêu cầu thay đổi mức bồi thường thiệt hại cũng cần phải quy định việc thay đổi mức bồi thường được đặt

ra khi mức bồi thường đã ấn định không còn phù hợp Vấn đề này có ý kiến cho rằng chỉ được áp dụng trong trường hợp bồi thường theo định kì hàng tháng hoặc hàng quý mà không thể áp dụng trong trường hợp một lần (bồi thường toàn bộ một lần) Bởi vì, bồi thường một lần là có thể khắc phục được ngay hậu quả vào thời điểm thực hiện bồi thường Bởi thế, yêu cầu thay đổi không còn đáp ứng, mục đích bồi thường không còn ý nghĩa Song thực tế có nhiều trường hợp sức khoẻ của người bị thiệt hại ngày càng xấu đi,

tỉ lệ thương tật ngày càng tăng lên, họ rơi vào

Trang 3

hoàn cảnh khó khăn thêm và như vậy thì hậu

quả vẫn chưa được khắc phục Họ phải được

quyền yêu cầu thay đổi mức bồi thường khi

có lí do chính đáng

2 Xác định thiệt hại

Xác định thiệt hại vào thời điểm xét xử

sơ thẩm hay vào thời điểm gây ra thiệt hại

chưa được pháp luật quy định Xác định thiệt

hại vào thời điểm nào là rất quan trọng, vì tại

hai thời điểm kể trên mức thiệt hại có thể bị

thay đổi do sự biến động của giá cả thị

trường Theo chúng tôi, thiệt hại phải được

xác định vào thời điểm xảy ra thiệt hại, vì tại

thời điểm này quyền và lợi ích hợp pháp của

người bị thiệt hại đã bị xâm phạm

Vấn đề bồi thường khoản tiền cấp dưỡng,

về nguyên tắc người gây thiệt hại chỉ phải bồi

thường khoản tiền này khi người bị thiệt hại

đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng bằng thu

nhập của mình đối với người được cấp

dưỡng Những căn cứ để tính khoản tiền này

được tính cụ thể như thế nào? Được bồi

thường theo tháng, theo quý, theo năm hay

bồi thường một lần?… Đặc biệt là việc xác

định mức cấp dưỡng, đây là vấn đề khó khăn,

phức tạp trong hoạt động xét xử của toà án

khi giải quyết về bồi thường thiệt hại do sức

khoẻ, tính mạng bị xâm phạm Theo chúng

tôi, khi xác định mức cấp dưỡng phải dựa

trên mức thực tế của những người mà người

bị thiệt hại phải cấp dưỡng đang được hưởng

Đồng thời, dựa vào khoản chênh lệch giữa

thu nhập thực tế của người bị thiệt hại và chi

phí cần thiết tối thiểu của bản thân người ấy

hàng tháng (không quá 50% mức lương tối

thiểu của người có nghĩa vụ cấp dưỡng)

Về khoản tiền cấp dưỡng, khoản 2 Điều

613 đã xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc

bị giảm sút của người bị thiệt hại là khoản tiền mà người gây thiệt hại phải bồi thường Tiếp đến khoản 3 Điều 613 lại quy định rằng người gây thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng Việc quy định của hai khoản trên đây tại Điều 613 đã buộc người gây thiệt hại phải bồi thường đến hai lần cho một thiệt hại xảy ra trên thực tế, bởi lẽ một người khi thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho người mình có nghĩa vụ cấp dưỡng thì mức cấp dưỡng phải lấy trong thu nhập của người

đó Điều này không phù hợp với nguyên tắc

“gây thiệt hại bao nhiêu thì phải bồi thường bấy nhiêu” Thực tế này đòi hỏi cần có sự cân nhắc và sửa đổi Điều 613 theo hướng khoản cấp dưỡng phải được xác định trong thu nhập

bị mất đã được xác định của người gây thiệt hại (không vượt qua phạm vi thu nhập của họ), để đảm bảo tính công bằng cho các chủ thể trong quan hệ này

Trường hợp nào người gây thiệt hại phải bồi thường khoản tiền cấp dưỡng:

Khoản 3 Điều 613 và khoản 3 Điều 614 BLDS đều quy định tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa

vụ cấp dưỡng Theo nội dung quy định này thì phải hiểu người gây thiệt hại phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho tất cả những người

mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, cho dù trên thực tế họ có thực hiện nghĩa vụ

đó hay không Nếu vậy, điều đó thực sự không hợp lí bởi những lí do sau đây:

- Có nhiều trường hợp người bị thiệt hại không có thu nhập (học sinh, sinh viên…) mà khi không có thu nhập thì không thể xác định

Trang 4

thu nhập bị mất Vì vậy, vấn đề khôi phục sẽ

không được đặt ra;

- Tuy người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp

dưỡng đối với những người được cấp dưỡng

nhưng trên thực tế họ lại không thực hiện

nghĩa vụ này Trong khi đó, người gây thiệt

hại bị buộc phải thực hiện nghĩa vụ này thì

hoàn toàn không hợp lí

Với thực tế này, pháp luật cần quy định

người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường khoản

tiền khi người bị thiệt hại có thu nhập và đang

thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng bằng thu nhập

của mình đối với người được cấp dưỡng và

chỉ những người thực tế bị mất khoản cấp

dưỡng khi người bị thiệt hại mất khả năng lao

động hoặc chết thì người gây thiệt hại mới có

nghĩa vụ cấp dưỡng Giải quyết theo hướng

này mới bảo đảm được quyền lợi chính đáng

của các chủ thể Việc xác định chính xác thiệt

hại không chỉ đảm bảo quyền lợi cho người

bị thiệt hại mà còn đảm bảo cho cả người gây

thiệt hại (vì thiệt hại xảy ra thường nằm

ngoài mong muốn của họ)

Thời hạn được bồi thường, hiện nay, tại

Điều 616 BLDS chỉ mới quy định thời hạn

được hưởng bồi thường cho trường hợp

người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao

động mà không quy định thời hạn được

hưởng bồi thường cho người bị thiệt hại mất

một phần khả năng lao động Có rất nhiều

trường hợp người bị thiệt hại có tổn hại vĩnh

viễn về sức khoẻ và không thể phục hồi, họ

không hẳn bị tàn phế hoàn toàn nhưng tổn hại

đó vẫn ảnh hưởng rất lớn tới khả năng lao

động và thu nhập của họ Trường hợp này

pháp luật chưa có quy định cụ thể nên trong

thực tiễn xét xử vẫn phải dựa trên tinh thần

của Thông tư số 173/UBTP ngày 23/3/1972 của Toà án nhân dân tối cao xác định trong khoảng thời gian xác định là 3 năm (trong trường hợp đặc biệt là 5 năm) Để bảo vệ quyền lợi cho người bị thiệt hại trong trường hợp này, chúng tôi thấy cần thiết luật phải quy định thời hạn được hưởng bồi thường của họ đến hết độ tuổi lao động theo quy định của Bộ luật lao động Việt Nam

Trên thực tế, nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện qua hai phương thức:

+ Cấp dưỡng một lần: Thực hiện phương thức này sẽ đảm bảo được tính kịp thời, nhanh chóng toàn bộ thiệt hại nhưng bên cạnh đó có những khó khăn nhất định vì cùng một lúc người gây thiệt hại phải bồi thường khoản tiền quá lớn dẫn đến việc thi hành án rất khó khăn, thậm chí không thể thi hành được

+ Cấp dưỡng định kì: Đây là phương thức người gây thiệt hại phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo từng thời hạn nhất định Phương thức này sẽ tạo điều kiện cho người

có nghĩa vụ cấp dưỡng thực hiện nghĩa vụ tốt hơn Đặc biệt trong những trường hợp người phải cấp dưỡng không có khả năng về kinh

tế Ngược lại, phương thức này gây ra một số khó khăn cho người có nghĩa vụ cấp dưỡng như thời gian đi lại, chi phí phương tiền tàu xe… của người gây thiệt hại khi hai bên chủ thể trong quan hệ có nơi cư trú cách nhau quá

xa Hiện nay, có toà án giải quyết theo phương thức bồi thường một lần, có toà án lại giải quyết theo phương thức cấp dưỡng định

kì theo tháng hoặc theo quý và tách từng phần tương ứng với từng người được hưởng Chúng tôi cho rằng văn bản hướng dẫn cần

Trang 5

quy định theo hướng này

Điều 618 quy định bồi thường thiệt hại

trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình

thế cấp thiết Nếu nguyên nhân đưa đến hành

vi gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ

chính đáng chỉ có thể do con người chủ động

gây ra thì nguyên nhân đưa đến tình thế cấp

thiết có thể do hành vi trái pháp luật của con

người gây ra, có thể do yếu tố tự nhiên gây ra

như động đất, lũ lụt , bão tố, cháy rừng

Hành vi gây thiệt hại chỉ được coi là tình

thế cấp thiết khi đáp ứng được ba yêu cầu sau:

+ Hành vi của một người được thực hiện

trong trường hợp nguy hiểm đang xảy ra

hoặc sẽ xảy ra ngay tức khắc đe doạ trực tiếp

đến lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tập

thể, của cá nhân

+ Với mục đích ngăn chặn khắc phục

thiệt hại cũng như bảo vệ lợi ích lớn hơn,

pháp luật yêu cầu thiệt hại xảy ra phải nhỏ

hơn thiệt hại cần ngăn chặn Không được

phép dùng tính mạng, sức khoẻ người khác

để ngăn chặn thiệt hại đang xảy ra hoặc sẽ

xảy ra ngay tức khắc

+ Biện pháp gây thiệt hại là biện pháp

duy nhất cuối cùng Có nghĩa là trong trường

hợp còn có những biện pháp khác không cần

gây thiệt hại mà vẫn bảo vệ được lợi ích lớn

hơn và hành vi đã thực hiện không phải là

biện pháp tối ưu, cuối cùng thì không được

coi là tình thế cấp thiết

Như vậy, nếu có cơ sở để xác định thiệt

hại xảy ra do phải hành động trong tình thế

cấp thiết thì người gây thiệt hại không phải

bồi thường (khoản 1 Điều 618 BLDS)

Ngược lại, nếu hành vi gây thiệt vượt quá yêu

cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt

hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại

(khoản 2 Điều 618 BLDS)

Nếu hành vi gây hại được coi là tình thế cấp thiết thì dễ dàng xác định trách nhiệm bồi thường thuộc về ai “người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi

thường cho người bị thiệt hại” (khoản 3 Điều

618 BLDS) nhưng sẽ không đơn giản khi xác định trách nhiệm bồi thường của hành vi gây hại lại vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết (thiệt hại gây ra lớn hơn thiệt hại cần ngăn chặn) Đặc biệt trong trường hợp người nào

đó gây ra tình thế cấp thiết buộc người khác phải hành động để bảo vệ lợi ích đang bị đe doạ trực tiếp nhưng người này đã hành động vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết nên phải bồi thường cho người bị thiệt hại

Khoản 3 Điều 618 BLDS chỉ quy định:

“… người gây hại phải bồi thường cho người

bị thiệt hại” mà không quy định cụ thể việc

bồi thường như thế nào trong trường hợp cụ thể trên đây Việc quy định như vậy dẫn đến

có nhiều cách hiểu khác nhau:

Thứ nhất, quy định này được hiểu là

người có hành vi gây thiệt hại vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết phải bồi thường toàn bộ thiệt hại (tức là cả phần thiệt hại phải

hi sinh để ngăn ngừa thiệt hại lớn hơn cộng với phần thiệt hại vượt quá), nếu vậy thì người gây ra tình thế cấp thiết không phải gánh chịu một hậu quả pháp lí nào cả

Thứ hai, trách nhiệm bồi thường của

người gây ra tình thế cấp thiết và người gây hại vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết là trách nhiệm liên đới Vì cho rằng hậu quả xảy

ra là thống nhất

Thứ ba, người gây hại do vượt quá yêu

cầu của tình thế cấp thiết chỉ phải bồi thường phần vượt quá phần lợi ích cần hi sinh để bảo

Trang 6

vệ lợi ích lớn hơn Phần lợi ích cần hi sinh

thuộc trách nhiệm bồi thường của người gây

ra tình thế cấp thiết

Chúng tôi cho rằng cách hiểu thứ ba hợp lí

hơn, vì lợi ích cần hi sinh là lợi ích tất yếu bị

thiệt hại trong tình thế cấp thiết để bảo vệ lợi

ích lớn hơn Do đó, phần này phải thuộc trách

nhiệm của người gây ra tình thế cấp thiết (tất

nhiên trường hợp này chỉ áp dụng đối với

nguồn phát sinh tình thế cấp thiết là do hành vi

trái pháp luật của con người gây ra)

Điều 627 BLDS quy định bồi thường

thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Hiểu được bản chất của nguồn nguy hiểm cao

độ là điều kiện đầu tiên để xác định trách

nhiệm bồi thường - chủ thể bồi thường, điều

kiện phát sinh… trong chế độ trách nhiệm do

nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, để hiểu và

xác định được các yếu tố trong loại trách

nhiệm này cần thiết phải đưa ra khái niệm

chung về nguồn nguy hiểm cao độ

Nguồn nguy hiểm cao độ là những thiết

bị máy móc, các loại hoá chất, thú dữ… luôn

chứa đựng, tiềm ẩn những nguy hiểm khách

quan những nguy cơ gây thiệt hại lớn, bất

ngờ cho những người xung quanh mà trong

quá trình chiếm hữu, sử dụng, khai thác con

người không thể kiểm soát được một cách

tuyệt đối Như vậy, nguồn nguy hiểm cao độ

có hai đặc điểm sau:

- Hoạt động của nó gây ra nguy hiểm đối

với những người xung quanh;

- Con người không thể kiểm soát được

một cách tuyệt đối quá trình hoạt động thì sẽ

bị coi là nguồn nguy hiểm cao độ và áp dụng

trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn

nguy hiểm cao độ gây ra nếu chúng gây thiệt

hại trong quá trình hoạt động;

Theo quy định tại Điều 627 BLDS thì khi

có thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây

ra, việc bồi thường được xác định như sau:

- Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường (nếu nguồn nguy hiểm gây ra thiệt hại trong thời gian đang do mình chiếm hữu, sử dụng);

- Người đang chiếm hữu, sử dụng hợp pháp nguồn nguy hiểm mà nguồn nguy hiểm gây ra thiệt hại thì người đó phải bồi thường;

- Nguồn nguy hiểm cao độ đang bị chiếm hữu trái pháp luật gây thiệt hại thì người đang chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường

Để có thể xác định được chính xác chủ thể chịu trách nhiệm thì cần quy định cụ thể hơn theo hướng:

- Chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại khi họ đang trực tiếp quản lí, kiểm soát nguồn nguy hiểm cao độ, khi họ uỷ quyền cho người khác chiếm hữu, sử dụng vì lợi ích của họ, khi họ giao cho người lao động chiếm hữu, quản lí, sử dụng theo nghĩa vụ lao động;

- Người được chủ sở hữu giao cho chiếm hữu, sử dụng thông qua hợp đồng dân sự có hiệu lực pháp luật khi họ đang thực tế quản

lí, sử dụng;

- Đồng chủ sở hữu đối với nguồn nguy hiểm cao độ cũng phải bồi thường nếu nguồn nguy hiểm cao độ hoạt động gây ra thiệt hại;

- Người được chủ sở hữu giao cho chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao

độ, sau đó nguồn nguy hiềm này chuyển giao trái pháp luật cho người thứ ba nếu trong thời gian đó nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại thì phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại./

Ngày đăng: 21/02/2014, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w