Vì vậy, có thể nói rằng theo học thuyết phân chia quyền lực nhà nước, quyền tư pháp được hiểu là quyền của toà án, thông qua hoạt động xét xử của mình, bảo vệ công lí, bảo vệ tự do cá nh
Trang 1TS Vò Hång Anh *
1 Quan điểm tư sản về quyền tư pháp
Theo tiếng Anh, thuật ngữ “Justice” - tư
pháp có nguồn gốc từ tiếng Latinh cổ với
nghĩa là công lí, lẽ phải, sự công bằng Tuy
nhiên, thuật ngữ “Justice” không chỉ đơn
thuần là ý tưởng về nền công lí, công bằng
mà thường được hiểu theo nghĩa rộng hơn,
bao hàm cả các thiết chế tương ứng nhằm
giải quyết các tranh chấp phát sinh trong xã
hội phù hợp với lẽ phải, sự công bằng trên
cơ sở pháp luật, duy trì, bảo vệ những ý
tưởng và mục đích cao cả của xã hội
Trong cơ cấu tổ chức thực hiện quyền
lực nhà nước, tư pháp là một trong ba nhánh
quyền của quyền lực nhà nước: Lập pháp,
hành pháp, tư pháp Theo học thuyết tam
quyền phân lập, ba quyền này được trao cho
ba cơ quan khác nhau nắm giữ, tạo ra cơ chế
kiểm tra, giám sát lẫn nhau nhằm thiết lập
sự thống nhất trong thực hiện quyền lực nhà
nước, loại trừ khả năng lạm dụng quyền hạn
của mỗi cơ quan nhà nước Đứng trên
phương diện này, quyền tư pháp được hiểu
là quyền giám sát của nhánh quyền tư pháp
đối với lập pháp và hành pháp Mặt khác,
quyền tư pháp còn được hiểu là quyền bảo
vệ công lí, bảo vệ trật tự xã hội Một trong
những người khởi xướng thuyết tam quyền
phân lập, L.Montesquieu gọi quyền tư pháp
là quyền thi hành những điều trong luật dân
sự.(1) Như vậy, ở đây quyền tư pháp được hiểu là quyền bảo vệ công lí, bảo vệ các quyền tự do cá nhân
Trong học thuyết tam quyền phân lập, không những nội dung của quyền tư pháp được hiểu tương đối thống nhất mà cơ quan thực hiện quyền tư pháp cũng được hiểu một cách rõ ràng là toà án Ngay từ thời Hy Lạp cổ đại (thế kỉ thứ V tr CN), để thực hiện quyền tư pháp, chính quyền Alhenes đứng đầu là Ephialtes đã thành lập toà án nhân dân
Khi bàn luận về mô hình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, Montesquieu cho rằng:
“Trong mỗi chính quyền đều có ba loại quyền
l ực: quyền lập pháp, quyền thực hiện những
vi ệc dựa vào luật quốc tế và quyền thực hiện
nh ững việc dựa vào luật dân sự… sẽ không
kh ỏi quyền lập pháp và hành pháp Nếu
quy ền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp
ng ười ta sẽ độc đoán với quyền sống và tự do
c ủa công dân; quan toà sẽ là người đặt ra
lu ật Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền
k ẻ đàn áp”.(2) Nội dung học thuyết tam quyền phân lập
đã được thể hiện trong bản Hiến pháp thành văn đầu tiên của nhân loại - Hiến pháp Hợp
* Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2chủng quốc Hoa Kì năm 1787 Khoản1 Điều
III Hiến pháp quy định: “Quyền tư pháp
c ủa Hợp chủng quốc Hoa Kì sẽ được trao
cho toà án t ối cao và các toà án cấp dưới
mà Qu ốc hội có thể thiết lập trong một số
tr ường hợp” Sau này, hiến pháp nhiều nhà
nước khác như Ấn Độ năm 1950, Đức năm
1949, Ba Lan năm 1997, Italy năm 1947,
Nhật Bản năm 1946, Liên bang Nga năm
1993, Pháp năm 1958 đều bao hàm điều
khoản quy định quyền tư pháp do toà án
đảm nhận
Vì vậy, có thể nói rằng theo học thuyết
phân chia quyền lực nhà nước, quyền tư
pháp được hiểu là quyền của toà án, thông
qua hoạt động xét xử của mình, bảo vệ công
lí, bảo vệ tự do cá nhân tránh sự vi phạm từ
phía xã hội công dân và từ phía Nhà nước
(các cơ quan lập pháp và hành pháp)
Thực tiễn tổ chức thực hiện quyền lực
nhà nước ở các nước cho thấy, việc phân
chia các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
chỉ mang tính chất tương đối Để bảo đảm
cho bộ máy nhà nước vận hành một cách
nhịp nhàng thì cần phải có sự đan xen
thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước
Chẳng hạn như quyền lập pháp thuộc nghị
viện nhưng nghị viện chỉ có thể thực hiện
tốt quyền năng này khi có sự phối hợp
chặt chẽ với chính phủ - cơ quan hành
pháp Vì chính phủ là cơ quan tổ chức thi
hành pháp luật, do vậy, so với các cơ quan
nhà nước khác, chính phủ là cơ quan hiểu
rõ cần phải ban hành văn bản luật nào,
phạm vi điều chỉnh ra sao cho phù hợp với
thực tế của đời sống xã hội Vì vậy, thực tiễn lập pháp ở nhiều nước cho thấy, gần 90% số dự án luật được nghị viện thông qua trên cơ sở đề nghị của chính phủ
Nếu như hoạt động của chính phủ vừa mang tính chất thi hành vừa mang tính chất sáng tạo pháp luật thì hoạt động của toà án thuần tuý chỉ mang tính chất áp dụng pháp luật Nhưng chính hoạt động mang tính chất đặc thù của toà án đã tạo ra sự cần thiết để toà án tham gia vào quá trình lập pháp Vì vậy, dưới nhiều hình thức khác nhau, pháp luật của nước trên thế giới đều trao cho toà
án thẩm quyền liên quan đến lĩnh vực lập
pháp Ví dụ, ở những nước theo hệ thống
pháp luật Ănglô-Săcsông, các thẩm phán có quyền giải thích luật Ở những nước này, các phán quyết của toà án đối với những vụ việc điển hình là một trong những nguồn quan trọng của pháp luật; đối với những nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa (Pháp-Đức) mặc dù toà án không có quyền giải thích luật, tuy nhiên tòa án tối cao có thẩm quyền ban hành văn bản để hướng dẫn các toà án áp dụng thống nhất pháp luật cũng có thể coi là một hình thức sáng tạo pháp luật Ngoài ra, toà án còn tham gia vào quá trình lập pháp của nghị viện thông qua sáng quyền lập pháp của mình
Đối với hoạt động thực hiện quyền tư pháp cũng có sự đan xen thẩm quyền như vậy Bản thân toà án được thành lập để đảm nhận sứ mệnh bảo vệ công lí nhưng sứ mệnh này chỉ được thực hiện khi có sự phối hợp hoạt động giữa toà án và các cơ quan nhà
Trang 3nước khác Đó là hoạt động liên quan đến
việc điều tra, truy tố, duy trì công tố thực
hiện luận tội tại phiên toà; tổ chức bào chữa
cho bị can, bị cáo; tổ chức thi hành bản án,
quyết định của toà án Mỗi một loại công
việc nêu trên phải do một cơ quan hay tổ
chức đảm nhận Ví dụ, ở Pháp, Italy, bên
cạnh toà án có viện công tố hoạt động độc
lập dưới sự quản lí của bộ trưởng Bộ tư
pháp; hoạt động điều tra do lực cảnh sát tư
pháp trực thuộc bộ tư pháp đảm nhận; công
tác thi hành án dân sự sẽ do một số thẩm
phán chuyên trách theo dõi; công tác thi
hành án hình sự và quản lí trại giam được
giao cho bộ tư pháp quản lí
Một số nước khác như Liên bang Nga,
bên cạnh hệ thống toà án có hệ thống viện
công tố thực hiện quyền điều tra các vụ án
hình sự, kinh tế Các công tố viên không
những thực hiện quyền truy tố, duy trì công
tố mà còn thực hiện quyền khởi tố vụ án,
khởi tố bị can, có quyền điều động cảnh sát,
giao nhiệm vụ cho cảnh sát thực hiện những
công việc cụ thể liên quan đến hoạt động
điều tra Công tác thi hành án hình sự, quản
lí trại giam được giao cho chính phủ (bộ nội
vụ) đảm nhận
Mặc dù được tổ chức theo các mô hình
khác nhau nhưng hoạt động của những cơ
quan nói trên đều nhằm mục đích giúp toà
án có thể đưa ra được những bản án, quyết
định đúng pháp luật, công bằng, khách
quan đồng thời bảo đảm cho các bản án,
quyết định đã có hiệu lực của toà án được
thi hành kịp thời, đầy đủ và nghiêm minh,
góp phần khôi phục lại công lí, công bằng
xã hội Vì vậy, nói đến nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền tư pháp trong nhà nước tư sản là nói đến nguyên tắc tổ chức và hoạt động của toà án
2 Chức năng của quyền tư pháp
+ Chức năng bảo vệ
Trong học thuyết tam quyền phân lập, quyền tư pháp có chức năng bảo vệ công lí, tức là bảo vệ trật tự của hệ thống pháp luật
và bảo vệ các quyền tự do cá nhân Xuất phát từ quan điểm cho rằng tự do cá nhân không những có thể bị xâm phạm từ phía xã hội công dân mà cả từ phía nhà nước
A D Tocvil học giả người Pháp đã viết
trong cuốn "Dân chủ ở nước Mĩ" rằng: "Mọi
ch ống đối của dân chúng: hoặc bằng những
ph ương tiện vật chất sẵn có trong tay hoặc
b ằng quyết định của toà án mà họ có thể
trông c ậy
M ục đích cao cả của hoạt động xét xử là
ở chỗ nó thay thế tư tưởng bạo lực bằng tư
t ưởng pháp luật, thiết lập hàng rào pháp lí
ng ăn cản việc chính phủ tuỳ tiện sử dụng
s ức mạnh".(3)
Như vậy có thể thấy rằng thông qua hoạt động xét xử của toà án, sức mạnh của quyền lực nhà nước được đặt trong vòng kiểm soát của pháp luật, điều này nhằm mục đích bảo đảm cho người dân vô tội tránh được sự xâm phạm từ phía các cơ quan công quyền nhà nước
+ Chức năng kiểm tra, giám sát
Thông qua hoạt động xét xử, toà án còn
Trang 4thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát hoạt
động của các cơ quan nhà nước, các định
chế xã hội khác Nếu như ở các nước theo
mô hình tam quyền phân lập, phạm vi đối
tượng chịu sự kiểm tra giám sát từ phía cơ
quan tư pháp rộng, bao gồm cơ quan lập
pháp, hành pháp, các định chế xã hội thì ở
các nước theo mô hình quyền lực tập trung
thống nhất, phạm vi quyền kiểm tra giám sát
của toà án có hẹp hơn, chỉ bao gồm một bộ
phận thuộc cơ quan hành pháp và các định
chế xã hội
Thông qua hoạt động xét xử, toà án
kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của các
văn bản do các cơ quan nhà nước ban hành,
kiểm tra tính hợp pháp trong hoạt động của
các định chế xã hội Bằng phán quyết của
mình, toà án quyết định về tính hợp hiến,
tính hợp pháp của các văn bản do cơ quan
nhà nước nói trên ban hành, tính hợp pháp
trong hoạt động của các định chế xã hội
Quyết định của toà án có hiệu lực bắt buộc
đối với mọi cơ quan nhà nước, các định chế
xã hội và toàn xã hội nói chung
+ Chức năng xã hội
Chức năng xã hội là một trong những
chức năng cơ bản của toà án Thông qua
hoạt động giải quyết các mâu thuẫn xã hội
trên cơ sở thủ tục pháp lí vững chắc, toà án
giáo dục ý thức công dân trung thành với
chế độ, tuân thủ pháp luật, tôn trọng những
quy tắc sinh hoạt của cuộc sống xã hội, tôn
trọng các quyền tự do cá nhân, truyền thống
phong tục tư pháp quán của dân tộc Ngoài
ra, hoạt động xét xử của toà án còn góp
phần giáo dục công dân ý thức đấu tranh phòng, ngừa, chống các hành vi vi phạm
pháp luật, xâm phạm quyền tự do cá nhân
3 Các nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền tư pháp
3.1 Nguyên tắc độc lập trong hoạt động
th ực hiện quyền tư pháp
Khác với nhánh quyền lập pháp và hành pháp, để thực hiện những quyền này thường
do một hoặc hai cơ quan đảm nhiệm, việc thực hiện quyền tư pháp phức tạp hơn Quyền tư pháp được hiện bởi hệ thống các toà án, từ toà án cấp thấp nhất đến toà án cấp cao nhất Như vậy, mỗi toà án đều mang quyền tư pháp, đều nhân danh nhà nước thực hiện quyền tư pháp Khi giải quyết một
vụ việc cụ thể, mỗi toà án, không phụ thuộc vào vị trí của mình trong hệ thống toà án, đều hoàn toàn độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Vì vậy, bảo đảm tính độc lập của toà án trong hoạt động xét xử là một trong những nguyên tắc hiến định của bất cứ nhà nước phương Tây nào Nguyên tắc độc lập của toà án trong hoạt động xét xử được bảo đảm bằng các biện pháp sau:
+ Th ẩm phán được bổ nhiệm với nhiệm
Tính độc lập của toà án trong hoạt động xét xử phụ thuộc vào vị thế của thẩm phán
Để tuyển dụng thẩm phán, các nước phương Tây áp dụng hai phương pháp cơ bản là bầu
và bổ nhiệm Về nguyên tắc, phương pháp bầu thẩm phán sẽ đem lại cho thẩm phán vị thế độc lập đối với các nhánh quyền lập pháp và hành pháp Do vậy, trong một thời
Trang 5gian chế độ bầu thẩm phán được áp dụng
rộng rãi ở nhiều nước phương Tây Ví dụ,
trong suốt thế kỉ XIX ở Mĩ, chế độ bầu thẩm
phán được áp dụng không những ở cấp độ
liên bang mà cả ở 40 tiểu bang Tuy nhiên,
thực tế của việc vận dụng chế độ bầu thẩm
phán ở nhiều nước cho thấy, chế độ bầu
thẩm phán không đem lại kết quả thoả đáng
Bởi lẽ, thứ nhất, thẩm phán bầu không được
bảo đảm về khả năng chuyên môn; thứ hai,
các thẩm phán bầu dễ bị chi phối bởi các
yếu tố chính trị; thứ ba, nhiệm kì của mỗi
thẩm phán bầu quá ngắn không phù hợp với
tính chất nghề nghiệp thẩm phán Vì vậy, đa
số các nước phương Tây đều chuyển sang
chế độ bổ nhiệm thẩm phán
Để bảo đảm tính độc lập của toà án
trong hoạt động đồng thời để đáp ứng tính
chất nghề nghiệp, các nước Liên bang
Nga, Hàn Quốc, Nhật Bản quy định nhiệm
kì của thẩm phán là 10 năm, ở một số
nước khác thẩm phán được bổ nhiệm với
nhiệm kì không xác định Các học giả
phương Tây cho rằng việc thẩm phán
được bổ nhiệm với nhiệm kì dài là yếu tố
quan trọng nhất để duy trì tính độc lập của
toà án trong hoạt động xét xử của mình
đồng thời việc thẩm phán được bổ nhiệm
với nhiệm kì dài còn giúp cho thẩm phán
có điều kiện tích luỹ kiến thức, kinh
nghiệm, nâng cao trình độ nghiệp vụ
+ B ảo đảm bất khả miễn
Nguyên tắc độc lập trong hoạt động của
toà án còn được bảo đảm bằng quy định tính
bất khả miễn của thẩm phán Quy định này
nhằm bảm đảm cho thẩm phán an tâm thực hiện nhiệm vụ của mình mà không phải chịu bất cứ sức ép nào từ bên ngoài về nhiệm kì thẩm phán của mình Nhiều nước phương Tây áp dụng quy định thẩm phán bất khả miễn Nội dung của quy định này là thẩm phán không thể bị bãi chức, giáng chức hay thuyên chuyển công tác nếu không được sự đồng ý của chính đương sự Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ của mình cho đến khi vẫn còn giữ được phẩm hạnh tốt (During good Behavior) Trường hợp thẩm phán phạm tội, việc truất quyền thẩm phán phải do cơ quan
có thẩm quyền tiến hành theo thủ tục đặc
biệt Ví dụ, ở Mĩ, các thẩm phán toà án liên
bang chỉ bị truất quyền theo thủ tục luận tội (impeachment), thủ tục này được tiến hành bởi cả hai viện của Quốc hội Mĩ (hạ viện luận tội, thượng viện kết tội);
+ Tiền lương và các đặc quyền của thẩm phán không thể bị suy giảm trong suốt thời gian thẩm phán thực hiện nhiệm
vụ của mình
Nếu như hai bảo đảm nêu trên nhằm bảo
vệ thẩm phán trước những tác động chính trị thì quy định này bảo đảm cho thẩm phán vị thế độc lập về kinh tế Để bảo đảm vị thế độc lập của thẩm phán về kinh tế, pháp luật của các nước đều bao hàm quy định bảo vệ tiền lương và các đặc quyền khác của thẩm phán không bị cắt giảm trong suốt quá trình thẩm phán thực hiện nhiệm vụ của mình Một trong những biện pháp bảo vệ mà các nước thường áp dụng là biện pháp tài chính độc lập của nhánh quyền tư pháp
Trang 63.2 Nguyên tắc toà án xét xử có sự tham
Nguyên tắc này nhằm mục đích bảo
đảm sự giám sát của xã hội đối với hoạt
động xét xử của toà án Thành phần của bồi
thẩm đoàn bao gồm những công dân được
chọn theo lối rút thăm, để tham gia vào việc
xét xử của toà án theo từng vụ việc cụ thể
Mọi công dân đáp ứng đủ điều kiện do luật
định được chính quyền địa phương đưa vào
một danh sách Khi cần chọn bồi thẩm đoàn
toà án sẽ tiến hành bốc thăm trên cơ sở danh
sách đó bồi thẩm đoàn không tham gia
tranh luận cùng thẩm phán, không tham gia
quyết định cùng thẩm phán, mà chỉ đặt câu
hỏi đối với bị cáo và các bên có liên quan
rồi quyết định về một số vấn đề như: bị cáo
có lỗi hay không, bị cáo có tội hay không, bị
có có đáng được hưởng khoan hồng hay
không Trong quá trình xét xử, quyết định
của bồi thẩm đoàn sẽ được thẩm phán
nghiên cứu, xem xét
3.3 Nguyên tắc quyền kháng cáo, kháng
ngh ị đối với quyết định của toà án
Nguyên tắc này còn được gọi là nguyên
tắc phân cấp xét xử Nội dung của nguyên
tắc này là quyết định, bản án chưa có hiệu
lực pháp luật của toà án cấp dưới (toà án sơ
cấp) có thể bị xem xét lại bởi toà án cấp trên
(toà án đệ nhị cấp); quyết định, bản án đã có
hiệu lực pháp luật của toà án đệ nhị cấp có
thể bị xem xét lại bởi toà án cao cấp
Có hai loại thủ tục giải quyết đơn kháng
cáo và đề nghị kháng nghị, đó là thủ tục
thượng thẩm và thủ tục phá án Theo thủ tục
thượng thẩm, toà cấp trên tiến hành xem xét thực trạng của vụ việc cùng với những tình tiết mới, vật chứng mới (nếu có) rồi đưa ra quyết định của mình thay thế cho quyết định của toà cấp dưới Theo thủ tục phá án, toà
án cấp trên chỉ xem xét sự tuân thủ thủ tục xét xử của toà án cấp dưới mà không đi vào tình tiết cụ thể của vụ việc Trường hợp bản
án, quyết định của toà án cấp dưới bị huỷ bỏ thì vụ việc sẽ được toà án cấp dưới xử lại bởi hội đồng xét xử mới
Ngoài ra, các nước còn áp dụng một thủ tục khác - thủ tục thanh tra (thủ tục hỗn hợp giữa thượng thẩm và phá án) Theo thủ tục thanh tra, toà án cấp trên, không phụ thuộc vào đơn kháng cáo và quyền kháng nghị, trực tiếp kiểm tra tính hợp pháp và tính hợp
lí của quyết định, bản án của toà án cấp dưới, rồi ra quyết định hoặc huỷ bỏ quyết định của toà án cấp dưới, thay thế bằng quyết định của mình hoặc huỷ bỏ quyết định của toà án cấp dưới và đề nghị toà cấp dưới
xử lại
Các nước theo hệ thống pháp luật
Anh-Mĩ chỉ áp dụng thủ tục thượng thẩm Ngược lại, các nước theo hệ thống pháp luật châu
Âu lục địa áp dụng thủ tục thượng thẩm đối với toà án đệ nhị cấp, thủ tục phá án đối với toà án cao cấp Tuy nhiên, cũng có trường hợp đặc biệt như Italy chỉ áp dụng thủ tục phá án; Đức kết hợp giữa thủ tục thượng thẩm và thủ tục thanh tra
3.4 Nguyên tắc toà án xét xử công khai
Toà án là biểu tượng của nền công lí mà nền công lí đòi hỏi sự minh bạch, rõ ràng
Trang 7Vì vậy, bản thân hoạt động xét xử của toà án
đòi hỏi tính công khai Điều này có nghĩa là
việc xét xử của toà án dù theo bất cứ trình tự
thủ tục nào cũng cần phải được tiến hành
công khai Trong một số trường hợp toà án
phải xử kín thì nội dung quyết định của toà
án phải được công bố cho công chúng
Nguyên tắc toà án xét xử công khai
được quy định trong hiến pháp của tất cả các
nước dân chủ trên thế giới Ví dụ, khoản 2
Điều 82 Hiến pháp Nhật Bản 1946 quy định:
"Trường hợp toà án nhất trí quyết định là
vi ệc xét xử công khai sẽ gây nguy hại đến
tr ật tự và đạo đức xã hội, thì vụ án sẽ được
công khai"
3.5 Nguyên tắc tranh tụng trước toà
án và nguyên t ắc bình đẳng giữa các bên
trong t ố tụng
Nguyên tắc tranh tụng là một trong
những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động
thực hiện quyền tư pháp của các nhà nước
phương Tây Nguyên tắc này nhằm bảo đảm
cho toà án không chỉ đơn thuần là cơ quan
đấu tranh với tội phạm mà còn bảo đảm cho
hoạt động của toà án trở thành cơ chế dân
chủ giải quyết các tranh chấp phát sinh trong
xã hội trên cơ sở bảo đảm sự công bằng,
khách quan, đúng pháp luật
Nguyên tắc tranh tụng trước toà án có
nghĩa là trong quá trình xét xử, các bên có
quyền tranh cãi về các bằng chứng, sự kiện,
về kết luận của cơ quan điều tra, cơ quan giám định; quyền lập luận, chứng minh cho quan điểm của mình về các vấn đề liên quan đến vụ án Theo nguyên tắc này, toà án với cương vị là cơ quan giải quyết tranh chấp cần phải tách khỏi chức năng buộc tội (chức năng này do công tố viên thực hiện), tách khỏi chức năng bào chữa (chức năng này do luật sư thực hiện) Tuy nhiên, ở đây không
có nghĩa là toà án đóng vai trò thụ động trong quá trình giải quyết vụ án mà ngược lại, thẩm phán phải có trách nhiệm phân tích, đánh giá những bằng chứng, vật chứng, luận điểm của các bên để đưa ra phán quyết cuối cùng, bởi lẽ trong trường hợp ngược lại, chân lí và lẽ phải
sẽ rất khó có thể được lập lại
Nguyên tắc tranh tụng sẽ không thể được bảo đảm nếu thiếu sự bình đẳng giữa các bên trong quá trình tố tụng Sự bình đẳng giữa các bên trong quá trình tố tụng có nghĩa là các bên có các quyền tố tụng ngang nhau đối với các vấn đề liên quan đến việc trình bày quan điểm của mình đối với việc phân tích, đánh giá bằng chứng Sự bình đẳng giữa các bên trong tố tụng được bảo đảm bởi nguyên tắc “suy đoán vô tội” Theo nguyên tắc này, một người không thể coi là phạm tội khi chưa có bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật./
(1), (2).Xem: L Montesquieu - "Tinh thần pháp luật",
người dịch: Hoàng Thanh Đạm, Nxb Giáo dục, H 1996, tr.100, 101
(3).Xem: A Tocvil Dân chủ ở nước Mĩ, tiếng Nga,
Nxb Tiến bộ, M.1992, tr 120