Vấn đề bồi thường khoản tiền cấp dưỡng, về nguyên tắc người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường khoản tiền này khi người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng bằng thu nhập của mì
Trang 1ThS TrÇn ThÞ HuÖ * rong thực tiễn đời sống hàng ngày,
thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức
khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của
công dân; tài sản, danh dự, uy tín của
các tổ chức xảy ra do nhiều nguyên nhân
khác nhau, có thể là do lực lượng tự nhiên
gây ra (phương tiện cơ giới, súc vật, cây cối,
động đất, núi lửa, bão lụt…); có thể do hành
vi của con người gây ra, trong đó phần lớn là
do hành vi trái pháp luật của con người gây
ra Để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích
của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân và các chủ thể khác, Bộ luật dân sự
(BLDS) quy định trách nhiệm bồi thường
thiệt hại với tư cách là chế định dân sự độc
lập nhằm khôi phục lại những lợi ích bị xâm
phạm và bù đắp những thiệt hại xảy ra cho
người bị thiệt hại
BLDS quy định về bồi thường thiệt hại
tương đối đầy đủ, có hệ thống đã đóng góp
một phần to lớn trong việc điều chỉnh các
quan hệ pháp luật dân sự về bồi thường thiệt
hại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá
nhân, pháp nhân và các chủ thể khác Các
quy định này là cơ sở tốt để toà án áp dụng
giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại
Những quy định này cơ bản đã đi vào trạng
thái vận động ổn định, phù hợp với đòi hỏi
khách quan đặt ra trong thực tiễn cuộc sống và
giao lưu dân sự, đã phát huy được hiệu quả
điều chỉnh các quan hệ về bồi thường thiệt hại
Song các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn có những điểm chưa rõ, chưa đầy đủ, còn thiếu chặt chẽ Vì vậy, cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội hiện nay
1 Phần những quy định chung
Theo quy định tại Điều 609 BLDS thì một người có lỗi cố ý hay vô ý nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại Khi xác định một người có lỗi, phải là một người biết hoặc phải biết hành vi của mình có thể gây ra thiệt hại Tuy Điều 609 BLDS không quy định thế nào là lỗi cố ý và vô ý gây thiệt hại nhưng khoản 2 Điều 309 BLDS đã quy định vấn đề này đối với trường hợp cố ý gây thiệt hại và
vô ý gây thiệt hại
Để làm cơ sở cho việc xác định mức bồi thường trong trường hợp người gây thiệt hại
có lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn hoặc trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại hoặc là người bị thiệt hại cùng có lỗi (theo Điều 620, 621, 610 BLDS thì khi xác định mức bồi thường đều phải dựa vào mức độ lỗi) Bởi thế trong BLDS cần quy định cụ thể
về mức độ lỗi vô ý nhẹ và lỗi vô ý nặng Việc quy định này là hết sức cần thiết, bởi vì một người vô ý nặng gây thiệt hại thì không nên đặt ra vấn đề giảm mức bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 610 BLDS Bản thân
T
* Giảng viên chính Khoa luật dân sự
Trang 2người gây thiệt hại hoàn toàn có khả năng
thấy trước mức độ hậu quả có thể xảy ra dù
mong muốn hoặc không mong muốn nhưng
để mặc cho thiệt hại xảy ra
Điều 610 BLDS quy định các nguyên tắc
bồi thường thiệt hại trong đó khoản 2 quy
định nguyên tắc xem xét mức độ lỗi và khả
năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người
gây ra thiệt hại để giảm mức bồi thường
Khái niệm "thiệt hại quá lớn" còn là khái
niệm mở Việc cụ thể hoá thiệt hại “quá lớn”
là bao nhiêu cho mọi trường hợp hay tuỳ
từng trường hợp để khẳng định có quá lớn
hay không so với khả năng kinh tế của từng
chủ thể gây thiệt hại… Hiện nay, chưa có
quy định cụ thể Vì thế thực tế cho thấy khi
áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh
chấp loại này, cơ quan bảo vệ pháp luật đã
xem xét dựa vào từng trường hợp cụ thể
trong mối liên hệ với điều kiện sống trong
không gian và thời gian nhất định Điều đó
đòi hỏi có sự chu đáo, công bằng, tận tuỵ và
đầy trách nhiệm trong công việc của người
làm công tác xét xử Tuy nhiên, thực trạng này
vẫn đòi hỏi phải có quy định “chuẩn” tối thiểu
- tối đa để đảm bảo sự thống nhất trong
đường lối xét xử của toà án
Khoản 3 Điều 610 quy định về việc thay
đổi mức bồi thường
Thay đổi mức bồi thường là việc toà án
hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác
ấn định lại mức bồi thường không còn phù
hợp trong một số trường hợp cụ thể
Việc không còn phù hợp về mức bồi
thường có thể do:
+ Thực tế phát sinh những điều kiện mới
(người được bồi thường đã trở lại thu nhập
bình thường, người phải bồi thường quá khó khăn về kinh tế);
+ Giá cả thị trường không còn phù hợp với thực tế;
+ Sức khoẻ bị giảm sút hoặc hồi phục so với thời điểm toà án ấn định mức bồi thường Khi giải quyết thay đổi mức bồi thường
dù tăng hay xuống sẽ không dễ dàng đối với người được yêu cầu thay đổi mức bồi thường (người gây thiệt hại cũng như người bị thiệt hại), vì việc chứng minh sẽ gặp rất nhiều khó khăn Có thay đổi được hay không? thay đổi theo hướng nào? Vào thời điểm nào thì có thể yêu cầu thay đổi mức bồi thường
Thông thường, yêu cầu thay đổi phát sinh khi phán quyết của toà án chưa có hiệu lực pháp luật nhưng nếu bản án đã có hiệu lực pháp luật và các bên đã thi hành bản án hoặc
đã thi hành thoả thuận trong quyết định hoà giải của toà án thì có thay đổi mức bồi thường được không? Do vậy, văn bản pháp luật hướng dẫn về thời điểm yêu cầu thay đổi mức bồi thường thiệt hại cũng cần phải quy định việc thay đổi mức bồi thường được đặt
ra khi mức bồi thường đã ấn định không còn phù hợp Vấn đề này có ý kiến cho rằng chỉ được áp dụng trong trường hợp bồi thường theo định kì hàng tháng hoặc hàng quý mà không thể áp dụng trong trường hợp một lần (bồi thường toàn bộ một lần) Bởi vì, bồi thường một lần là có thể khắc phục được ngay hậu quả vào thời điểm thực hiện bồi thường Bởi thế, yêu cầu thay đổi không còn đáp ứng, mục đích bồi thường không còn ý nghĩa Song thực tế có nhiều trường hợp sức khoẻ của người bị thiệt hại ngày càng xấu đi,
tỉ lệ thương tật ngày càng tăng lên, họ rơi vào
Trang 3hoàn cảnh khó khăn thêm và như vậy thì hậu
quả vẫn chưa được khắc phục Họ phải được
quyền yêu cầu thay đổi mức bồi thường khi
có lí do chính đáng
2 Xác định thiệt hại
Xác định thiệt hại vào thời điểm xét xử
sơ thẩm hay vào thời điểm gây ra thiệt hại
chưa được pháp luật quy định Xác định thiệt
hại vào thời điểm nào là rất quan trọng, vì tại
hai thời điểm kể trên mức thiệt hại có thể bị
thay đổi do sự biến động của giá cả thị
trường Theo chúng tôi, thiệt hại phải được
xác định vào thời điểm xảy ra thiệt hại, vì tại
thời điểm này quyền và lợi ích hợp pháp của
người bị thiệt hại đã bị xâm phạm
Vấn đề bồi thường khoản tiền cấp dưỡng,
về nguyên tắc người gây thiệt hại chỉ phải bồi
thường khoản tiền này khi người bị thiệt hại
đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng bằng thu
nhập của mình đối với người được cấp
dưỡng Những căn cứ để tính khoản tiền này
được tính cụ thể như thế nào? Được bồi
thường theo tháng, theo quý, theo năm hay
bồi thường một lần?… Đặc biệt là việc xác
định mức cấp dưỡng, đây là vấn đề khó khăn,
phức tạp trong hoạt động xét xử của toà án
khi giải quyết về bồi thường thiệt hại do sức
khoẻ, tính mạng bị xâm phạm Theo chúng
tôi, khi xác định mức cấp dưỡng phải dựa
trên mức thực tế của những người mà người
bị thiệt hại phải cấp dưỡng đang được hưởng
Đồng thời, dựa vào khoản chênh lệch giữa
thu nhập thực tế của người bị thiệt hại và chi
phí cần thiết tối thiểu của bản thân người ấy
hàng tháng (không quá 50% mức lương tối
thiểu của người có nghĩa vụ cấp dưỡng)
Về khoản tiền cấp dưỡng, khoản 2 Điều
613 đã xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc
bị giảm sút của người bị thiệt hại là khoản tiền mà người gây thiệt hại phải bồi thường Tiếp đến khoản 3 Điều 613 lại quy định rằng người gây thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng Việc quy định của hai khoản trên đây tại Điều 613 đã buộc người gây thiệt hại phải bồi thường đến hai lần cho một thiệt hại xảy ra trên thực tế, bởi lẽ một người khi thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho người mình có nghĩa vụ cấp dưỡng thì mức cấp dưỡng phải lấy trong thu nhập của người
đó Điều này không phù hợp với nguyên tắc
“gây thiệt hại bao nhiêu thì phải bồi thường bấy nhiêu” Thực tế này đòi hỏi cần có sự cân nhắc và sửa đổi Điều 613 theo hướng khoản cấp dưỡng phải được xác định trong thu nhập
bị mất đã được xác định của người gây thiệt hại (không vượt qua phạm vi thu nhập của họ), để đảm bảo tính công bằng cho các chủ thể trong quan hệ này
Trường hợp nào người gây thiệt hại phải bồi thường khoản tiền cấp dưỡng:
Khoản 3 Điều 613 và khoản 3 Điều 614 BLDS đều quy định tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa
vụ cấp dưỡng Theo nội dung quy định này thì phải hiểu người gây thiệt hại phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho tất cả những người
mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, cho dù trên thực tế họ có thực hiện nghĩa vụ
đó hay không Nếu vậy, điều đó thực sự không hợp lí bởi những lí do sau đây:
- Có nhiều trường hợp người bị thiệt hại không có thu nhập (học sinh, sinh viên…) mà khi không có thu nhập thì không thể xác định
Trang 4thu nhập bị mất Vì vậy, vấn đề khôi phục sẽ
không được đặt ra;
- Tuy người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp
dưỡng đối với những người được cấp dưỡng
nhưng trên thực tế họ lại không thực hiện
nghĩa vụ này Trong khi đó, người gây thiệt
hại bị buộc phải thực hiện nghĩa vụ này thì
hoàn toàn không hợp lí
Với thực tế này, pháp luật cần quy định
người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường khoản
tiền khi người bị thiệt hại có thu nhập và đang
thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng bằng thu nhập
của mình đối với người được cấp dưỡng và
chỉ những người thực tế bị mất khoản cấp
dưỡng khi người bị thiệt hại mất khả năng lao
động hoặc chết thì người gây thiệt hại mới có
nghĩa vụ cấp dưỡng Giải quyết theo hướng
này mới bảo đảm được quyền lợi chính đáng
của các chủ thể Việc xác định chính xác thiệt
hại không chỉ đảm bảo quyền lợi cho người
bị thiệt hại mà còn đảm bảo cho cả người gây
thiệt hại (vì thiệt hại xảy ra thường nằm
ngoài mong muốn của họ)
Thời hạn được bồi thường, hiện nay, tại
Điều 616 BLDS chỉ mới quy định thời hạn
được hưởng bồi thường cho trường hợp
người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao
động mà không quy định thời hạn được
hưởng bồi thường cho người bị thiệt hại mất
một phần khả năng lao động Có rất nhiều
trường hợp người bị thiệt hại có tổn hại vĩnh
viễn về sức khoẻ và không thể phục hồi, họ
không hẳn bị tàn phế hoàn toàn nhưng tổn hại
đó vẫn ảnh hưởng rất lớn tới khả năng lao
động và thu nhập của họ Trường hợp này
pháp luật chưa có quy định cụ thể nên trong
thực tiễn xét xử vẫn phải dựa trên tinh thần
của Thông tư số 173/UBTP ngày 23/3/1972 của Toà án nhân dân tối cao xác định trong khoảng thời gian xác định là 3 năm (trong trường hợp đặc biệt là 5 năm) Để bảo vệ quyền lợi cho người bị thiệt hại trong trường hợp này, chúng tôi thấy cần thiết luật phải quy định thời hạn được hưởng bồi thường của họ đến hết độ tuổi lao động theo quy định của Bộ luật lao động Việt Nam
Trên thực tế, nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện qua hai phương thức:
+ Cấp dưỡng một lần: Thực hiện phương thức này sẽ đảm bảo được tính kịp thời, nhanh chóng toàn bộ thiệt hại nhưng bên cạnh đó có những khó khăn nhất định vì cùng một lúc người gây thiệt hại phải bồi thường khoản tiền quá lớn dẫn đến việc thi hành án rất khó khăn, thậm chí không thể thi hành được
+ Cấp dưỡng định kì: Đây là phương thức người gây thiệt hại phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo từng thời hạn nhất định Phương thức này sẽ tạo điều kiện cho người
có nghĩa vụ cấp dưỡng thực hiện nghĩa vụ tốt hơn Đặc biệt trong những trường hợp người phải cấp dưỡng không có khả năng về kinh
tế Ngược lại, phương thức này gây ra một số khó khăn cho người có nghĩa vụ cấp dưỡng như thời gian đi lại, chi phí phương tiền tàu xe… của người gây thiệt hại khi hai bên chủ thể trong quan hệ có nơi cư trú cách nhau quá
xa Hiện nay, có toà án giải quyết theo phương thức bồi thường một lần, có toà án lại giải quyết theo phương thức cấp dưỡng định
kì theo tháng hoặc theo quý và tách từng phần tương ứng với từng người được hưởng Chúng tôi cho rằng văn bản hướng dẫn cần
Trang 5quy định theo hướng này
Điều 618 quy định bồi thường thiệt hại
trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình
thế cấp thiết Nếu nguyên nhân đưa đến hành
vi gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ
chính đáng chỉ có thể do con người chủ động
gây ra thì nguyên nhân đưa đến tình thế cấp
thiết có thể do hành vi trái pháp luật của con
người gây ra, có thể do yếu tố tự nhiên gây ra
như động đất, lũ lụt , bão tố, cháy rừng
Hành vi gây thiệt hại chỉ được coi là tình
thế cấp thiết khi đáp ứng được ba yêu cầu sau:
+ Hành vi của một người được thực hiện
trong trường hợp nguy hiểm đang xảy ra
hoặc sẽ xảy ra ngay tức khắc đe doạ trực tiếp
đến lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tập
thể, của cá nhân
+ Với mục đích ngăn chặn khắc phục
thiệt hại cũng như bảo vệ lợi ích lớn hơn,
pháp luật yêu cầu thiệt hại xảy ra phải nhỏ
hơn thiệt hại cần ngăn chặn Không được
phép dùng tính mạng, sức khoẻ người khác
để ngăn chặn thiệt hại đang xảy ra hoặc sẽ
xảy ra ngay tức khắc
+ Biện pháp gây thiệt hại là biện pháp
duy nhất cuối cùng Có nghĩa là trong trường
hợp còn có những biện pháp khác không cần
gây thiệt hại mà vẫn bảo vệ được lợi ích lớn
hơn và hành vi đã thực hiện không phải là
biện pháp tối ưu, cuối cùng thì không được
coi là tình thế cấp thiết
Như vậy, nếu có cơ sở để xác định thiệt
hại xảy ra do phải hành động trong tình thế
cấp thiết thì người gây thiệt hại không phải
bồi thường (khoản 1 Điều 618 BLDS)
Ngược lại, nếu hành vi gây thiệt vượt quá yêu
cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt
hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại
(khoản 2 Điều 618 BLDS)
Nếu hành vi gây hại được coi là tình thế cấp thiết thì dễ dàng xác định trách nhiệm bồi thường thuộc về ai “người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi
thường cho người bị thiệt hại” (khoản 3 Điều
618 BLDS) nhưng sẽ không đơn giản khi xác định trách nhiệm bồi thường của hành vi gây hại lại vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết (thiệt hại gây ra lớn hơn thiệt hại cần ngăn chặn) Đặc biệt trong trường hợp người nào
đó gây ra tình thế cấp thiết buộc người khác phải hành động để bảo vệ lợi ích đang bị đe doạ trực tiếp nhưng người này đã hành động vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết nên phải bồi thường cho người bị thiệt hại
Khoản 3 Điều 618 BLDS chỉ quy định:
“… người gây hại phải bồi thường cho người
bị thiệt hại” mà không quy định cụ thể việc
bồi thường như thế nào trong trường hợp cụ thể trên đây Việc quy định như vậy dẫn đến
có nhiều cách hiểu khác nhau:
Thứ nhất, quy định này được hiểu là
người có hành vi gây thiệt hại vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết phải bồi thường toàn bộ thiệt hại (tức là cả phần thiệt hại phải
hi sinh để ngăn ngừa thiệt hại lớn hơn cộng với phần thiệt hại vượt quá), nếu vậy thì người gây ra tình thế cấp thiết không phải gánh chịu một hậu quả pháp lí nào cả
Thứ hai, trách nhiệm bồi thường của
người gây ra tình thế cấp thiết và người gây hại vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết là trách nhiệm liên đới Vì cho rằng hậu quả xảy
ra là thống nhất
Thứ ba, người gây hại do vượt quá yêu
cầu của tình thế cấp thiết chỉ phải bồi thường phần vượt quá phần lợi ích cần hi sinh để bảo
Trang 6vệ lợi ích lớn hơn Phần lợi ích cần hi sinh
thuộc trách nhiệm bồi thường của người gây
ra tình thế cấp thiết
Chúng tôi cho rằng cách hiểu thứ ba hợp lí
hơn, vì lợi ích cần hi sinh là lợi ích tất yếu bị
thiệt hại trong tình thế cấp thiết để bảo vệ lợi
ích lớn hơn Do đó, phần này phải thuộc trách
nhiệm của người gây ra tình thế cấp thiết (tất
nhiên trường hợp này chỉ áp dụng đối với
nguồn phát sinh tình thế cấp thiết là do hành vi
trái pháp luật của con người gây ra)
Điều 627 BLDS quy định bồi thường
thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Hiểu được bản chất của nguồn nguy hiểm cao
độ là điều kiện đầu tiên để xác định trách
nhiệm bồi thường - chủ thể bồi thường, điều
kiện phát sinh… trong chế độ trách nhiệm do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, để hiểu và
xác định được các yếu tố trong loại trách
nhiệm này cần thiết phải đưa ra khái niệm
chung về nguồn nguy hiểm cao độ
Nguồn nguy hiểm cao độ là những thiết
bị máy móc, các loại hoá chất, thú dữ… luôn
chứa đựng, tiềm ẩn những nguy hiểm khách
quan những nguy cơ gây thiệt hại lớn, bất
ngờ cho những người xung quanh mà trong
quá trình chiếm hữu, sử dụng, khai thác con
người không thể kiểm soát được một cách
tuyệt đối Như vậy, nguồn nguy hiểm cao độ
có hai đặc điểm sau:
- Hoạt động của nó gây ra nguy hiểm đối
với những người xung quanh;
- Con người không thể kiểm soát được
một cách tuyệt đối quá trình hoạt động thì sẽ
bị coi là nguồn nguy hiểm cao độ và áp dụng
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra nếu chúng gây thiệt
hại trong quá trình hoạt động;
Theo quy định tại Điều 627 BLDS thì khi
có thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra, việc bồi thường được xác định như sau:
- Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường (nếu nguồn nguy hiểm gây ra thiệt hại trong thời gian đang do mình chiếm hữu, sử dụng);
- Người đang chiếm hữu, sử dụng hợp pháp nguồn nguy hiểm mà nguồn nguy hiểm gây ra thiệt hại thì người đó phải bồi thường;
- Nguồn nguy hiểm cao độ đang bị chiếm hữu trái pháp luật gây thiệt hại thì người đang chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường
Để có thể xác định được chính xác chủ thể chịu trách nhiệm thì cần quy định cụ thể hơn theo hướng:
- Chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại khi họ đang trực tiếp quản lí, kiểm soát nguồn nguy hiểm cao độ, khi họ uỷ quyền cho người khác chiếm hữu, sử dụng vì lợi ích của họ, khi họ giao cho người lao động chiếm hữu, quản lí, sử dụng theo nghĩa vụ lao động;
- Người được chủ sở hữu giao cho chiếm hữu, sử dụng thông qua hợp đồng dân sự có hiệu lực pháp luật khi họ đang thực tế quản
lí, sử dụng;
- Đồng chủ sở hữu đối với nguồn nguy hiểm cao độ cũng phải bồi thường nếu nguồn nguy hiểm cao độ hoạt động gây ra thiệt hại;
- Người được chủ sở hữu giao cho chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao
độ, sau đó nguồn nguy hiềm này chuyển giao trái pháp luật cho người thứ ba nếu trong thời gian đó nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại thì phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại./