Nhờ thông qua quan hệ pháp luật mà các mô thức hành vi được xây dựng trong quy phạm có điều kiện chuyển hoá thành quyền và nghĩa vụ pháp lí thực tế của chủ thể gắn với điều kiện, dự liệu
Trang 1ThS Lê Vương Long *
1 Vị trí quan hệ pháp luật trong cơ
chế điều chỉnh pháp luật và trong đời sống
thực tiễn
Vai trò của quan hệ pháp luật trong cơ
chế điều chỉnh pháp luật có ý nghĩa rất quan
trọng Do cơ chế điều chỉnh pháp luật có
nhiều yếu tố được hình thành ở nhiều giai
đoạn nên sự tương tác của quan hệ pháp luật
với các yếu tố khác cũng như vai trò của
quan hệ pháp luật ở các giai đoạn có những
đặc điểm riêng biệt
Trước hết, muốn điều chỉnh pháp luật,
Nhà nước cần đưa ra các quy phạm pháp luật
để mô hình hoá hành vi của chủ thể Các quy
phạm pháp luật đó cần được hiện thực hoá
bằng hành vi của chủ thể thông qua quan hệ
pháp luật cụ thể Như vậy, trong mối quan hệ
giữa quy phạm pháp luật với hành vi thực tế
của chủ thể, quan hệ pháp luật là khâu trung
gian, là cầu nối giữa hai yếu tố đó với nhau
Nhờ thông qua quan hệ pháp luật mà các mô
thức hành vi được xây dựng trong quy phạm
có điều kiện chuyển hoá thành quyền và
nghĩa vụ pháp lí thực tế của chủ thể gắn với
điều kiện, dự liệu đE nêu ở phần giả định
Như vậy, ở khả năng này, quy phạm pháp
luật được chủ thể nhận thức trực tiếp và thực
hiện thông qua quan hệ pháp luật
Cũng có ý kiến cho rằng trong một số
trường hợp, giữa quy phạm pháp luật với
quan hệ pháp luật cần có văn bản áp dụng
pháp luật làm khâu trung gian Chẳng hạn, trường hợp Nhà nước xác nhận sự kiện nào
đó là căn cứ để phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật cụ thể thì văn bản áp dụng pháp luật đó đóng vai trò trung gian giữa quy phạm pháp luật với quan hệ pháp luật ở đây, văn bản áp dụng pháp luật
được ban hành không làm nhiệm vụ cá biệt hoá quyền, nghĩa vụ đối với chủ thể mà làm nhiệm vụ xác nhận sự kiện thực tế có ý nghĩa pháp lí làm căn cứ phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật cụ thể
Đương nhiên hoạt động áp dụng pháp luật đó lại làm xuất hiện quan hệ pháp luật cụ thể khác Tuy nhiên, ý kiến trên không phải hoàn toàn được thống nhất khi không ít người cho rằng văn bản xuất hiện giữa quy phạm pháp luật với quan hệ pháp luật phải là văn bản cá
biệt mới mang tính chính xác và toàn diện hơn.(1) Mặt khác, văn bản đó cũng có thể làm nhiệm vụ cá biệt hoá quyền, nghĩa vụ đối với chủ thể ngay cả khi nó không là văn bản áp dụng pháp luật Chẳng hạn, pháp luật quy
định về quyền thừa kế theo di chúc nhưng các bên thừa kế muốn thực hiện thừa kế thì
cần xuất trình di chúc của người để lại tài sản Vì vậy, nếu không xuất trình được di chúc và không thoả thuận được về việc phân
* Giảng viên chính Khoa hành chính - nhà nước Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2chia tài sản thì quan hệ thừa kế đó phát sinh
theo pháp luật Việc văn bản cá biệt xuất
hiện giữa quy phạm pháp luật với quan hệ
pháp luật với tính chất trung gian cũng đúng
với cả trường hợp chấm dứt một số loại quan
hệ pháp luật trên thực tế Ví dụ, pháp luật
quy định về li hôn nhưng quan hệ pháp luật
hôn nhân chỉ có thể chấm dứt nếu có đơn xin
li hôn của vợ hoặc chồng và bản án của toà
án có hiệu lực
Ngoài ra, trong trường hợp chủ thể có
vi phạm pháp luật, quan hệ pháp luật lại
tiếp tục xuất hiện thông qua hoạt động cá
biệt hoá chế tài pháp luật nhằm buộc chủ
thể gánh chịu những biện pháp trừng phạt
nhất định
Việc xác định vị trí của quan hệ pháp
luật trong cơ chế điều chỉnh pháp luật sẽ
chính xác và đầy đủ hơn nếu xem xét quan
hệ pháp luật ở sự thống nhất giữa hình thức
pháp lí với nội dung thực tế Hiểu theo nghĩa
này, vị trí của quan hệ pháp luật được lí giải
như một mắt xích, một khâu giữa quy phạm
pháp luật và quan hệ xE hội thực tế do quy
phạm pháp luật điều chỉnh Vị trí của quan
hệ pháp luật bị quy định trước hết ở nội dung
quan hệ xE hội thực tế được quy phạm pháp
luật tương ứng điều chỉnh Quan hệ xE hội lại
rất đa dạng, từng loại quan hệ có đặc thù
riêng vì vậy việc tạo nên vị trí của quan hệ
pháp luật lại nằm ở chiều sâu của quan hệ xE
hội Bản thân tính chất của các quan hệ xE
hội xác định khả năng chi tiết hóa ở mức độ
lớn hay nhỏ trong dạng thức quan hệ pháp
luật gì Chẳng hạn những quan hệ về tố tụng
đòi hỏi phải được chi tiết hoá một cách đầy
đủ hơn Do các quan hệ thủ tục (quan hệ
hình thức) đòi hỏi phải chính xác mới bảo
đảm tính đúng đắn cho quan hệ nội dung nên
việc pháp luật quy định cụ thể và chặt chẽ là hết sức cần thiết Như vậy, trong một số lĩnh vực quan hệ pháp luật, việc điều chỉnh một cách chi tiết, tỉ mỉ được quyết định bởi bản thân tính chất của các quan hệ xE hội cụ thể
2 Vai trò của quan hệ pháp luật trong cơ chế điều chỉnh pháp luật và trong đời sống thực tiễn
Vai trò của quan hệ pháp luật thể hiện qua vị trí và sự tương tác với nhiều yếu tố khác trong cơ chế điều chỉnh pháp luật Được nhận diện là hình thức đặc thù của quá trình thực hiện pháp luật, quan hệ pháp luật có những vai trò cơ bản sau:
a Quan hệ pháp luật là yếu tố hiện thực hoá nội dung, yêu cầu của quá trình điều chỉnh pháp luật
Điều chỉnh pháp luật là quá trình Nhà nước sử dụng pháp luật để tác động vào hành
vi của chủ thể theo những mục đích nhất
định Cơ chế điều chỉnh pháp luật không thể thiếu quan hệ pháp luật với tính cách là yếu
tố hiện thực hoá nội dung, yêu cầu của quá trình điều chỉnh pháp luật Việc ban hành quy phạm pháp luật để điều chỉnh quan hệ xE hội đE làm cho quan hệ xE hội mang tính pháp lí, nghĩa là tạo ra cho các bên tham gia quan hệ đó các quyền và nghĩa vụ pháp lí Nội dung của quy phạm thể hiện rõ nội dung, yêu cầu và mục đích của quá trình
điều chỉnh Với tính cách là hình thức đặc thù của việc thực hiện quy phạm pháp luật, quan hệ pháp luật có vai trò làm cho nội dung quy phạm có tính thực tế Thông qua hành vi thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lí của chủ thể quan hệ pháp luật, các quy định pháp luật đi vào đời sống hiện thực Như vậy, trong đa số trường hợp nếu không thông qua
Trang 3quan hệ pháp luật thì nội dung quy phạm
pháp luật không có điều kiện để hiện thực
hoá bằng hành vi của chủ thể Điều này có
nghĩa là nội dung, yêu cầu đặt ra của quá
trình điều chỉnh bằng pháp luật không có
tính khả thi trong đời sống xE hội Điều
chỉnh pháp luật mới chỉ dừng lại ở mức tác
động đến ý thức chủ thể mà thôi Nhìn chung
nội dung điều chỉnh pháp luật thể hiện ở ba
khả năng: Cho phép, bắt buộc hoặc cấm đoán
đối với chủ thể Các mô thức hành vi được
xây dựng trong quy phạm thể hiện ở ba khả
năng đó không phải hoàn toàn và lúc nào
cũng đặt ra nhu cầu được hiện thực hoá
thông qua quan hệ pháp luật
- Trường hợp nội dung điều chỉnh pháp
luật mang tính bắt buộc có thể diễn ra dưới
hai khả năng: Hoặc là buộc chủ thể phải xác
lập hành vi mới hoặc buộc hành vi đE thiết
lập trong quan hệ pháp luật phải đảm bảo
những yêu cầu nhất định Đối với khả năng
thứ nhất, chủ thể không được từ chối mà phải
chủ động thực hiện bảo đảm tính hợp pháp
cả về nội dung, hình thức vì đó là nghĩa vụ
pháp lí Việc thi hành pháp luật của chủ thể
sẽ làm nảy sinh quan hệ pháp luật trên thực
tế Đối với khả năng thứ hai thì vai trò của
quan hệ pháp luật đE được nhận diện, nghĩa
là nội dung điều chỉnh pháp luật đE được
hiện thực hoá thông qua quan hệ pháp luật
Như vậy đối với hai khả năng trên, quan hệ
pháp luật có vai trò khác nhau một cách căn
bản trong việc hiện thực hoá nội dung, yêu
cầu điều chỉnh pháp luật
- Trường hợp nội dung điều chỉnh pháp
luật cho phép: ở dạng này pháp luật không
đặt ra yêu cầu bắt buộc, do đó chủ thể có thể
thực hiện nội dung pháp luật cho phép hoặc
không thực hiện Nếu chủ thể từ chối quyền của mình thì quan hệ pháp luật cụ thể không xuất hiện Nhưng nếu chủ thể thực hiện quyền được pháp luật cho phép thì thường phải thông qua quan hệ pháp luật Nhìn chung việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ thể ở đây có thể xảy ra hai khả năng là bảo đảm tính hợp pháp hành vi hoặc là vi phạm pháp luật Trường hợp vi phạm pháp luật thì quan hệ pháp luật lại phát sinh với vai trò cụ thể hoá chế tài pháp luật nhằm áp dụng biện pháp cưỡng chế nhất định đối với chủ thể vi phạm
- Trường hợp nội dung điều chỉnh pháp luật mang tính cấm đoán: Điều chỉnh pháp luật ngoài khả năng cho phép, bắt buộc còn
có dạng cấm đoán đối với chủ thể trong những điều kiện cụ thể Chẳng hạn “Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đ2i, hành hạ, xúc phạm con; không
được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên; không được xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo
đức x2 hội” (Điều 34 Luật hôn nhân và gia
đình) Việc xây dựng quy phạm pháp luật không cho phép chủ thể tiến hành những hành vi nhất định để đảm bảo sự an toàn các quan hệ xE hội là cần thiết Tuy nhiên, ở đây
có hai ý kiến trái ngược nhau: ý kiến thứ nhất cho rằng trường hợp điều chỉnh này không đòi hỏi chủ thể thực hiện bằng hành vi nên không hình thành quan hệ pháp luật Nội dung quy định pháp luật trở thành yêu cầu
đối với chủ thể khi thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ pháp luật khác ý kiến thứ hai lại khẳng định: Việc chủ thể không vi phạm các nội dung cấm đoán đó cũng là thực hiện pháp luật Việc thực hiện này bằng hình thức
Trang 4không hành động hợp pháp.(2) Trường hợp có
vi phạm pháp luật thì quan hệ pháp luật mới
được xuất hiện trong quá trình các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền giải quyết vi phạm
đó Thông qua quá trình xử lí vi phạm, quan
hệ pháp luật đE gián tiếp hình thành chức
năng, vai trò là đăng tải loại mô thức hành vi
mà pháp luật cấm đoán đến với các chủ thể
Điều này đE đem lại sự hiểu biết pháp luật
nhất định từ thực tế cho mọi chủ thể Chính
vì vậy, hoạt động xét xử lưu động của toà án
ngoài mục đích giải quyết vụ việc cụ thể còn
là hoạt động giáo dục pháp luật có tính thực
tế và hiệu quả
Bên cạnh việc hiện thực hoá nội dung
quy phạm pháp luật bằng cách chuyển hoá
mô thức hành vi chung thành mô thức cụ thể,
quan hệ pháp luật còn chuyển hoá các yêu
cầu đặt ra đối với chủ thể nhằm bảo đảm tính
hợp pháp của hành vi và sự phù hợp giữa
hành vi pháp luật với hành vi xE hội khác
b Quan hệ pháp luật có vai trò định
hướng, hỗ trợ việc xác lập trật tự và bảo đảm
cho sự vận động và phát triển của các quan
hệ x2 hội
Cơ chế điều chỉnh pháp luật không tồn
tại ngoài cơ chế điều chỉnh xE hội Trong quá
trình tác động tới các quan hệ xE hội, các yếu
tố của cơ chế điều chỉnh pháp luật cần tìm ra
sự tương hợp với các phương tiện điều chỉnh
khác nhằm nâng cao vai trò định hướng các
hoạt động xE hội
Thông qua sự tồn tại, vận động của quan
hệ pháp luật, các quan hệ xE hội khác cũng
có thể được bảo vệ khỏi bị xâm hại và phát
huy được giá trị xE hội đích thực của mình
Vì vậy, ghi nhận các nguyên tắc pháp lí cơ
bản nhằm định hướng cho việc thiết lập các
quan hệ pháp luật có vai trò tích cực là sự đòi
hỏi quan trọng không chỉ bảo vệ chính hệ thống quan hệ pháp luật mà còn bảo vệ cả hệ thống quan hệ xE hội nói chung Chẳng hạn:
“Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân
sự phải bảo đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, mỗi người vì cộng đồng, cộng đồng vì mỗi người và các giá trị đạo
đức cao đẹp của các dân tộc cùng sinh sống trên đất Việt Nam” (Điều 4 Luật hôn nhân
và gia đình) Nhà nước cũng có thể đưa ra những cấm đoán đối với những hoạt động có khả năng trực tiếp làm nguy hại hệ thống quan hệ xE hội truyền thống Ví dụ: “Cấm kinh doanh các ngành, nghề gây phương hại
đến quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn x2 hội, truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức, thuần phong mĩ tục Việt Nam và sức khoẻ nhân dân ” (Điều 6 Luật doanh nghiệp) Trong đời sống thực tiễn, các mô thức hành vi hợp pháp, tích cực có khả năng phổ biến hơn nếu được xE hội ghi nhận một cách tích cực về hiệu quả thực hiện quyền, nghĩa
vụ từ quan hệ pháp luật cụ thể Ngược lại, các mô thức hành vi bất hợp pháp có khả năng bị thu hẹp khi có nhiều người xa lánh, phản đối Điều này đòi hỏi nội dung của điều chỉnh pháp luật không thể thiếu nội dung giáo dục nhận thức về các mô thức hành vi pháp luật (bao gồm cả hành vi hợp pháp và bất hợp pháp) trong thực tiễn Chẳng hạn, việc xét xử lưu động của toà án không chỉ nói lên tính nghiêm minh của pháp luật, tính quyền lực của Nhà nước mà còn hàm chứa ý nghĩa này Mặt khác, trong các yếu tố kích thích sự hình thành và đảm bảo thực hiện các quan hệ pháp luật thì việc xây dựng những quy phạm chuẩn mực, có kĩ thuật cao, phù
Trang 5hợp với nhu cầu khách quan là rất quan
trọng Điều căn bản là tạo ra được sự tương
thích về các chuẩn mực xE hội - pháp luật để
tạo ra sự tương hợp về nội dung giữa quan hệ
xE hội và quan hệ pháp luật trong quá trình
điều chỉnh Sự hài hoà giữa mô thức hành vi
pháp luật và mô thức hành vi xE hội chỉ có
thể đạt được khi có sự gắn bó tương hỗ giữa
quy phạm pháp luật và các quy phạm xE hội
khác Chỉ có như vậy mới có thể nói tới vai
trò tích cực của pháp luật, quan hệ pháp luật
trong việc thúc đẩy quá trình phát triển của
hệ thống quan hệ xE hội Nhìn chung, ở đây
chúng ta đang xem xét quan hệ pháp luật
trong động thái tích cực, nghĩa là những
quan hệ pháp luật hình thành, vận động một
cách hợp pháp và có giá trị hữu ích Thực tế
cũng có những quan hệ pháp luật được hình
thành nhưng do vi phạm quy định pháp luật
về thủ tục, hình thức nên vai trò của nó chỉ
được thừa nhận từ góc độ xE hội, còn góc độ
pháp lí lại được thừa nhận muộn hơn hoặc bị
đánh giá ngược lại Chẳng hạn, việc toà án
thừa nhận quan hệ hôn nhân thực tế hoặc
truy nhận cha cho con ngoài giá thú
Tóm lại, cơ chế điều chỉnh pháp luật bao
gồm cả cơ chế xây dựng pháp luật, cơ chế
thực hiện, áp dụng pháp luật và cơ chế bảo
vệ pháp luật Việc hình thành các quan hệ
pháp luật trong mỗi loại hình cơ chế đó có
nhiệm vụ cụ thể và vai trò khác nhau nhất
định Để phát triển quan hệ pháp luật, về mặt
lí luận và thực tế không chỉ xem xét vai trò
tích cực, giá trị hữu ích mà cần thiết phải
xem xét cả mặt phản tác dụng của nó đối với
các nhân tố khác để có được các biện pháp
xử lí phù hợp
Để kích thích, hỗ trợ và bảo vệ sự phát
triển của các quan hệ xE hội, ngoài vị trí là
mắt xích trong cơ chế điều chỉnh pháp luật, quan hệ pháp luật còn được nhận diện như là phương tiện của việc điều chỉnh pháp luật, phương tiện tác động đến các quan hệ xE hội
có tính cách độc lập Như vậy ở đây, quan hệ pháp luật được xem xét tách rời khỏi nội dung thực tế, nó chỉ được coi như tổng thể các quyền và nghĩa vụ gắn với tình huống đE quy định Chúng ta có thể thấy sự khác biệt nhất định giữa "hoạt động" của quy phạm pháp luật với tính cách là quy định chung với việc thực hiện nó trong các quan hệ cụ thể Xét từ góc độ cụ thể, vai trò của quan hệ pháp luật phụ thuộc vị trí của nó trong từng giai đoạn của quá trình điều chỉnh pháp luật cũng như loại quan hệ pháp luật thực tế đó Mặc dù nằm trong cơ chế điều chỉnh pháp luật nhưng cũng có thể tách biệt quan hệ pháp luật với các yếu tố khác để nhận diện
được vai trò của nó được sâu sắc và đầy đủ hơn Xem xét vai trò quan hệ pháp luật từ thực tế phải gắn liền từng quan hệ thực tế có chủ thể, quyền, nghĩa vụ cụ thể Chẳng hạn, quan hệ pháp luật phát sinh từ việc đăng kí tạm trú, tạm vắng của phường A có ý nghĩa gì trong việc quản lí hành chính, hộ tịch ở
địa phương đó
Cũng có khi quan hệ pháp luật trong thực
tế là sự kiện pháp lí có liên quan đang được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết, vì vậy quan hệ này có thể phủ định quan hệ kia Việc nhận diện vai trò cụ thể của quan hệ pháp luật trong trường hợp này có phần phức tạp hơn Chẳng hạn, trong trường hợp bản án giám đốc thẩm huỷ án đE phát sinh hiệu lực (có thể là án sơ thẩm hoặc phúc thẩm) để xét
xử lại theo thủ tục sơ thẩm ban đầu thì một
số quan hệ pháp luật phát sinh trong giai
đoạn điều tra, truy tố và xét xử trước đó bị
Trang 6huỷ bỏ Cũng có khi quan hệ pháp luật trước
trở thành điều kiện, sự kiện pháp lí cho việc
hình thành quan hệ pháp luật sau, do đó vai
trò của mỗi loại quan hệ pháp luật cụ thể ở
đây hoàn toàn khác nhau
c Quan hệ pháp luật là cơ sở thực tế để
nhận thức giá trị x2 hội và kiểm nghiệm tính
đúng đắn của pháp luật
Có thể nói, giá trị của pháp luật thể hiện
trước hết và cơ bản nhất khi nó trở thành
công cụ điều chỉnh, trật tự hoá các quan hệ
xE hội Vì thế giá trị lớn nhất của pháp luật
chính là giá trị điều chỉnh và bảo vệ các quan
hệ xE hội Pháp luật điều chỉnh các quan hệ
xE hội, điều chỉnh hành vi của các chủ thể
theo định hướng, mục tiêu nhất định trên cơ
sở tác động tới ý thức của chủ thể Để hình
thành giá trị đó, ngoài những thuộc tính vốn
có của pháp luật thì những quy tắc khách
quan của cách xử sự hợp lí và các yêu cầu
điều chỉnh bằng pháp luật phải được hiện
thực hoá thông qua hành vi của chủ thể trong
các quan hệ pháp luật cụ thể Như vậy, quan
hệ pháp luật là cơ sở để nhận thức giá trị xE
hội của pháp luật Đời sống pháp lí là nơi mà
pháp luật phát huy giá trị đích thực của mình
thông qua hệ thống quan hệ pháp luật cụ thể
Tính đúng đắn của pháp luật được thể
hiện trước hết ở việc xác định chính xác đối
tượng điều chỉnh và sự phù hợp về mức độ
điều chỉnh, tác động Nhưng cơ bản và quyết
định vẫn phải xem xét hiệu quả pháp luật
trên thực tế Việc xem xét hiệu quả pháp luật
trên thực tế chỉ có thể thực hiện được khi gắn
với hành vi pháp lí, với quan hệ pháp luật cụ
thể Trước mỗi loại quan hệ pháp luật cụ thể,
tuỳ thuộc mức độ nhận thức và góc độ quan
sát, thông thường có hai khả năng đem lại:
Một là, chủ thể sẽ xem xét nội dung quan hệ
pháp luật đó nhằm giải đáp cho những vướng
mắc của mình, loại bỏ những cơ sở hành vi
có thể dẫn đến trái pháp luật hoặc tìm kiếm các khả năng tương tự để thiết lập, tham gia quan hệ pháp luật Đây là cách nhận thức, hiểu biết pháp luật phù hợp với nhiều đối tượng và càng cần thiết hơn khi cho rằng pháp luật ít đi vào đời sống thực tế và ít phát huy giá trị trên thực tế Tuy nhiên cách nhận thức này mang tính cục bộ, thụ động và thường phiến diện Hai là, khả năng chủ thể nhận thức cao hơn, toàn diện hơn bằng việc
đối chiếu nội dung quan hệ pháp luật cụ thể với nội dung các quy định của pháp luật có liên quan Khả năng này đem lại sự kiểm nghiệm về tính đúng đắn, mức độ hiện thực của pháp luật và sự phù hợp giữa pháp luật với điều kiện thực tế Mặc dù trong xây dựng pháp luật, người ta đE cố gắng khái quát nhu cầu thực tế để đưa ra những mô thức hành vi pháp luật thích hợp nhưng không phải là không có những lỗ hổng, mâu thuẫn và bất cập Do đó, việc xem xét thực trạng quan hệ pháp luật là một biện pháp góp phần kiểm tra giá trị thực tế của pháp luật Như vậy, quan
hệ pháp luật trở thành thước đo, cơ sở đánh giá chất lượng của hoạt động xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật Đây là vai trò, chức năng của quan
hệ pháp luật cần phải được coi trọng về mặt thực tiễn Đồng thời trong khoa học, việc nghiên cứu các mối quan hệ bên ngoài của
hệ thống pháp luật đòi hỏi phải xem xét mối quan hệ, sự tương tác hữu cơ với quan hệ pháp luật./
(1) ở đây quan niệm văn bản cá biệt rộng hơn văn bản áp dụng pháp luật (văn bản áp dụng pháp luật chỉ
là của một loại văn bản cá biệt)
(2) Đây là vấn đề phức tạp trong nhận thức luận, do khuôn khổ bài viết có hạn, tác giả xin trao đổi ở phần sau