Lưu B×nh Nhưìng * uật lao động là hệ thống pháp luật có đời sống riêng có đối tượng điều chỉnh riêng, đó là các quan hệ lao động và các quan hệ khác có liên quan chặt chẽ với quan hệ lao
Trang 1TS Lưu B×nh Nhưìng *
uật lao động là hệ thống pháp luật có
đời sống riêng có đối tượng điều chỉnh
riêng, đó là các quan hệ lao động và các
quan hệ khác có liên quan chặt chẽ với quan
hệ lao động như quan hệ xã hội về việc làm,
học nghề, đại diện lao động, bồi thường thiệt
hại trong quá trình lao động Tuy nhiên, nếu
đi tìm căn nguyên của nó, tức là những cơ sở
mà qua đó luật lao động phát sinh, phát triển,
đặc biệt là dưới lăng kính triết học thì chưa
có công trình nào thoả mãn được yêu cầu đó
Thật đáng tiếc nếu chúng ta thờ ơ với điều
này, bởi vì, nếu không tìm hiểu những cội
gốc của nó, chúng ta mới chỉ hiểu được một
phần của ngọn cây luật lao động Bài viết
này không có tham vọng trình bày công trình
nghiên cứu công phu mà chỉ đưa ra một vài
gợi ý bước đầu để trao đổi cùng các đồng
nghiệp và những người quan tâm một số
vấn đề về cơ sở triết học của luật lao động -
ngành luật có tầm quan trọng đặc biệt trong
đời sống của con người
1 Vật chất và ý thức - tồn tại xã hội
quyết định ý thức xã hội - những điều
không được bàn đến nhiều trong lí luận về
sự ra đời và phát triển của luật lao động
Quan hệ lao động là loại quan hệ ra đời
muộn mằn trong xã hội Tuổi đời của quan
hệ lao động (mà cụ thể ở đây là quan giữa
người lao động làm thuê và chủ sử dụng lao
động) có khoảng trên dưới 100 năm Về nơi
phát nguyên của quan hệ lao động, tức là
“quê hương” của nó thì chưa có nhà khoa học nào hoặc tài liệu nào chứng minh cặn kẽ, tỉ
mỉ mà chỉ có những kết luận theo kiểu dự phỏng Tuy nhiên, về một khía cạnh nào đó, người ta có thể khẳng định được rằng các quan hệ lao động có “tuổi đời” cao hơn và không nghi ngờ gì, quan hệ lao động chắc chắn thuộc hàng “cha chú” của luật lao động
Từ thế kỉ XV, ở nước Anh, do tác động của cuộc cách mạng công nghiệp, của “phong trào rào ruộng cướp đất” và chế độ “cừu ăn thịt người” đã dẫn đến sự phát triển của các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại đồng thời đẩy nhanh quá trình hình thành giai cấp vô sản làm thuê và các đơn vị sử dụng lao động làm thuê Sự phát triển tự nhiên này do phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa quyết định, có tính lịch sử, trong xã hội có nhà nước Từ buổi ban đầu của bình minh lịch sử của giai cấp tư sản,(1) nền sản xuất mới đã đẩy các quan hệ phong kiến muôn màu và thuần phác vào quá khứ Quan hệ sản xuất, thương mại tư bản chủ nghĩa dần được thiết lập Chế độ thuê mướn lao động cũng có sự thay đổi cơ bản Thay vì việc duy trì quan hệ phát canh thu tô của địa chủ và lãnh chúa thể tập, các ông chủ mới tiến hành tuyển lao động làm thuê theo phương thức tự do thoả thuận Bởi vì, trong chế độ tư
L
* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2nghiên cứu - trao đổi
bản chủ nghĩa, việc hỡnh thành chế độ sản
xuất cụng xưởng đũi hỏi phải sử dụng người
lao động cú tay nghề, làm việc theo chế độ
riờng chứ khụng thể ỏp dụng chế độ lao động
của người nụng dõn trước kia vào quỏ trỡnh
sản xuất được Quan hệ lao động theo hợp
đồng lao động phỏt sinh từ đú và được duy
trỡ cho đến ngày nay
Trong quan hệ ấy, mặc dự được tự do bỏn
sức lao động, người cụng nhõn làm việc trong
cỏc cụng xưởng vẫn trở thành người lệ thuộc
phỏp lớ vào người sử dụng lao động Họ phải
làm việc dưới quyền điều khiển của chủ sử
dụng lao động Sự lệ thuộc, cho dự dưới dạng
thức nào, vẫn hơn là một sự nụ lệ - cỏi mà
trước đõy nhiều thế hệ người lao động phải
cũng lưng chịu đựng như là một cực hỡnh
Khỏc với cỏc nước chõu Âu, ở Việt Nam,
việc hỡnh thành quan hệ lao động làm thuờ,
tức quan hệ cụng nghiệp gắn liền với sự xuất
hiện và thống trị của chủ nghĩa thực dõn
Phỏp Cựng với ỏch nụ dịch, thực dõn Phỏp
đó lập ra nhiều đồn điền, hầm mỏ, nhà mỏy
để búc lột cụng nhõn ở nhiều nơi như Hà
Nội, Hải Phũng, Quảng Nỡnh, Vinh, Sài
Gũn Người dõn Việt Nam cú thể kiếm
được chỗ làm việc trong nhà mỏy, hầm mỏ
của tư sản Phỏp hoặc cỏc nhà tư sản dõn tộc
khỏc nhưng đú chẳng qua là quan hệ bất bỡnh
đẳng Người Phỏp thực hiện chớnh sỏch vơ vột
tài nguyờn nhằm bự đắp cho sự thất bại của họ
trờn cỏc chiến trường và khắc phục những hậu
quả kinh tế do cỏc cuộc khủng hoảng gõy nờn
Quan hệ cụng nghiệp lỳc đú là quan hệ lệch
cực, trong đú, chủ tư bản Phỏp và tay sai cú
quyền chi phối mọi hoạt động tuyển mộ, bắt
bớ phu phen, tạp dịch Do đú, luật lao động
Việt Nam thời kỡ trước cỏch mạng khụng thể xuất hiện và tồn tại
Sau khi giành chớnh quyền về tay nhõn dõn, Nhà nước Việt Nam thiết lập chủ quyền đối với cỏc tài nguyờn và toàn bộ nền kinh tế quốc dõn Nhà nước Việt Nam dõn chủ cộng hoà, cho dự cũn non trẻ, đó phải và cú quyền đối với việc quản lớ xó hội, quản lớ đất nước, quản lớ nền kinh tế Và hệ luận là, với quyền lực đương nhiờn ấy, Nhà nước phải tạo điều kiện, phải bảo hộ cho cỏc quan hệ cụng nghiệp được xỏc lập, duy trỡ và phỏt triển nhằm đẩy mạnh sự nghiệp xõy dựng đất nước Sự ra đời của Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 về sự làm cụng, trong đú quy định
về khế ước lao động (hợp đồng lao động-TG), tập hợp khế ước (thoả ước lao động tập thể - TG), về sự tập nghề, về cơ chế giải quyết tranh chấp lao động chớnh là cỏi được sinh ra
từ điều kiện quản lớ xó hội, quản lớ đất nước, quản lớ kinh tế những năm đầu đầy khú khăn của Nhà nước Việt Nam Điều đỏng lưu ý đối với luật lao động thời kỡ đầu của nước ta là ở chỗ nú được xõy dựng dựa trờn nền tảng của chế độ kinh tế, chớnh trị, xó hội của một bản Hiến phỏp tư sản dõn quyền mà chưa phải là một nền kinh tế cú định hướng xó hội chủ nghĩa như ngày nay
Vào những năm tiến hành hai cuộc khỏng chiến chống Phỏp và chống Mĩ, với nền tảng kinh tế nghốo nàn, lạc hậu, nặng tớnh thời chiến, cỏc quy định của luật lao động đó kịp thời thể chế hoỏ đường lối của Đảng vào lĩnh vực sử dụng cụng nhõn, viờn chức dưới hỡnh thức động viờn nhõn lực phục vụ cho sự nghiệp xõy dựng và bảo vệ tổ quốc Với nền kinh tế - xó hội như vậy, cỏc quan hệ lao
Trang 3động như vậy, chắc chắn sẽ khó có một đạo
luật thực sự về lao động theo đúng nghĩa của
từ này ra đời Cho nên, với tính chất “động
viên nhân lực thời chiến”, các quy định của
luật lao động đã “hoá thân” thành các quy
phạm hành chính và luôn có điểm dừng ở hai
chữ “tạm thời” và hình thức “nghị định”
hoặc “quyết định” hoặc “thông tư” là chủ
yếu Về mặt phạm vi, các quy định của luật
lao động chỉ điều chỉnh các quan hệ giữa
công nhân - viên chức nhà nước và “nhà
nước” (không phải là với các cơ quan - xí
nghiệp như ngày nay) và bao quát khu vực
miền Bắc mà không mở rộng tới miền Nam
và trong phạm vi cả nước Lúc đó, ở miền
Nam, chế độ nguỵ quyền Sài Gòn có Bộ luật
lao động do vua Bảo Đại ban hành theo đạo
Dụ số 15 (1952) So với Bộ luật lao động
của chế độ nguỵ quyền Sài Gòn - các quy
định do Nhà nước ban hành có sự chênh lệch
rất lớn không chỉ ở hình thức văn bản mà
còn ở tính chất của các quy định đó Về mặt
này, các quy định của Nhà nước chưa tiếp
cận với nền kinh tế thị trường, chưa thực sự
có đối tượng và tính bao quát cho lĩnh vực
lao động Và mặc dù đã cố gắng nhưng với
hoàn cảnh lúc bấy giờ, pháp luật lao động
vẫn mang tính chất manh mún, chắp vá,
thiếu tính hệ thống, đúng như chính các văn
bản pháp luật lao động cụ thể luôn thừa nhận
tính chất “tạm thời” của nó
Sự thống nhất đất nước, sự phát triển của
nền kinh tế quốc dân trong những năm 1976
-1984 đã mở ra một thời kì mới Các xí
nghiệp, nông - lâm trường lần lượt ra đời,
nhu cầu lao động ngày một tăng lên, sự đòi
hỏi quyền tự chủ trong quan hệ lao động nói
riêng và trong các quan hệ kinh tế - xã hội ngày một nâng cao, đòi hỏi về sự hội nhập,
mở cửa trở thành yêu cầu bức xúc trong nền kinh tế - xã hội có tiềm năng và được khích
lệ bằng quan điểm dân chủ, dân sinh đã khơi nguồn các nhà làm luật cho ra đời các văn bản pháp luật lao động có hiệu lực cao điều chỉnh mọi mặt của đời sống lao động Sự ra đời của Pháp lệnh hợp đồng lao động (1990), Pháp lệnh bảo hộ lao động (1991), Luật công đoàn (1990), Bộ luật lao động (1994 - sửa đổi 2002), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (1996) là những minh chứng đầy thuyết phục cho nguyên lí triết học vật chất quyết định ý thức, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, xung quanh cơ sở phát sinh, tồn tại và phát triển của luật lao động Việt Nam thời kì đổi mới
Từ nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, phụ thuộc và bị đô hộ, Việt Nam đã giành lại vị thế của mình, trở thành quốc gia độc lập, thống nhất, nước ta bước vào thời kì mới, thời kì xây dựng nền kinh tế thị trường, trong
đó có sự hiện diện mạnh mẽ của các quan hệ lao động - quan hệ mua, bán sức lao động (cái trước kia không được coi là hàng hoá) Thời kì mới với nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hoá mối quan hệ lao động chính là cơ sở, nền tảng quan trọng cho sự ra đời của những văn bản pháp luật lao động có hiệu lực cao và thống nhất, bao trùm lĩnh vực lao động và lãnh thổ quốc gia
2 Luật lao động - nhìn dưới góc độ quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Sự vật, hiện tượng tồn tại trên cơ sở sự thống nhất của các mặt đối lập Luật lao động
Trang 4nghiên cứu - trao đổi
khụng phải là một ngoại lệ, hay ớt ra cũng
khụng phải là một ngoại lệ của quỏ trỡnh
mang tớnh tất yếu đú
Theo giỏo sư Nguyễn Quang Quýnh thỡ
“luật lao động là những quy tắc phỏp lớ ỏp
dụng cho cả cụng nhõn và chủ nhõn, chứ
khụng chỉ riờng cho cụng nhõn Lỳc ban đầu
trong chế độ tư bản cổ điển khi những liờn
lạc giữa chủ và thợ cũn do nguyờn tắc tự do
kết ước quy định, chủ nhõn thường lợi dụng
ưu thế của mỡnh về kinh tế để ộp buộc cụng
nhõn những điều kiện làm việc do chủ nhõn
ấn định Quốc gia phải can thiệp để bảo vệ
cụng nhõn và ban hành phỏp chế lao động
Vỡ nguồn gốc luật lao động như vậy nờn
người ta thường cú thành kiến cho rằng luật
lao động hoàn toàn bờnh vực cụng nhõn và
chỉ đặt ra cho chủ nhõn những nghĩa vụ”.(2)
Trong quan hệ lao động, nếu xột ở gúc
độ quan hệ việc làm hay quan hệ xó hội
trong đú một bờn cung ứng sức lao động để
làm việc, cũn bờn kia trả thự lao cho hoạt
động lao động đú thỡ đú là quan hệ hai bờn:
Người lao động và người sử dụng lao động
Người ta thường gọi là quan hệ chủ - thợ
Người chủ, với mục đớch của mỡnh là lợi
nhuận, sẽ tỡm cỏch giảm cỏc chi phớ đầu vào
gồm: Nguyờn, nhiờn, vật liệu, lao động Tuy
nhiờn, giỏ nguyờn, nhiờn, vật liệu là cỏi mà
họ khú cú thể quyết định, bởi vỡ nú phụ
thuộc vào thị trường, vào đối tỏc thương
mại Cỏi dễ biến thiờn nhất chớnh là hạ giỏ
sức lao động
Để hạ giỏ sức lao động, người chủ cú thể
ỏp dụng cỏc biện phỏp khỏc nhau, trực tiếp
hoặc giỏn tiếp như: Hạ lương, cắt giảm chi
phớ bảo hiểm, cắt giảm chi phớ bảo hộ lao
động, tăng thời gian làm việc, tăng cường độ làm việc với kỉ luật lao động hà khắc Tất cả những cỏi đú đều đụng chạm, đều đỏnh vào quyền, lợi ớch của người lao động, những người luụn mong muốn cú được một cụng việc ổn định, mức thu nhập cao, trong điều kiện làm việc ngày càng được cải thiện Mõu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động nảy sinh bắt đầu từ lớ do kinh
tế và luụn xoay quanh lớ do kinh tế Cú thể trong thời điểm nào đú, sự xung đột cú nguyờn nhõn trực tiếp từ thỏi độ đối xử thiếu đỳng đắn, song sõu xa vẫn là nguồn gốc kinh
tế Mõu thuẫn đú rất khú cú khả năng triệt tiờu và luụn là vấn đề của quan hệ chủ - thợ Luật lao động ban đầu ra đời là nhằm để điều chỉnh mối quan hệ giữa người lao động
và người sử dụng lao động, tức quan hệ việc làm Mõu thuẫn của cỏc bờn trong quan hệ việc làm đú chớnh là vấn đề thứ hai mà luật lao động phải bao quỏt Bởi vỡ, nếu quan hệ chủ - thợ khụng được tồn tại trong hoà bỡnh thỡ sẽ ảnh hưởng tới khụng chỉ cỏc cỏ nhõn
đú Nú cũn là những cơ sở cho cỏc xung đột lớn hơn, cú tầm bao quỏt hơn, ảnh hưởng tới đời sống lao động và đời sống kinh tế - chớnh trị của xó hội Sự khống chế, điều hoà cỏc xung đột cỏ nhõn trong quan hệ lao động cỏ nhõn chớnh là nhiệm vụ quan trọng, mặc dự chưa phải là tất cả của lĩnh vực lao động Đối với quan hệ lao động, mõu thuẫn về quyền, lợi ớch đú khụng chỉ tồn tại trong phạm vi của quan hệ giữa người chủ sử dụng lao động và cỏ nhõn người lao động, tức là trong quan hệ lao động cỏ nhõn Và luật lao động được hỡnh thành, tồn tại và phỏt triển khụng chỉ nhằm điều hoà mối quan hệ lao
Trang 5động cá nhân và những xung đột trong quan
hệ lao động cá nhân
Trong quá trình duy trì mối quan hệ lao
động, những người lao động đã tìm cách cố
kết nhằm tăng cường thêm sức mạnh của
mình Họ lập ra tổ chức của mình với mục
đích và hi vọng sẽ cân bằng về thực lực đối
với người sử dụng lao động Ban đầu, các tổ
chức của những người lao động chưa có ảnh
hưởng gì đáng kể nhưng sau đó, dần dần, đã
trở thành lực lượng mới trong xã hội Các
công đoàn được thành lập đã có đủ khả năng
và kinh nghiệm lãnh đạo, biến sức mạnh
đoàn kết theo số đông lúc ban đầu thành sức
mạnh mang tính xã hội có tổ chức Một giai
cấp mới, giai cấp công nhân xuất hiện ngay
từ trong lòng phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa, là sản phẩm của quan hệ công
nghiệp (Industrial Relations)(3) đối lập với
giai cấp tư sản, giai cấp từng lật đổ chế độ và
xiềng xích phong kiến để xây dựng nên xã
hội công nghiệp - thương mại Và như vậy,
bên cạnh những mâu thuẫn chủ - thợ mang
tính cá nhân, trong quan hệ công nghiệp còn
chứa chất những mâu thuẫn giai cấp giữa
giai cấp công nhân và giai cấp tư sản Và vì
thế, luật lao động dần dần thay đổi diện mạo
lúc ban đầu có tính nguyên sơ của nó là điều
chỉnh quan hệ việc làm (Employment
Relationship) và điều hoà các mâu thuẫn, các
xung đột cá nhân Nó buộc phải bổ sung vào
nhiệm vụ điều chỉnh của nó danh mục các
xung đột tập thể giữa các tập thể người lao
động và cao hơn nữa, giữa giai cấp công
nhân với bên sử dụng lao động Đây cũng
chính là một trong những đặc trưng của luật
lao động so với các ngành luật khác, đưa luật
lao động lên một vị thế khác so với các ngành luật tư(4) như dân luật, thương luật
3 Một cách nhìn từ góc độ của phạm trù cái chung và cái riêng
Luật lao động là một ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc gia Luật lao động phải thể chế hoá các quy định của Hiến pháp về lao động Luật lao động là cái riêng, hiến pháp là cái chung
Mối quan hệ giữa hiến pháp và luật lao động là mối quan hệ hữu cơ Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhà nước, đương nhiên không thể chi tiết hoá được các quan điểm, chính sách lớn Do đó, nó phải chuyển những vấn đề đó cho các đạo luật khác Hiến pháp như là vị nhạc trưởng, các đạo luật khác là các nhạc công trong dàn hợp xướng pháp lí Mỗi đạo luật, từ hiến pháp đều có giá trị riêng và có nhiệm vụ riêng để hệ thống pháp luật có giá trị thống nhất trong đa dạng Nói như vậy không phải là phủ nhận tính bắt buộc cần phải có trong mối quan hệ giữa hiến pháp và luật lao động Không thể có chuyện khi một vấn đề về lao động đã được quy định trong hiến pháp mà luật lao động có thể bỏ qua, không chi tiết hoá thành các quy định cụ thể Đành rằng hiến pháp là hiện thân cao quý nhất của hệ thống pháp luật song các quy định của hiến pháp rất khó có thể đưa vào áp dụng trực tiếp để điều chỉnh các quan
hệ xã hội, vì nó có tính “tuyên ngôn” là cơ bản Vì thế, hiến pháp bao giờ cũng có tính khái quát, bao hàm, cô đọng và vì vậy, nó luôn phải “cậy nhờ” đến sự chi tiết trong các quy định của các luật khác nhau Luật lao động không thể nằm ngoài quy tắc pháp lí mang tính truyền thống đó
Trang 6nghiên cứu - trao đổi
Hiến phỏp Việt Nam từ năm 1946 đến
Hiến phỏp năm 1959, 1980, 1992 (đó sửa
đổi, bổ sung) đều ghi nhận một cỏch trịnh
trọng quyền lao động của cụng dõn Hiến
phỏp năm 1946 quy định: “Tất cả cỏc cụng
dõn Việt Nam đều ngang quyền về mọi
phương diện: Chớnh trị, kinh tế, văn hoỏ”;(5)
“đàn bà ngang quyền với đàn ụng về mọi
phương diện”(6), "quyền lợi cỏc giới cần lao
trớ thức và chõn tay được bảo đảm”.(7) Đến
Hiến phỏp 1959, Nhà nước xỏc định: “Cụng
dõn nước Việt Nam dõn chủ cộng hoà đều
bỡnh đẳng trước phỏp luật”;(8) “phụ nữ nước
Việt Nam dõn chủ cộng hoà cú quyền bỡnh
đẳng với nam giới về cỏc mặt sinh hoạt
chớnh trị, kinh tế, văn hoỏ, xó hội và gia
đỡnh”;(9) “Cụng dõn nước Việt Nam dõn chủ
cộng hoà cú quyền làm việc Nhà nước dựa
vào sự phỏt triển cú kế hoạch của nền kinh
tế quốc dõn, dần dần mở rộng cụng việc
làm, cải thiện điều kiện lao động và lương
bổng, để bảo đảm cho cụng dõn được
hưởng quyền đú”;(10) “người lao động cú
quyền nghỉ ngơi Nhà nước quy định thời
giờ làm việc và chế độ nghỉ ngơi của cụng
nhõn và viờn chức, mở rộng dần những điều
kiện vật chất về nghỉ ngơi và an dưỡng, để
bảo đảm cho người lao động được hưởng
quyền đú”;(11) “người lao động cú quyền
được giỳp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh
tật, hoặc mất sức lao động Nhà nước mở
rộng dần cỏc tổ chức bảo hiểm xó hội, cứu
tế và y tế để bảo đảm cho người lao động
được hưởng quyền đú”.(12)
Là đạo luật được coi là mang lại nhiều
quyền nhất cho cụng dõn, Hiến phỏp năm
1980 quy định rất cụ thể cỏc quyền của cụng
dõn trong lĩnh vực lao động xó hội.(13) Đặc
biệt Hiến phỏp 1980 quy định: “Lao động là
quyền, nghĩa vụ và vinh dự hàng đầu của cụng dõn Cụng dõn cú quyền cú việc làm Người cú sức lao động phải lao động theo quy định của phỏp luật ”.(14) Điều đú một mặt thể hiện tớnh ưu việt của chế độ xó hội chủ nghĩa trong những năm đầu của thời kỡ quỏ độ lờn chủ nghĩa xó hội theo đường lối của Đảng đề ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV,(15) mặt khỏc thể hiện quyết tõm của Nhà nước trong việc tạo cụng ăn việc làm, thu nhập và cải thiện đời sống nhõn dõn
Là Hiến phỏp của thời kỡ đổi mới, Hiến phỏp năm 1992 đó bỏm sỏt quỏ trỡnh phỏt triển của đất nước, của xó hội Trong cỏc quy định của mỡnh, Hiến phỏp 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) đó thể hiện được cỏc vấn đề cơ bản nhất của lĩnh vực lao động xó hội Hiến phỏp quy định quyền bỡnh đẳng của cụng dõn trước phỏp luật;(16) quyền bỡnh đẳng nam - nữ;(17) quyền và nghĩa vụ của cụng dõn trong lao động;(18) trỏch nhiệm của Nhà nước trong việc quy định cỏc chế độ bảo hộ lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, chế độ tiền lương, chế độ bảo hiểm xó hội(19)
và chăm súc sức khoẻ (20) Theo quan điểm của cỏc nhà khoa học, cỏc quyền của cụng dõn trong lĩnh vực xó hội, trong đú cú vấn đề lao động, cú xu hướng tăng lờn
Trờn cơ sở cỏc quy định của Hiến phỏp, qua từng thời kỡ, Nhà nước đó thể chế hoỏ cỏc quy định của luật lao động
Tinh thần của Hiến phỏp 1946 đó là cơ sở quan trọng để Chủ tịch Hồ Chớ Minh kớ Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 Sắc lệnh đú được coi là “Bộ luật lao động” đầu tiờn ở
Trang 7Việt Nam, với nội dung rất tiến bộ về mối
quan hệ lao động và giải quyết tranh chấp
lao động, đảm bảo quyền đình công (bãi
công) của người lao động
Sau khi có Hiến pháp năm 1959, một
loạt các văn bản pháp luật lao động được ban
hành đã đề cập và quy định các lĩnh vực
khác nhau của đời sống lao động và mối
quan hệ lao động, trong đó phải kể đến: Luật
công đoàn (5/11/1957); Nghị định số 07/CP
ngày 18/4/1960 về việc cấp sổ lao động cho
người lao động trong biên chế nhà nước;
Nghị định số 08/CP ngày 18/4/1960 về cấp
giấy đăng kí cho thợ và người lao động
ngoài biên chế nhà nước; quy chế tạm thời
về tuyển dụng và cho thôi việc đối với công
nhân, viên chức nhà nước (ban hành kèm
theo Nghị định số 24/CP ngày 13/3/1963 của
Hội đồng Chính phủ); bản Điều lệ tạm thời
về kỉ luật lao động của công nhân viên chức
nhà nước (ban hành kèm theo Nghị định số
195/CP ngày 31/12/1964 của Hội đồng
Chính phủ); bản Quy định về chế độ trách
nhiệm vật chất của công nhân, viên chức đối
với tài sản nhà nước (ban hành kèm theo
Nghị định số 49/CP ngày 9/4/1968 của Hội
đồng Chính phủ); Điều lệ tạm thời về các
chế độ bảo hiểm xã hội (ban hành kèm theo
Nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961 của
Hội đồng Chính phủ) Có thể nói, vào
những năm 1960 và 1970 hệ thống các văn
bản pháp luật lao động được ban hành dày
đặc, chi tiết, tỉ mỉ, được thay đổi thường
xuyên theo kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước Mặc dù vào thời điểm đó,
với những hạn chế nhất định về quan điểm
khoa học, quan điểm phát triển trong kinh tế
nhưng hệ thống các văn bản pháp luật lao động đã mang lại những quyền lợi rất lớn cho người lao động
Nếu xét trong bối cảnh nền kinh tế tập trung, bao cấp, Hiến pháp năm 1980 là bản Hiến pháp thuộc loại tiến bộ nhất Ngay trong lĩnh vực lao động, một lĩnh vực bị hạn chế về tính thường trực trong tư duy pháp lí thời kì
đó, các quy định của Hiến pháp về lao động
xã hội đã mang lại sức sống đặc biệt cho luật lao động Từ năm 1980 đến năm 1994 (trước khi Bộ luật lao động có hiệu lực) Nhà nước
đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng có liên quan đến lĩnh vực lao động như: Nghị định số 235/HĐBT ngày 18/9/1985 về tiền lương; bản Quy định về quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước (ban hành kèm theo Quyết định số 217/HĐBT ngày 14/11/1987 của Hội đồng bộ trưởng); Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (29/12/1987); Luật công đoàn (30/6/1990); Pháp lệnh hợp đồng lao động (30/8/1990); Quy chế lao động trong các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (ban hành kèm theo Nghị định số 233/HĐBT ngày 22/6/1990); Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật công ti (21/12/1990);(21) bản Quy định về thoả ước lao động tập thể (ban hành kèm theo Nghị định số 18/CP ngày 26/12/1992); Nghị định số 25/CP và 26/CP (25/3/1993) về tiền lương và trợ cấp đối với công nhân, viên chức nhà nước và các đối tượng hưởng chính sách xã hội…
Ngày 23/6/1994, với tinh thần quyết tâm xây dựng Bộ luật lao động, văn bản pháp lí quan trọng để điều chỉnh quan hệ lao động theo hợp đồng lao động trong xã hội và áp
Trang 8nghiên cứu - trao đổi
dụng cho lĩnh vực lao động xó hội, Quốc hội
khoỏ IX, kỡ họp thứ X đó chớnh thức thụng
qua Bộ luật lao động Bộ luật lao động dự
được xỏc định ra đời và tồn tại với những lớ
do và những nhiệm vụ khỏc nhau nhưng xột
cho cựng vẫn là sự thể chế hoỏ đường lối của
Đảng và cụ thể hoỏ Hiến phỏp năm 1992(22)
về lao động Điều đú càng chứng tỏ mối
quan hệ biện chứng giữa cỏi chung và cỏi
riờng trong mối quan hệ giữa hiến phỏp và
luật lao động
Bờn cạnh hiến phỏp, một vấn đề khụng
kộm phần nhạy cảm cú liờn quan đến sự hiện
diện của luật lao động và giỏ trị xó hội của
nú, đú chớnh là quan hệ giữa luật lao động và
phỏp luật quốc tế
Việt Nam là quốc gia thành viờn của
Liờn hiệp quốc (UNO) và đặc biệt, là thành
viờn của Tổ chức lao động quốc tế (ILO)
Với tư cỏch thành viờn, Việt Nam đó kớ kết
và tham gia nhiều cụng ước quốc tế của
UNO và ILO,(23) trong đú phải kể đến cỏc
cụng ước quan trọng như: Cụng ước về cỏc
quyền kinh tế - xó hội và văn hoỏ (1962);
Cụng ước về quyền trẻ em; Cụng ước về
ngày nghỉ hàng tuần trong cụng nghiệp…
(Xem tiếp trang 40)
(1) Theo C.Mỏc, chủ nghĩa tư bản ra đời khụng chỉ
với hoạt động sản xuất cụng nghiệp mà cũn với hoạt
động thương mại Sự lớn mạnh của cỏc đội thương
thuyền qua đại dương, qua đường biển vũng Phi và
Ấn Độ, việc buụn bỏn người nụ lệ da đen đó làm
cho chủ nghĩa tư bản trở nờn cú sức mạnh thụn tớnh
giai cấp phong kiến và ỏp đặt phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa, một phương thức hơn hẳn phương
thức sản xuất phong kiến vào hệ thống sản xuất của
nhõn loại (TG)
(2).Xem: Nguyễn Quang Quýnh, luật lao động và an ninh xó hội, Hội NCHC xuất bản 1969, tr 11
(3) Trong khoa học phỏp lớ núi chung và trong cỏc đạo luật về lao động của cỏc quốc gia trờn thế giới cú
bề dày về lịch sử điều chỉnh quan hệ lao động hoặc trong cỏc quốc gia tiếp thu nhanh cỏc tri thức về quan
hệ lao động theo hệ Anh - Mĩ, người ta thường sử dụng thuật ngữ này để chỉ cỏc quan hệ trong lĩnh vực cụng nghiệp Điều này cú hai ý nghĩa: một mặt, nú chỉ
rừ nguồn gốc nơi phỏt sinh ra quan hệ lao động, đú là cỏc ngành cụng nghiệp và cỏc hoạt động cụng nghiệp
cú tổ chức; mặt khỏc, nú bao hàm cỏc quan hệ khỏc nhau trong lĩnh vực cụng nghiệp, về phương diện lao động, chứ khụng phải là cỏc quan hệ sản xuất - phõn phối - trao đổi - tiờu dựng cú tớnh thương mại, vỡ vậy
nú giỳp mngười ta phõn biệt được cỏc quan hệ cụng nghiệp với quan hệ lao động cỏ nhõn (Employment Relationship) xung quanh sự làm việc và trả cụng giữa người lao động và người sử dụng lao động (TG) (4) Private Law Người ta quan niệm rằng luật lao động
là ngành luật vừa cú tớnh chất cụng và tớnh chất tư, do
đú khụng thể xếp vào hệ thống cỏc ngành luật cụng (Public Law) như luật hành chớnh, luật hỡnh sự, mà cũng khụng thể xếp vào hệ thống cỏc ngành luật tư được (5), (6), (7).Xem: Điều 6, 9, 13 Hiến phỏp năm 1946 (8), (9), (10), (11), (12).Xem: Điều 22, 24, 30, 31, 32 Hiến phỏp năm 1959
(13), (14).Xem: Điều 3, 4, 5, 10, 11, 31, 58, 59, 63 Hiến phỏp năm 1980
(15).Xem: Lời núi đầu Hiến phỏp 1980
(16), (17), (18), (19), (20).Xem: Điều 52, 63, 55, 56,
61 Hiến phỏp năm 1992
(21) Theo quan điểm của cỏc nhà khoa học phỏp lớ, thậm chớ cả cỏc đại biểu Quốc hội thời kỡ này thỡ việc thụng qua Luật doanh nghiệp tư nhõn và Luật cụng ti
là trỏi với Hiến phỏp năm 1980 (TG)
(22).Xem: Lời núi đầu của Bộ luật lao động 1994 (23) Cho đến nay, ngoài cỏc cụng ước của UNO, bằng hai Quyết định số 193/QĐ-CTN (30/5/1993) và số 796/QĐ-CTN (26/8/1997), Việt Nam đó phờ chuẩn 14 cụng ước của ILO, gồm: Số 5 (1919), 6 (1919), 14 (1921), 27 (1919), 45 (1935 ), 80 (1947), 81 (1947),
100 (1958), 111 (1958), 116 (1964), 120 (1964), 123 (1965), 124 (1965), 155 (1981)