Bên cạnh đó, phải khẳng định rằng trong những trường hợp khác nhau, tuỳ thuộc vào loại hành vi nguy hiểm cho xã hội được cùng thực hiện, tuỳ thuộc vào số lượng người tham gia và mức độ l
Trang 1
Ths CaoThÞ oanh *
1 Trong luật hình sự, đồng phạm được
coi là chế định đặc biệt Khác với phạm tội
đơn lẻ, phạm tội dưới hình thức đồng phạm
bao giờ cũng có nhiều người (hai người trở
lên) thực hiện tội phạm do cố ý Chính sự
khác biệt về số lượng người tham gia thực
hiện tội phạm đã hàm chứa những lí do đòi
hỏi phải có chính sách phân hoá trách nhiệm
hình sự (TNHS) phù hợp Những lí do đó là:
a) Tính chất hành vi của những người tham
gia có thể khác nhau; b) Mức độ đóng góp
của họ đối với việc thực hiện tội phạm chung
có thể khác nhau Những lí do này đặt
nguyên tắc phân hóa TNHS trước yêu cầu
xác định đường lối xử lí đối với những người
đồng phạm theo tính chất và mức độ thực
hiện hành vi của họ Bên cạnh đó, phải khẳng
định rằng trong những trường hợp khác nhau,
tuỳ thuộc vào loại hành vi nguy hiểm cho xã
hội được cùng thực hiện, tuỳ thuộc vào số
lượng người tham gia và mức độ liên kết giữa
họ mà tính nguy hiểm của đồng phạm có thể
thay đổi Do đó, phân hóa TNHS trong đồng
phạm đồng thời phải đáp ứng được yêu cầu
thứ hai là xử lí phân hoá các trường hợp đồng
phạm có tính nguy hiểm khác nhau Để thực
hiện được những nhiệm vụ này, nguyên tắc
phân hóa TNHS phải thể hiện ở cả các quy
phạm thuộc phần chung và các quy phạm
thuộc phần các tội phạm của BLHS
2 Trước hết, việc phân hóa TNHS trong
đồng phạm phải dựa trên sự khác biệt về vai trò của những người tham gia đồng phạm để xác lập nguyên tắc xử lí chung nhất đối với
họ Điều này đòi hỏi phải bắt đầu bằng việc tiến hành phân hoá những người đồng phạm dựa vào tính chất hành vi của họ Về vấn đề này, hiện nay ở các nước đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Có nước chỉ phân biệt người chính phạm với người tòng phạm;(1) có nước chỉ phân biệt người thực hành với người đồng phạm khác;(2) có nước phân loại người đồng phạm thành đồng chính phạm, người xúi giục, người tòng phạm;(3) cũng có nước phân loại người đồng phạm thành 4 loại là: Người thực hành, người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức.(4) Ở nước ta, BLHS quy định những loại người đồng phạm gồm người thực hành, người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức, trong đó người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm; người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm; người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm và người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm (khoản 2 Điều 20 BLHS 1999) Chúng tôi cho rằng việc phân hoá những người đồng phạm thành bốn loại như quy định hiện hành
* Giảng viên Khoa luật hình sự Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2của pháp luật hình sự nước ta là hợp lí vì bốn
loại người này giữ những vai trò khác biệt
căn bản trong việc thực hiện một tội phạm,
đặc biệt người tổ chức là khái niệm không
được đề cập trong luật hình sự một số nước
nhưng rõ ràng đây là đối tượng giữ vị trí rất
quan trọng trong việc điều khiển tội phạm
dưới hình thức đồng phạm trên thực tế
Dựa trên việc phân loại những người
đồng phạm như trên, nguyên tắc phân hóa
TNHS trong đồng phạm thể hiện qua sự
khẳng định những nguyên tắc cơ bản trong
đường lối xử lí đối với từng loại người đồng
phạm tạo ra cơ sở pháp lí định hướng cho
hoạt động cá thể hoá hình phạt đối với họ
trong các trường hợp cụ thể Vấn đề này hiện
nay cũng đang có những cách giải quyết khác
nhau Nghiên cứu các quy định của pháp luật
hình sự một số nước trên thế giới chúng tôi
thấy rằng nhiều nước quy định cụ thể đường
lối xử lí đối với từng loại người đồng phạm
ngay trong điều luật quy định về các loại
người đồng phạm Bộ luật hình sự Nhật Bản
quy định: “Hình phạt đối với người tòng
phạm là hình phạt đối với người chính phạm
được giảm nhẹ đi” (Điều 63), ngoài ra “nếu
không có quy định đặc biệt khác không xử
phạt người xúi giục và người tòng phạm
trong những tội chỉ bị phạt câu lưu và phạt
tiền mức nhẹ” (Điều 64) Bộ luật hình sự của
nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quy
định: “Ngoài những trường hợp đã được quy
định trong phần các tội phạm BLHS, người
chính phạm phải chịu hình phạt nghiêm khắc
hơn ”, “người giúp sức chịu hình phạt nhẹ
hơn so với chính phạm” Bộ luật hình sự của
Bỉ quy định rõ: “Hình phạt được tuyên đối
với người tòng phạm không được vượt quá
2/3 mức hình phạt được tuyên đối với người
thực hành” (Điều 69).(5) Như vậy, ở các nước nói trên pháp luật hình sự xác định nguyên tắc xử lí dựa vào tính chất hành vi và mức độ tham gia thực hiện tội phạm của những người đồng phạm, theo đó người chính phạm bị xử
lí nặng hơn người tòng phạm, người giúp sức
bị xử lí nhẹ hơn người thực hành Bên cạnh cách quy định cụ thể đó, hiện nay còn tồn tại cách quy định về nguyên tắc xử lí chung đối với những người đồng phạm Bộ luật hình sự của Liên bang Nga chỉ quy định trách nhiệm của những người đồng phạm được xác định bởi tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm; trách nhiệm của người thực hành được xác định theo điều luật
ở phần riêng quy định tội mà họ đã phạm không dẫn chiếu điều luật quy định về đồng phạm; người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức chịu trách nhiệm theo điều luật quy định hình phạt đối với tội đã phạm
và có dẫn chiếu điều luật quy định về đồng phạm trừ trường hợp họ đồng thời là những người cùng thực hiện tội phạm Cách quy định này tương tự như cách quy định trong BLHS hiện hành của nước ta Điều 53 BLHS
năm 1999 quy định: "Khi quyết định hình
phạt đối với những người đồng phạm, toà án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào thì chỉ áp dụng
đối với người đó" Bên cạnh quy định khái
quát này, BLHS năm 1999 của nước ta cũng
có một số quy định thể hiện cụ thể đường lối
xử lí phân hoá đối với những người đồng phạm Tại Điều 3 BLHS năm 1999, khi quy định về nguyên tắc xử lí, nhà làm luật khẳng định đường lối nghiêm trị đối với người chủ
Trang 3mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội
phạm Đồng thời, tại các điều 79, 81, 82, 83,
89 và 91 BLHS năm 1999 việc xử lí những
người đồng phạm được tiến hành theo hướng
phân hoá về khung hình phạt dựa vào vai trò
và mức độ thực hiện hành vi của họ Ví dụ:
Tại Điều 79 - Tội hoạt động nhằm lật đổ
chính quyền nhân dân, người tổ chức, người
xúi giục, người hoạt động đắc lực bị xử lí
theo khung hình phạt là tù từ 12 năm đến 20
năm, tù chung thân hoặc tử hình trong khi
những người đồng phạm khác bị phạt tù từ 5
năm đến 15 năm Ngoài ra, việc phân hoá
TNHS đối với những người đồng phạm còn
được cụ thể hoá tại một số điều luật thuộc
phần các tội phạm dựa vào tính chất hành vi
mà mỗi người thực hiện Đây chính là việc
phân định tội danh (với chế tài tương ứng
khác nhau) đối với những hành vi mang bản
chất là đồng phạm như tách riêng hành vi tổ
chức đua xe trái phép và hành vi đua xe trái
phép để xử lí ở hai điều luật khác nhau; tách
hành vi tổ chức đánh bạc và hành vi gá bạc
để xử lí theo điều luật riêng khác với điều
luật dùng để xử lí hành vi đánh bạc… Tuy
nhiên, những quy định này chỉ thể hiện được
quan điểm phân hoá trong việc xử lí những
người đồng phạm đối với một số tội nhất
định, nguyên tắc xử lí tại Điều 53 BLHS năm
1999 cũng chỉ giới hạn trong phạm vi quy
định về người tổ chức Vì vậy, chúng tôi cho
rằng cần phải bổ sung vào chế định đồng
phạm những quy định thể hiện rõ đường lối
xử lí phân hoá đối với các loại người đồng
phạm Dựa vào tính nguy hiểm thông dụng
của từng loại người này trong thực tiễn và
tham khảo kinh nghiệm lập pháp của các
nước nói trên, chúng tôi cho rằng ngoài
đường lối nghiêm trị người tổ chức thực hiện
tội phạm như hiện nay cần phải quy định rõ trong luật nguyên tắc xử lí người thực hành
và người xúi giục nặng hơn người giúp sức
3 Song song với nội dung trên, nguyên tắc phân hóa TNHS trong đồng phạm còn đòi hỏi sự phân hoá trong đường lối xử lí đối với các trường hợp đồng phạm khác nhau về tính nguy hiểm Về mặt lí luận, các quy định về đồng phạm chỉ đưa ra mức tối thiểu là có 2 người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm Như vậy, cả về lí luận và thực tiễn đều cho thấy cùng phạm tội dưới hình thức đồng phạm nhưng số lượng người tham gia cũng như mức độ liên kết giữa họ có thể có sự chênh lệch rất lớn Sự chênh lệch đó trong nhiều trường hợp dẫn đến sự khác biệt về tính nguy hiểm của trường hợp phạm tội Tuy nhiên, vấn đề này hiện nay cũng được giải quyết theo những hướng khác nhau Pháp luật hình sự một số nước như Trung Quốc, Nhật Bản không có những quy định riêng biệt thể hiện sự phân hoá theo hướng này Ngược lại, pháp luật hình sự của một số nước khác thể hiện rõ quan điểm xử lí phân hoá
đối với những trường hợp đó Ví dụ: Điều 36
BLHS của Liên bang Nga khi quy định về một nhóm người phạm tội, một nhóm người phạm tội có dự mưu, phạm tội có tổ chức và
tổ chức phạm tội đã khẳng định những
trường hợp “bị xử phạt nghiêm khắc hơn theo
những căn cứ và trong giới hạn do Bộ luật này quy định ” Từ đó tình tiết “phạm tội
trong thành phần một nhóm người, một nhóm người có dự mưu, có tổ chức hoặc trong tổ chức phạm tội” được quy định tại Điều 64 BLHS của Liên bang Nga là tình tiết tăng nặng hình phạt Ngoài ra, tại Điều 207 BLHS Liêng bang Nga, chế tài đối với các hành vi liên quan đến tổ chức phạm tội được quy định
Trang 4rõ, theo đó các hành vi thành lập tổ chức để
thực hiện các tội phạm rất nghiêm trọng hoặc
đặc biệt nghiêm trọng cũng như hành vi chỉ
huy tổ chức hoặc tổ chức thành viên của tổ
chức đó bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm và có
thể kèm theo tịch thu tài sản; hành vi tham gia
vào tổ chức phạm tội bị phạt tù từ 3 năm đến
10 năm và có thể kèm theo hình phạt tịch thu
tài sản Như vậy, theo quy định của pháp luật
hình sự Liên bang Nga, ngoài việc quy định
đường lối xử lí những trường hợp đồng phạm
thông thường còn có quy định xử lí riêng đối
với trường hợp tổ chức phạm tội
Trong BLHS nước ta, phạm tội có tổ
chức được quy định là hình thức đồng phạm
có sự câu kết chặt chẽ giữa những người
cùng thực hiện tội phạm (khoản 3 Điều 20)
Trên cơ sở quy định chung đó, trong phần
các tội phạm, “phạm tội có tổ chức” được
quy định là tình tiết định tội (ví dụ: Tội hoạt
động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, tội
bạo loạn…); là tình tiết định khung hình phạt
tăng nặng (ví dụ: Tại các tội huỷ hoại rừng,
cưỡng đoạt tài sản…) hoặc là tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự (điểm a khoản 1
Điều 48) đối với những trường hợp phạm tội
do cố ý khác.(6) Như vậy, mặc dù pháp luật
hình sự nước ta đã thể hiện quan điểm phân
hoá TNHS đối với các trường hợp đồng
phạm (phân hoá trong đường lối xử lí giữa
phạm tội có tổ chức với các trường hợp đồng
phạm khác) nhưng sự phân hoá đó chưa thực
sự triệt để, chưa tạo ra cơ sở pháp lí riêng biệt
để xử lí các tổ chức phạm tội, đặc biệt là
trong điều kiện tình hình phạm tội có tổ chức
có những diễn biến phức tạp trong những
năm gần đây và xu hướng phát triển của
chúng trong tương lai Vì vậy, chúng tôi hoàn
toàn đồng tình với quan điểm của TS Lê Thị Sơn là quy định của BLHS hiện hành của nước ta về phạm tội có dấu hiệu “có tổ chức” chưa đáp ứng yêu cầu đấu tranh với các tổ chức phạm tội và ngăn chặn các tội phạm do các tổ chức phạm tội thực hiện.(7) Để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm cũng như thực hiện triệt để việc phân hóa TNHS trong đồng phạm chúng tôi cho rằng BLHS nước ta cần có các quy định về các hành vi liên quan đến tổ chức phạm tội trong điều luật quy định về đồng phạm như một trường hợp đặc biệt của đồng phạm (có tính nguy hiểm cao nhất trong các trường hợp đồng phạm) Cùng quan điểm với TS Lê Thị Sơn, chúng tôi kiến nghị ở phần các tội phạm, ngoài quy định tại Điều 79 (tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân) như hiện nay cần có thêm quy phạm xác định là tội phạm những hành vi thành lập hoặc tham gia
tổ chức có mục đích thực hiện tội phạm để có
cơ sở pháp lí phục vụ cho việc ngăn chặn có
(Xem tiếp trang 75)
(1).Xem: "Bộ luật hình sự của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1979", Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội năm 1994, các điều 23 và 24
(2), (5).Xem: Trần Quang Tiệp - "Chế định đồng phạm trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới", Tạp chí dân chủ và pháp luật, số chuyên đề về luật hình sự của một số nước trên thế giới, tr 50 - 52
(3).Xem: "Bộ luật hình sự Nhật Bản", bản dịch của
Hatsukano Mai, các điều 60, 61, 62
(4).Xem: "Bộ luật hình sự của Liên bang Nga", Điều
34, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số chuyên đề về luật hình sự của một số nước trên thế giới, tr 60
(6), (7).Xem: TS Lê Thị Sơn - "Về tội phạm có dấu hiệu “có tổ chức” trong luật hình sự Việt Nam", Tạp chí luật học, số 1/2003, tr 45 - 47, 48