1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo "Sửa đổi quy định về nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự " pptx

9 574 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sửa Đổi Quy Định Về Nghĩa Vụ Dân Sự Và Hợp Đồng Dân Sự
Tác giả TS. Bùi Đăng Hiếu
Người hướng dẫn Giảng Viên Khoa Luật Dân Sự
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Đặc San
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 243,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc bổ sung này có thể thực hiện bằng hai cách khác nhau: Hoặc đối với mỗi loại hợp đồng dân sự thông dụng bổ sung thêm một điều luật riêng, trong đó liệt kê toàn bộ các điều khoản cơ b

Trang 1

TS Bïi §¨ng HiÕu *

1 Vấn đề xác định nội dung chủ yếu

của các hợp đồng dân sự

Nội dung của hợp đồng là tổng hợp các

điều khoản mà các bên cùng nhau thoả thuận

Vấn đề được đặt ra là khi nào hợp đồng được

coi là đã giao kết và có hiệu lực? Khi các bên

đã thoả thuận với nhau về những điều khoản

nào thì hợp đồng được coi là xác lập? Ta

không thể dựa vào số lượng các điều khoản

để kết luận hợp đồng nào đó đã được coi là

giao kết hay chưa Để giải quyết vấn đề đó

các nhà lập pháp phân chia các điều khoản

của hợp đồng ra thành hai nhóm: Nhóm các

điều khoản cơ bản và các điều khoản không

cơ bản Điều khoản cơ bản là những điều

khoản mà nếu thiếu nó thì hợp đồng không

thể giao kết được Điều khoản cơ bản có thể

do pháp luật quy định hoặc theo thoả thuận

của các bên

Rất đáng tiếc là sau quy định đó thì

BLDS không hề có những quy định cụ thể về

nội dung cơ bản cho từng loại hợp đồng dân

sự thông dụng Khi sử dụng các điều khoản

của BLDS về từng loại hợp đồng dân sự

thông dụng ta không thể xác định được những

điều khoản nào là cơ bản theo quy định của

pháp luật Nếu không có những quy định cụ

thể thì khi nội dung của một hợp đồng nào đó

quá sơ sài làm phát sinh tranh chấp, toà án sẽ

không có căn cứ để quyết định rằng hợp đồng

đó không được coi là đã giao kết do không đủ

nội dung chủ yếu

Từ các phân tích trên chúng tôi xin kiến nghị cụ thể sau:

+ Nên bỏ toàn bộ khoản 2 Điều 401 BLDS (vì quy định tại khoản 2 Điều 401 không thể áp dụng cho mọi hợp đồng dân sự);

+ Bổ sung các quy định cụ thể mang tính chất bắt buộc về các điều khoản cơ bản cho từng loại hợp đồng dân sự Việc bổ sung này

có thể thực hiện bằng hai cách khác nhau: Hoặc đối với mỗi loại hợp đồng dân sự thông dụng bổ sung thêm một điều luật riêng, trong

đó liệt kê toàn bộ các điều khoản cơ bản mang tính chất bắt buộc; hoặc tại các điều luật có sẵn về từng điều khoản của hợp đồng nên chỉ

rõ điều khoản đó có được coi là điều khoản cơ bản của hợp đồng hay không

2 Vấn đề thời điểm giao kết hợp đồng

Quá trình giao kết hợp đồng dân sự được

mô hình hoá thành hai giai đoạn: Giai đoạn đề nghị giao kết hợp đồng (Offer) và giai đoạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng (Acceptance) Nếu trong đề nghị có ấn định thời hạn thì bên đề nghị chịu ràng buộc pháp

lí trong khoảng thời gian đó

Vấn đề trở nên bế tắc khi việc trả lời được thực hiện và gửi đi qua đường bưu điện trong thời hạn ấn định nhưng lại được chuyển đến

* Giảng viên Khoa luật dân sự Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

tay người đề nghị khi đã hết thời hạn Trong

trường hợp này thì lời chấp nhận có hiệu lực hay

không? Hợp đồng có được coi là giao kết tại thời

điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận

hay không (khoản 1 Điều 403 BLDS)? Thời hạn

ấn định trong đề nghị phải được coi là thời hạn

trả lời hay thời hạn chờ trả lời?

Theo quy định tại mục 1 khoản 1 Điều

397: “Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả

lời, thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực

khi được thực hiện trong thời hạn đó” Thời

hạn ấn định trong đề nghị sẽ được hiểu là thời

hạn trả lời Khoản 3 Điều 397 quy định:

“Trong trường hợp việc trả lời được chuyển

qua bưu điện, thì thời điểm trả lời là ngày gửi

đi theo dấu của bưu điện” Các quy định nêu

trên cho thấy rằng trả lời chấp nhận tuy đến

sau khi hết hạn nhưng đã được “thực hiện”

trước khi hết hạn nên vẫn được coi là có hiệu

lực và theo đó hợp đồng vẫn được coi là giao

kết tại thời điểm bên đề nghị nhận được câu

trả lời chấp nhận Điều đó cho thấy việc thời

hạn của đề nghị kết thúc chưa thực sự giải

thoát cho bên đề nghị khỏi sự ràng buộc pháp

lí của lời đề nghị đó

Tuy nhiên, kết luận trên lại mâu thuẫn

trực tiếp với mục 2 khoản 1 Điều 397: “Nếu

bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả

lời khi đã hết thời hạn chờ trả lời, thì lời chấp

nhận này coi là đề nghị mới của bên chậm trả

lời” Quy định này coi thời hạn ấn định trong

đề nghị là thời hạn chờ trả lời Câu trả lời đến

sau khi đã hết hạn chờ trả lời sẽ bị coi là chậm

trả lời và bị vô hiệu, bất kể việc câu trả lời đó

đã được gửi đi trong thời hạn Quy định này

giải thoát cho bên đề nghị khỏi những ràng

buộc pháp lí ngay sau khi thời hạn kết thúc

Đây là mâu thuẫn của BLDS Việt Nam trong việc quy định trình tự giao kết hợp đồng Pháp luật dân sự của mỗi quốc gia có những cách thức quy định riêng nhưng tựu trung lại được phân theo hai nhóm: Nhóm theo thuyết tống phát và nhóm theo thuyết tiếp thu

Các nước thuộc hệ thống Anh - Mĩ thường áp dụng thuyết tống phát, coi thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên được

đề nghị gửi đi (tống phát đi) câu trả lời chấp nhận vô điều kiện Dấu gửi đi của bưu điện là căn cứ hợp pháp để chứng minh rằng việc chấp nhận được gửi đi đúng thời hạn ấn định trong đề nghị Thời hạn ấn định trong đề nghị

sẽ được coi là thời hạn trả lời Bên đề nghị phải chịu trách nhiệm đối với câu trả lời chấp nhận đó, mặc dù họ có thể nhận được sau khi

đã hết thời hạn của đề nghị

Ngược lại, các quốc gia thuộc hệ thống luật lục địa thường áp dụng thuyết tiếp thu, theo đó thời hạn nêu trong đề nghị là thời hạn chờ trả lời Nếu như bên đề nghị nhận được (tiếp thu được) câu trả lời chấp nhận trong khoảng thời gian đó thì chấp nhận đó mới có hiệu lực pháp lí Nếu áp dụng thuyết tiếp thu này thì việc xác định thời điểm gửi đi theo dấu của bưu điện sẽ không được đặt ra Hơn thế nữa, nếu áp dụng thuyết tiếp thu thì pháp luật thường quy định thêm các xử sự của bên

đề nghị khi nhận được chấp nhận đã quá thời hạn nhằm tránh những thiệt hại cho bên được

đề nghị (như thông báo kịp thời cho bên được

đề nghị về việc trả lời đến chậm) Điều này dễ hiểu bởi vì thường chỉ có bên đề nghị mới biết rằng câu trả lời đó có đến kịp thời hạn không Pháp luật của mỗi một quốc gia thường chỉ áp dụng một trong hai thuyết đối lập nhau

Trang 3

đó (hoặc áp dụng thuyết tống phát hoặc áp dụng

thuyết tiếp thu) chứ không thể cùng một lúc áp

dụng cả hai thuyết Các quy định của BLDS

Việt Nam còn chưa thể hiện rõ quan điểm dứt

khoát của mình về vấn đề này Đó là nguyên

nhân của mâu thuẫn, làm cho BLDS của chúng

ta không thể giải quyết được các trường hợp

phức tạp xảy ra trong thực tế cuộc sống

3 Vấn đề hoàn thiện các quy định về

hành vi pháp lí đơn phương với tư cách là

loại giao dịch dân sự

Điều 130 BLDS quy định: “Giao dịch dân

sự là hành vi pháp lí đơn phương hoặc hợp

đồng của cá nhân, pháp nhân và của các chủ

thể khác nhằm làm phát sinh, thay đổi hay

chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Tiếp theo

đó, các loại hợp đồng được quy định cụ thể

trong Phần thứ ba của BLDS - nghĩa vụ dân

sự và hợp đồng Vậy hành vi pháp lí đơn

phương là gì? Các giao dịch dân sự là hành vi

pháp lí đơn phương được quy định ở đâu?

Chúng bao gồm những loại gì? Liệu có phải

tất cả mọi hành vi pháp lí đơn phương đều

được coi là giao dịch dân sự đơn phương

không? Rất đáng tiếc là các quy định của

BLDS chưa mang lại cho chúng ta câu trả lời

về các vấn đề đó

Việc chưa có quy định cụ thể cho loại

giao dịch dân sự là hành vi pháp lí đơn

phương dẫn đến nhiều khúc mắc trong giới

luật học mà chưa có căn cứ giải quyết Ví dụ

như hứa thưởng và thi có giải có phải là loại

giao dịch dân sự dưới hình thức hành vi pháp

lí đơn phương hay không? Đa số các luật gia

đều cho rằng hứa thưởng và thi có giải là

hành vi pháp lí đơn phương, bởi lẽ chúng

được xác lập dựa trên sự thể hiện ý chí của

một bên chủ thể duy nhất là bên đưa ra lời hứa thưởng hoặc bên tổ chức cuộc thi có giải Thế nhưng các quy định về hứa thưởng và thi

có giải lại được quy định trong Chương II - Hợp đồng dân sự thông dụng

Tương tự như vậy, nhiều cuộc tranh luận cũng đã diễn ra xung quanh vấn đề: Liệu thực hiện công việc không có uỷ quyền có phải là giao dịch dân sự theo hành vi pháp lí đơn phương không? Việc thực hiện công việc không có uỷ quyền cũng làm phát sinh hiệu lực pháp lí theo ý chí đơn phương của một bên chủ thể duy nhất - theo ý chí của người thực hiện công việc Thế nhưng trong BLDS, các quy định về thực hiện công việc không có

uỷ quyền lại được tách riêng độc lập với giao dịch dân sự là hành vi pháp lí đơn phương Tất cả các khúc mắc đó cho thấy BLDS của chúng ta chưa có được nền tảng lí thuyết đầy đủ, thống nhất, từ đó chưa đưa ra được những quy định cần thiết mang tính nguyên tắc về khái niệm về hành vi pháp lí đơn phương - khái niệm cơ bản của luật dân sự Khi khái niệm hành vi pháp lí đơn phương đã được sử dụng chính thức trong BLDS thì khi

đó vấn đề không chỉ đơn thuần thuộc lĩnh vực quan tâm của khoa học luật dân sự mà phải là vấn đề của cả các nhà lập pháp trong việc xây dựng BLDS

4 Về cầm cố tài sản

Điều 329 BLDS quy định: "1- Cầm cố tài

sản là việc bên có nghĩa vụ giao tài sản là động sản thuộc sở hữu của mình cho bên có quyền để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự; nếu tài sản cầm cố có đăng kí quyền sở hữu, thì các bên có thể thoả thuận bên cầm

cố vẫn giữ tài sản cầm cố hoặc giao cho

Trang 4

người thứ ba giữ

Quyền tài sản được phép giao dịch cũng

có thể được cầm cố”

Khái niệm về cầm cố quy định tại khoản 1

Điều 329 chưa bộc lộ được bản chất của biện

pháp cầm cố Điều tất nhiên là biện pháp bảo

đảm nào cũng đều nhằm mục đích “ để bảo

đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự” thế nhưng nội

dung mà chúng ta mong đợi ở khái niệm là

hiểu được rõ cầm cố thực hiện chức năng bảo

đảm như thế nào cho nghĩa vụ được bảo đảm

Bởi vậy, khoản 1 Điều 329 mới chỉ dừng lại ở

việc mô tả hành vi bên ngoài của sự việc

Bản chất của việc cầm cố được thể hiện ở

chỗ: Nếu bên cầm cố không thực hiện hoặc

thực hiện không đúng nghĩa vụ được bảo đảm

thì bên nhận cầm cố có quyền được ưu tiên

thoả mãn lợi ích của mình từ giá trị của tài sản

cầm cố Việc thoả mãn lợi ích vật chất chính

đáng đó có thể được thực hiện dưới nhiều

hình thức khác nhau do các bên thoả thuận

hoặc theo quy định của pháp luật; hoặc xác

lập quyền sở hữu của bên nhận cầm cố đối với

tài sản cầm cố; hoặc nhận tiền từ việc đem xử

lí tài sản cầm cố

Quyền ưu tiên ở đây bộc lộ rõ nét sự khác

biệt giữa chủ thể quyền được bảo đảm bằng

cầm cố với chủ thể quyền khác không được

bảo đảm Đối với các chủ nợ không được bảo

đảm thì cũng có thể được thanh toán từ giá trị

của tài sản đó nhưng không theo nguyên tắc

ưu tiên mà theo tỉ lệ số nợ của các chủ nợ

Trong trường hợp một tài sản được đem

cầm cố để bảo đảm đồng thời cho nhiều nghĩa

vụ thì khi đó quyền ưu tiên ở đây cũng đồng

thời thể hiện sự khác biệt giữa người nhận

cầm cố trước với những người nhận cầm cố

tiếp theo sau (theo trình tự thời gian xác lập từng quan hệ cầm cố)

Từ các phân tích đó, chúng tôi xin kiến nghị sửa đổi khoản 1 Điều 329 với nội dung mới như sau:

“Cầm cố là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, theo đó bên nhận cầm cố được quyền ưu tiên thoả mãn lợi ích vật chất của mình từ giá trị của tài sản là động sản thuộc

sở hữu của bên cầm cố (gọi là tài sản cầm cố) nếu như bên cầm cố không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ được bảo đảm”

Cũng tương tự như vậy, nên sửa đổi khái niệm thế chấp được quy định tại khoản 1 Điều

346 BLDS

Theo quy định tại Điều 172 BLDS thì trong khái niệm tài sản đã bao gồm cả quyền tài sản Do đó, câu cuối cùng của khoản 1

Điều 329 quy định riêng rằng “Quyền tài sản

được phép giao dịch cũng có thể được cầm cố” là không cần thiết

5 Vấn đề khác biệt giữa cầm cố và thế chấp

BLDS phân biệt giữa cầm cố với thế chấp chỉ ở phạm vi đối tượng của chúng: Nếu tài sản bảo đảm là động sản thì biện pháp bảo đảm được coi là cầm cố, còn nếu là bất động sản thì biện pháp bảo đảm là thế chấp Điều

đó dẫn đến tình trạng là sự khác biệt giữa cầm

cố với thế chấp bị bó hẹp chỉ bởi những sự khác biệt giữa động sản với bất động sản Cơ

sở phân loại đó chưa phải là tối ưu Cơ sở phân loại đó làm cho quan hệ giao dịch dân sự

bị ảnh hưởng nặng nề của các thủ tục đăng kí mang tính chất hành chính

Với tư cách là giao dịch dân sự thì việc bàn giao hay không bàn giao tài sản từ bên

Trang 5

bảo đảm sang bên nhận bảo đảm mới dẫn

đến nhiều sự khác biệt cơ bản về quyền và

nghĩa vụ đối với các bên Do đó, không phải

là ngẫu nhiên khi BLDS của Nhật Bản lại

chọn chính tiêu chí này (bàn giao hay không

bàn giao tài sản bảo đảm) để phân biệt cầm

cố với thế chấp

BLDS của Liên bang Nga không tách

riêng cầm cố với thế chấp mà chỉ coi đó là

biện pháp bảo đảm Còn đối với các trường

hợp bảo đảm có đối tượng là bất động sản thì

có thêm một số quy định cụ thể

Tại đây chúng tôi chưa khẳng định chắc

chắc cơ sở phân loại nào hợp lí hơn Chỉ xin

kiến nghị nên nghiên cứu thêm về tiêu chí

phân loại nhằm tìm ra tiêu chí hợp lí nhất cho

BLDS của Việt Nam

6 Về hình thức cầm cố tài sản

Điều 330 BLDS quy định: "1 Cầm cố tài

sản phải được lập thành văn bản, có thể lập

riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính, trong đó

quy định rõ chủng loại, số lượng, chất lượng,

giá trị tài sản, thời hạn cầm cố và phương thức

xử lí tài sản cầm cố”

Tiêu đề của Điều 330 là về hình thức của

cầm cố, bởi vậy câu “trong đó quy định rõ

chủng loại, số lượng, chất lượng, giá trị tài

sản, thời hạn cầm cố và phương thức xử lí tài

sản cầm cố” là không cần thiết bởi vì đó

không thuộc vấn đề hình thức của cầm cố

Hơn nữa, câu đó làm cho chúng ta rất dễ

nhầm lẫn rằng điều khoản về thời hạn và

phương thức xử lí là các điều khoản cơ bản

của cầm cố Thực ra các bên có thể không

thoả thuận về thời hạn cầm cố, khi đó thời hạn

cầm cố được xác định theo thời hạn của nghĩa

vụ được bảo đảm (Điều 331 BLDS) Các bên cũng có thể không thoả thuận về phương thức

xử lí, khi đó áp dụng quy định tại Điều 341 về

xử lí tài sản cầm cố

7 Về quyền và nghĩa vụ của các bên trong cầm cố

Khoản 4 Điều 335 BLDS quy định bên

nhận cầm cố “được khai thác công dụng tài

sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu có thoả thuận” còn khoản 3 Điều

334 lại quy định bên nhận cầm cố “không

được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu không được bên cầm cố đồng ý”

Hai quy định đó không có điểm gì mâu thuẫn nhau nhưng ở đây có sự trùng lặp không cần thiết, bởi cả hai quy định đó đều có chung một nội dung Do đó, chúng tôi xin kiến nghị nên bỏ khoản 3 Điều 334 BLDS

8 Về thế chấp tài sản

Điều 346 BLDS quy định: "1 Hoa lợi,

lợi tức và các quyền phát sinh từ bất động sản được thế chấp thuộc tài sản thế chấp, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định ”

Quy định này nói lên rằng theo nguyên tắc chung thì hoa lợi, lợi tức không thuộc tài sản thế chấp Tuy nhiên, cách thức quy định như vậy chưa được thuận và có thể gây nhầm lẫn nếu như đọc không cẩn thận, đặc biệt dễ gây nhầm lẫn cho các đọc giả chưa được đào tạo luật

Bởi vậy, chúng tôi xin kiến nghị nên đổi lại cách quy định thành: “Hoa lợi, lợi tức và các quyền phát sinh từ bất động sản được thế chấp không thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có

Trang 6

quy định khác”

9 Về hình thức bảo lãnh

Điều 367 BLDS quy định: “Việc bảo lãnh

phải được lập thành văn bản có chứng nhận

của công chứng nhà nước hoặc chứng thực

của uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền, nếu

có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”

Điều này thể hiện nguyên tắc chung rằng

việc bảo lãnh có thể được thực hiện dưới mọi

hình thức (cả hình thức miệng lẫn hình thức

văn bản) Chỉ khi nào có thoả thuận cụ thể

hoặc pháp luật có quy định bắt buộc về hình

thức của bảo lãnh phải bằng văn bản có chứng

nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng

thực của uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền

thì các bên mới phải tuân theo

Để tránh gây nhầm lẫn khi sử dụng

chúng tôi xin kiến nghị sửa đổi nội dung

Điều 367 thành: “Việc bảo lãnh có thể được

lập dưới hình thức văn bản hoặc bằng lời

nói, trừ trường hợp nếu có thoả thuận hoặc

pháp luật có quy định phải được lập thành

văn bản có chứng nhận của công chứng nhà

nước hoặc chứng thực của uỷ ban nhân dân

cấp có thẩm quyền”

Kiến nghị sửa đổi tương tự đối với khoản

2 Điều 459 về hình thức của hợp đồng trao

đổi tài sản, Điều 477 về hình thức hợp đồng

thuê tài sản

10 Về các loại hợp đồng chủ yếu

Điều 405 BLDS quy định: "5- Hợp đồng

vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà

các bên giao kết hợp đồng đều phải thực hiện

nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích

từ việc thực hiện nghĩa vụ đó"

Khái niệm hợp đồng vì lợi ích của người

thứ ba như vậy là không chính xác, dễ làm

cho chúng ta nhầm lẫn rằng trong hợp đồng

đó tất cả các bên giao kết đều là chủ thể nghĩa

vụ, rằng các bên giao kết đều chỉ có nghĩa vụ chứ không có quyền yêu cầu

Thực ra, trong quan hệ nghĩa vụ vì lợi ích của người thứ ba theo hợp đồng thì chủ thể quyền vẫn là bên đối tác giao kết hợp đồng với chủ thể sẽ phải thực hiện nghĩa vụ vì lợi ích của người thứ ba Chủ thể đó có quyền yêu cầu chủ thể nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ

vì lợi ích của người thứ ba Việc không hưởng lợi ích không được hiểu là không có quyền Còn người thứ ba được hưởng lợi ích ở đây không phải là người tham giao giao kết hợp đồng Người thứ ba này cũng có thể được coi là chủ thể quyền (bổ sung cho chủ thể quyền chính tham gia giao kết hợp đồng), bởi

lẽ theo quy định tại Điều 414 BLDS thì “khi

thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ

ba, thì người thứ ba có quyền trực tiếp yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình”

Từ phân tích trên chúng tôi xin kiến nghị sửa đổi khoản 3 Điều 414 với nội dung mới như sau:

“3 Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba

là hợp đồng trong đó làm phát sinh quyền của người thứ ba yêu cầu người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ vì lợi ích của mình”

11 Về tặng cho tài sản có điều kiện

Điều 466 BLDS quy định: " 1- Bên tặng

cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự trước hoặc sau khi tặng cho Điều kiện tặng cho không được trái pháp luật, đạo đức xã hội 2- Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa

vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho

Trang 7

đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho

không giao tài sản, thì bên tặng cho phải

thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã

thực hiện

3- Trong trường hợp phải thực hiện

nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng

cho không thực hiện, thì bên tặng cho có

quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường

thiệt hại"

Quy định tại khoản 1 Điều 466 “Điều kiện

tặng cho không được trái pháp luật, đạo đức

xã hội” là không cần thiết, vì đã được quy

định chung trong điều kiện có hiệu lực của

giao dịch dân sự (Điều 137 BLDS)

Vấn đề cần lưu ý trong Điều 466 này là

đối với việc tặng cho động sản:

+ Điều kiện thực hiện một công việc nào

đó trước khi tặng cho không được coi là nghĩa

vụ dân sự theo hợp đồng, bởi vì khi đó hợp

đồng tặng cho chưa có hiệu lực Bên sẽ được

tặng cho không bị bắt buộc phải thực hiện

công việc nêu trong điều kiện (nghĩa vụ dân

sự được hiểu là xử sự bắt buộc đối với một

chủ thể được pháp luật bảo đảm)

+ Điều kiện thực hiện công việc sau khi

tặng cho thì công việc đó được coi là nghĩa vụ

theo hợp đồng nhưng công việc đó phải

không mang tính chất đền bù, phải không

mang lại lợi ích vật chất cho bên tặng cho

+ Ngay bản thân tiêu đề của Điều 466

“Tặng cho có điều kiện” cũng chưa hợp lí

Khái niệm “giao dịch có điều kiện” thường

được hiểu cho những giao dịch mà hiệu lực

của nó phát sinh hay chấm dứt phụ thuộc vào

điều kiện là sự kiện khách quan Sự kiện

khách quan đó phát sinh không hề theo ý chí

của các bên trong hợp đồng, thậm chí các bên

còn không thể khẳng định được sự kiện đó có chắc chắn xảy ra hay không, xảy ra vào thời điểm nào

Điều 466 không thể có tiêu đề “Tặng cho

có điều kiện” bởi vì: 1) Công việc đó có được thực hiện hay không hoàn toàn không mang tính khách quan mà phụ thuộc vào ý chí của bên được tặng cho; 2) Đối với trường hợp điều kiện thực hiện công việc trước khi tặng cho thì việc bên được tặng cho thực hiện xong công việc đó cũng không hề làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng Hợp đồng tặng cho động sản vẫn chỉ bắt đầu có hiệu lực từ thời điểm bàn giao tài sản tặng cho; 3) Đối với trường hợp điều kiện thực hiện công việc sau khi tặng cho thì hợp đồng có thể bị huỷ bỏ không phải theo điều kiện khách quan của giao dịch có điều kiện mà dựa trên

cơ sở bên được tặng cho vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng

Dó đó từ “điều kiện” trong tiêu đề phải

được sử dụng sao cho người đọc không nhầm lẫn hợp đồng này với giao dịch có điều kiện

Từ các phân tích đó chúng tôi xin kiến nghị sửa đổi Điều 466 với nội dung mới như sau:

“Điều 466 Tặng cho tài sản có kèm theo điều kiện đối với bên được tặng cho

1- Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều công việc không mang tính chất đền bù trước hoặc sau khi tặng cho

2- Trong trường hợp phải thực hiện công việc trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành công việc mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán chi phí liên quan đến công việc

mà bên được tặng cho đã thực hiện và bồi

Trang 8

thường thiệt hại

3- Trong trường hợp bên được tặng cho có

nghĩa vụ phải thực hiện công việc sau khi

tặng cho mà bên được tặng cho không thực

hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản

và yêu cầu bồi thường thiệt hại”

12 Về đơn phương đình chỉ thực hiện

hợp đồng gia công

Điều 559 BLDS quy định: “1- Mỗi bên

đều có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện

hợp đồng gia công, nếu việc tiếp tục thực

hiện hợp đồng không mang lại lợi ích cho

mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác

hoặc pháp luật có quy định khác, nhưng phải

báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp

lí; nếu bên đặt gia công đơn phương đình chỉ

thực hiện hợp đồng, thì phải trả tiền công

tương ứng với công việc đã làm; nếu bên

nhận gia công đơn phương đình chỉ thực

hiện hợp đồng, thì không được trả tiền công,

trừ trường hợp có thoả thuận khác

2- Bên đơn phương đình chỉ thực hiện hợp

đồng mà gây thiệt hại cho bên kia, thì phải

bồi thường”

Khoản 1 Điều 559 quy định mỗi bên đều

có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp

đồng gia công, nếu việc tiếp tục thực hiện hợp

đồng không mang lại lợi ích cho mình là

không hợp lí Quy định đó có thể là nguyên

nhân làm phá vỡ tính ổn định của giao lưu

dân sự Việc đơn phương đình chỉ hợp đồng

không bao giờ có thể được coi là nguyên tắc

chung cho bất cứ hợp đồng nào, kể cả hợp

đồng gia công Việc đơn phương đình chỉ

thực hiện hợp đồng luôn luôn được coi là

ngoại lệ, một bên chỉ được phép đơn phương

đình chỉ hợp đồng khi có thoả thuận cụ thể

hoặc theo các quy định cụ thể của pháp luật

Do đó, chúng tôi xin kiến nghị nên bãi bỏ toàn bộ Điều 559 BLDS

13 Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Tên gọi của Điều 310 BLDS hoàn toàn trùng lặp với tên gọi của Điều 609 Tên gọi của mỗi điều luật có ý nghĩa cá biệt hoá điều luật đó, giúp phân biệt với các điều luật khác trong cùng văn bản Sự trùng lặp tên gọi của hai điều luật như vậy không được phép xảy ra trong cùng một văn bản

Do đó, tên gọi của Điều 310 nên sửa lại như sau:

“Điều 310 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ”

14 Về bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra

Điều 619 BLDS quy định: "1- Người do

uống rượu hoặc do dùng chất kích thích khác

mà lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, gây thiệt hại cho người khác, thì phải bồi thường 2- Khi một người cố ý dùng rượu hoặc các chất kích thích khác làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình mà gây thiệt hại, thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại”

Nội dung của Điều 619 là chưa đầy đủ, do

đó, chưa thể hiện được ý nghĩa của điều luật Nếu chỉ quy định có vậy thì sẽ phát sinh câu hỏi: Một người gây thiệt hại trong lúc say rượu hay trong lúc không say rượu thì cũng vẫn phải bồi thường thiệt hại Vậy Điều 619 quy định riêng trường hợp bồi thường thiệt hại do dùng chất kích thích để làm gì? Chúng tôi kiến nghị bổ sung thêm vào cuối khoản 1 Điều 619 nội dung sau: “Đối với các

Trang 9

trường hợp này không áp dụng quy định tại

khoản 2 Điều 610 về giảm mức bồi thường”

15 Cần cụ thể hoá hơn nữa nguyên tắc

tự do trong giao kết hợp đồng

Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng có thể

được coi là nguyên tắc cơ bản nhất, quan

trọng nhất của toàn bộ chế định hợp đồng dân

sự Rất đáng tiếc là nguyên tắc đó mới chỉ

được nhắc đến một cách hết sức chung chung

tại khoản 1 Điều 395

Chúng tôi xin kiến nghị bổ sung thêm các

quy định theo các nội dung sau:

+ Cụ thể hoá các nội dung cơ bản của

nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng (tự do lựa

chọn đối tác, tự do lựa chọn loại hợp đồng có

hay không có quy định trong BLDS, tự do lựa

chọn hình thức của hợp đồng, tự do thoả

thuận nội dung hợp đồng .)

+ Định hướng cho các quy định về các

trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc tự do giao

kết hợp đồng (các trường hợp một bên của

hợp đồng bị buộc phải giao kết hợp đồng vì

một lí do nhất định theo quy định của pháp

luật) Các quy định riêng về trường hợp bắt

buộc giao kết hợp đồng (có thể có ở văn bản

pháp luật khác) đều phải tuân thủ theo định

hướng này của BLDS

16 Nên nghiên cứu tập hợp các quy

định về trách nhiệm dân sự vào một chế

định chung thống nhất

Mục 3 Chương I Phần thứ ba của BLDS

có tên gọi chung khái quát là “Trách nhiệm

dân sự” thế nhưng các quy định về trách

nhiệm dân sự lại được phân bố ở hai nơi riêng

biệt là Chương I và Chương V của Phần thứ

ba BLDS Điều đó là không hợp lí

Tại Mục 3 Chương I Phần thứ ba có Điều

308 nêu khái niệm “Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ”, còn tại Chương V của Phần thứ ba lại đề cập “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” Điều đó làm cho người đọc có thể hiểu một cách sai lầm rằng trách nhiệm dân sự được phân thành hai loại là: Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ

và trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng?

Ngay cả các yếu tố cấu thành của trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại cũng đang được quy định rải rác ở hai chương khác nhau của BLDS: Yếu tố lỗi được quy định ở Chương I, còn yếu tố thiệt hại và năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại lại được quy định ở Chương V

Ngoài ra, khái niệm “trách nhiệm” còn được sử dụng hết sức tuỳ tiện, không phù hợp với bản chất của trách nhiệm dân sự và dễ gây nhầm lẫn giữa trách nhiệm dân sự với nghĩa

vụ dân sự Ví dụ: Tại khoản 3 Điều 32, Điều

68, Điều 72, Điều 556, khoản 1 Điều 640, Điều 823 đều dùng khái niệm này

17 Cần thiết phải bổ sung vào BLDS một số hợp đồng dân sự thông dụng

Chúng tôi thấy rằng BLDS cần có thêm một số hợp đồng như hợp đồng hợp tác, hợp đồng môi giới, hợp đồng thuê tài chính, hợp đồng mua bán giao sau Những hợp đồng như vậy đang ngày càng phổ biến và đóng vai trò quan trọng trong giao lưu dân sự của xã hội Việt Nam Việc ban hành các quy định điều chỉnh quan hệ liên quan đến các loại hợp đồng

đó là rất cần thiết và cấp bách./

Ngày đăng: 21/02/2014, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w