1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo " Vấn đề thực hiện các cam kết quốc tế trong phạm vi lãnh thổ quốc gia " doc

6 682 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 108,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông thường, quốc gia giải quyết vấn đề này ngay trong các văn bản quy phạm pháp luật trong nước bằng cách ghi nhận hiệu lực ưu tiên thi hành của quy phạm pháp luật quốc tế so với quy p

Trang 1

ThS Nguyễn Kim Ngân * rong điều kiện hiện nay, khi giao lưu quốc

tế ngày càng mở rộng, sự tùy thuộc vào

nhau giữa các quốc gia ngày càng nhiều thì

việc tìm ra cơ chế phù hợp để thực hiện các

cam kết quốc tế trong phạm vi l(nh thổ quốc

gia ngày càng có ý nghĩa quan trọng

Nghĩa vụ tự nguyện thực hiện các cam kết

quốc tế đ( được ghi nhận trong rất nhiều văn

bản pháp lí quốc tế như Hiến chương Liên hợp

quốc, Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế

năm 1969, Công ước Montevideo về các quyền

và nghĩa vụ cơ bản của quốc gia năm 1933

Đồng thời, nghĩa vụ này cũng được quy định

trong các văn bản quy phạm pháp luật trong

nước do quốc gia ban hành

Điều 23 Pháp lệnh về kí kết và thực hiện

điều ước quốc tế năm 1998 của Việt Nam quy

định: "Nước Cộng hòa x( hội chủ nghĩa Việt

Nam nghiêm chỉnh tuân thủ điều ước quốc tế

mà mình đ( kí kết đồng thời đòi hỏi các bên kí

kết khác cũng nghiêm chỉnh tuân thủ điều ước

quốc tế đ( được kí kết với nước Cộng hòa x(

hội chủ nghĩa Việt Nam"

Mặc dù nguyên tắc tự nguyện thực hiện

các cam kết quốc tế đ( được ghi nhận là một

trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật

quốc tế song pháp luật quốc tế chỉ dừng lại ở

việc xác định nghĩa vụ cho quốc gia là phải

đảm bảo thực thi các cam kết quốc tế trong

phạm vi l(nh thổ quốc gia mình, còn việc

thực hiện các cam kết đó theo cách thức và

trình tự như thế nào lại hoàn toàn do quốc gia

quyết định

Hiện nay, các quốc gia có quan điểm rất khác nhau về việc thực hiện cam kết quốc tế trong phạm vi l(nh thổ quốc gia Ngay trong giới nghiên cứu khoa học pháp lí Việt Nam cũng tồn tại nhiều ý kiến trái ngược nhau Xung quanh vấn đề này có một số quan điểm chủ yếu sau:

1 Quan điểm chuyển hóa (Doctrine of transformation)

Xuất phát từ lập luận pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hệ thống pháp luật

độc lập, song song cùng tồn tại, quan điểm này cho rằng điều ước quốc tế và tập quán quốc tế - hai hình thức pháp lí chủ yếu chứa đựng các nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc tế không thể được áp dụng như văn bản quy phạm pháp luật quốc gia Điều ước quốc tế và tập quán quốc tế không có hiệu lực thi hành trực tiếp trong phạm vi l(nh thổ quốc gia Muốn được

áp dụng trong phạm vi l(nh thổ quốc gia, điều

ước quốc tế và tập quán quốc tế phải được chuyển hóa thành các quy phạm pháp luật quốc gia Thông qua hành vi chuyển hóa, điều

ước quốc tế và tập quán quốc tế xuất hiện với những căn cứ áp dụng mới Theo căn cứ đó, các cá nhân và pháp nhân trong nước áp dụng

nó với tư cách là pháp luật quốc gia chứ không phải với tư cách là pháp luật quốc tế

T

* Giảng viên Khoa luật quốc tế Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

Việc chuyển hóa điều ước, tập quán quốc

tế vào pháp luật quốc gia có thể được thực hiện

theo hai cách:

+ Chuyển hóa riêng: Theo cách này, quốc

gia sẽ ban hành văn bản quy phạm pháp luật

mới hoặc sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm

pháp luật hiện hành nhằm cụ thể hóa điều ước

quốc tế, tập quán quốc tế Trong trường hợp

này, điều ước quốc tế, tập quán quốc tế được

chuyển hóa thành các quy định tương ứng của

pháp luật trong nước

Ví dụ: Pháp lệnh về quyền ưu đ(i và miễn

trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ

quan l(nh sự, cơ quan đại diện của tổ chức

quốc tế tại Việt Nam năm 1993 là văn bản đ(

chuyển hóa vào pháp luật Việt Nam các quy

định của Công ước Viên về quan hệ ngoại giao

năm 1961, Công ước Viên về quan hệ l(nh sự

năm 1963 và Công ước Viên về các quyền ưu

đ(i miễn trừ dành cho Liên hợp quốc năm

1946 mà Việt Nam đ( tham gia

Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng chuyển

hóa thông qua cách thức này không phải là sự

sao chép lại pháp luật quốc tế vào pháp luật

quốc gia Thực chất đây là quá trình đưa quy

định của pháp luật quốc tế vào pháp luật quốc

gia trên cơ sở chủ quyền và những điều kiện cụ

thể của quốc gia nhằm thực hiện tốt các cam

kết quốc tế Việc chuyển hóa bằng cách này

không phải lúc nào cũng nhanh chóng, kịp thời

bởi lẽ nó phải trải qua quy trình lập pháp, lập

quy của mỗi quốc gia và cũng không thể

chuyển hóa một cách đầy đủ được Nhưng

không phải vì không được chuyển hóa đầy đủ

mà pháp luật quốc tế không được thực hiện

Thông thường, quốc gia giải quyết vấn đề này

ngay trong các văn bản quy phạm pháp luật

trong nước bằng cách ghi nhận hiệu lực ưu tiên

thi hành của quy phạm pháp luật quốc tế so với

quy phạm pháp luật quốc gia + Chuyển hoá chung: Theo cách này, toàn

bộ điều ước quốc tế mà quốc gia kí kết hoặc tham gia và tập quán quốc tế mà quốc gia thừa nhận được chuyển hóa chung chỉ bằng một văn bản mà không cần phải ban hành các văn bản quy phạm pháp luật riêng Quy định nhằm chuyển hóa điều ước quốc tế và tập quán quốc

tế có thể được ghi nhận ngay trong Hiến pháp hoặc bất kì văn bản quy phạm pháp luật nào của quốc gia

Điều 25 Luật cơ bản Cộng hòa Liên bang

Đức quy định: "Các quy định của pháp luật quốc tế sẽ là một phần của pháp luật liên bang Chúng có vị trí cao hơn luật và sẽ tạo nên các quyền và nghĩa vụ cho những người sống trên l(nh thổ liên bang"

Điều 55 Hiến pháp Cộng hoà Pháp năm

1958 quy định: “Công ước và Hiệp định đ

được phê chuẩn hoặc phê duyệt theo đúng quy

định có hiệu lực cao hơn luật kể từ ngày công

bố, với điều kiện Công ước hoặc Hiệp định đó cũng được bên kia thực hiện”

Với những quy định nêu trên, các quốc gia

đ( chuyển hóa vào pháp luật nước mình các

điều ước quốc tế mà các quốc gia này đ( kí kết hoặc tham gia và tập quán quốc tế mà các quốc gia này thừa nhận

2 Quan điểm hợp nhất (Doctrine of incorporation)

Trái với quan điểm chuyển hóa, xuất phát

từ quan niệm pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai bộ phận của hệ thống pháp luật chung, quan điểm hợp nhất cho rằng không cần thiết phải ban hành văn bản pháp luật quốc gia như là chiếc cầu nối giữa điều ước quốc tế, tập quán quốc tế và việc áp dụng nó ở trong nước Theo quan điểm này, điều ước quốc tế và tập quán quốc tế được coi là bộ phận của pháp

Trang 3

luật quốc gia và có hiệu lực thi hành trực tiếp

trong phạm vi l(nh thổ quốc gia

Thực tiễn hiện nay cho thấy, có nhiều

điều ước quốc tế, tập quán quốc tế được áp

dụng trực tiếp trong phạm vi l(nh thổ quốc

gia mà không cần phải ban hành văn bản quy

phạm pháp luật trong nước để chuyển hóa

chúng Chẳng hạn như việc áp dụng các tập

quán thương mại quốc tế, áp dụng các điều

ước quốc tế được kí kết trong khuôn khổ

Liên minh châu Âu

Như vậy, các quốc gia có những quan điểm

khác nhau trong việc thực hiện cam kết quốc tế

trong phạm vi l(nh thổ quốc gia Vấn đề này

ảnh hưởng ít nhiều đến việc các quốc gia tổ

chức thực hiện cam kết quốc tế

Xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng chủ

quyền quốc gia, pháp luật quốc tế không hề ấn

định cách thức thực hiện cam kết quốc tế trong

phạm vi l(nh thổ quốc gia Việc thực hiện cam

kết quốc tế bằng cách nào thuộc thẩm quyền

riêng của mỗi quốc gia Mỗi quốc gia, căn cứ

vào lợi ích và điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của

mình mà có quy định cần thiết về điều ước

quốc tế, tập quán quốc tế trong mối quan hệ

với pháp luật quốc gia Một số quốc gia quy

định hiệu lực thi hành trực tiếp của điều ước

quốc tế, tập quán quốc tế trong phạm vi l(nh

thổ quốc gia; có quốc gia lại đòi hỏi phải

chuyển hóa điều ước quốc tế, tập quán quốc tế

bằng đạo luật do cơ quan lập pháp ban hành

hoặc quyết định của tòa án; một số quốc gia

khác lại kết hợp cả hai cách thức

Bên cạnh những tranh luận về cách thức

thực hiện các cam kết quốc tế trong phạm vi

l(nh thổ quốc gia nêu trên, có vấn đề cũng gây

nhiều tranh c(i đó là điều ước quốc tế, tập quán

quốc tế có vị trí như thế nào so với văn bản quy

phạm pháp luật quốc gia

Trong quá trình thực hiện cam kết quốc tế trong phạm vi l(nh thổ quốc gia xảy ra không

ít trường hợp có sự xung đột giữa điều ước quốc tế, tập quán quốc tế và văn bản quy phạm pháp luật quốc gia Khi đó điều có ý nghĩa quyết định để giải quyết xung đột là phải xác

định được vị trí của điều ước quốc tế, tập quán quốc tế so với văn bản quy phạm pháp luật quốc gia Pháp luật quốc tế không quy định về

vị trí của điều ước quốc tế, tập quán quốc tế so với văn bản quy phạm pháp luật quốc gia Vì vậy, việc giải quyết vấn đề này trên thực tế rất phức tạp Thông thường, trong trường hợp điều

ước quốc tế, tập quán quốc tế được chuyển hóa riêng, tức là được chuyển hóa thông qua hành

vi ban hành văn bản mới hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản hiện hành thì vị trí của điều ước quốc tế, tập quán quốc tế được xác định bởi chính văn bản mới được ban hành hoặc văn bản mới được sửa đổi, bổ sung Trong trường hợp điều ước quốc tế, tập quán quốc tế được chuyển hóa chung hoặc được áp dụng một cách trực tiếp trong phạm vi l(nh thổ quốc gia thì vấn đề khó giải quyết hơn nhiều Một số quốc gia như Pháp, Đức đ( chính thức quy

định quy phạm pháp luật quốc tế nói chung và

điều ước quốc tế nói riêng có vị trí sau Hiến pháp và trên các đạo luật Bởi vậy, pháp luật của các nước này không cho phép kí kết hoặc tham gia điều ước quốc tế cũng như không thừa nhận tập quán quốc tế có nội dung trái với hiến pháp của họ Trong trường hợp quốc gia muốn kí kết hoặc tham gia điều ước quốc tế có những quy định trái với hiến pháp thì họ phải sửa đổi hiến pháp trước khi quyết định việc kí kết hoặc tham gia điều ước đó Các cuộc trưng cầu dân ý về việc sửa đổi hiến pháp để tham gia Hiệp ước Mátxtrich thành lập Liên minh châu

Âu diễn ra ở các nước Tây - Bắc Âu trong vài

Trang 4

năm qua đ( chứng minh điều đó

Một số quốc gia khác lại quy định điều ước

quốc tế có vị trí cao hơn văn bản quy phạm

pháp luật trong nước, kể cả hiến pháp Chẳng

hạn như ở Italia, trước đây, Tòa án hiến pháp

Italia giữ quan điểm về giá trị ưu thế của Hiến

pháp Italia so với điều ước quốc tế Nhưng gần

đây, Tòa án hiến pháp Italia lại cho rằng điều

ước quốc tế, đặc biệt là các điều ước được kí

kết trong khuôn khổ Liên minh châu Âu, có

giá trị cao hơn pháp luật của Italia, kể cả hiến

pháp Tuy nhiên, chỉ có Tòa án hiến pháp Italia

mới có thẩm quyền quyết định về vấn đề này

Mặc dù có quy định khác nhau về vị trí của

điều ước, tập quán quốc tế so với văn bản quy

phạm pháp luật quốc gia song nhìn chung các

quốc gia đều thừa nhận hiệu lực ưu tiên thi

hành của điều ước quốc tế so với đạo luật trong

nước Điều này hoàn toàn phù hợp với một

trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật

quốc tế nói chung, của Luật điều ước quốc tế

nói riêng, đó là nguyên tắc tự nguyện thực hiện

các cam kết quốc tế

Đối với Việt Nam, là đất nước có hệ thống

pháp luật đang phát triển ở trình độ thấp và

đang trong quá trình chuyển đổi nhưng đ(

phải thích nghi với những "luật chơi chung"

của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu

vực Vấn đề đặt ra là phải tìm ra cơ chế phù

hợp để thực hiện các cam kết quốc tế trong

phạm vi l(nh thổ Việt Nam nhằm phục vụ mục

tiêu phát triển đất nước trên cơ sở nội lực là

chính đồng thời tranh thủ có hiệu quả các

nguồn lực từ bên ngoài

Hiện nay, pháp luật Việt Nam mới chỉ quy

định về một số vấn đề liên quan đến trình tự kí

kết điều ước quốc tế, hiệu lực ưu tiên thi hành

của điều ước quốc tế so với văn bản quy phạm

pháp luật trong nước và việc áp dụng tập quán

quốc tế chứ chưa có quy định cụ thể về cơ chế thực hiện các cam kết quốc tế phát sinh từ pháp luật quốc tế nói chung, từ điều ước quốc

tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia nói riêng Điều này gây khó khăn không nhỏ cho việc thực hiện các cam kết quốc tế trong phạm

vi l(nh thổ Việt Nam

Thực tiễn những năm qua cho thấy, điều

ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia

và tập quán quốc tế mà Việt Nam thừa nhận

được thực hiện theo quy trình rất khác nhau Một số điều ước quốc tế song phương trong lĩnh vực thương mại, đầu tư, thuế ngay sau khi được Chủ tịch nước phê chuẩn hoặc Chính phủ phê duyệt hoặc ngay sau khi được hai bên

kí chính thức là đ( có hiệu lực thi hành trực tiếp trên l(nh thổ Việt Nam mà không cần phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong nước để chuyển hoá chúng Song, bên cạnh đó lại có những điều ước quốc tế, tập quán quốc tế khác chỉ có hiệu lực thi hành sau khi đ( được chuyển hóa vào pháp luật Việt Nam thông qua việc ban hành, sửa đổi hoặc bổ sung văn bản quy phạm pháp luật trong nước Chẳng hạn như các điều ước, tập quán quốc tế trong lĩnh vực môi trường, ngoại giao l(nh sự

Qua phân tích các quy định pháp luật cũng như thực tiễn của Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết quốc tế cho thấy còn nhiều điều bất cập mà chúng ta cần phải nghiên cứu xem xét để tìm ra biện pháp giải quyết phù hợp

* Thứ nhất, về cơ chế thực hiện điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia và tập quán quốc tế mà Việt Nam thừa nhận Vấn đề thực hiện điều ước quốc tế và tập quán quốc tế quả là vấn đề phức tạp cả về lí luận lẫn thực tiễn Có quan điểm cho rằng nên quy định điều ước quốc tế và tập quán quốc tế

Trang 5

chỉ có hiệu lực thi hành trên l(nh thổ Việt Nam

sau khi đ( được chuyển hóa vào pháp luật Việt

Nam thông qua việc ban hành, sửa đổi hoặc bổ

sung các văn bản quy phạm pháp luật trong

nước Quan điểm này không phù hợp với thực

tiễn Việt Nam hiện nay Cùng với quá trình hội

nhập kinh tế quốc tế và khu vực, số lượng điều

ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia

cũng như tập quán quốc tế mà Việt Nam thừa

nhận ngày càng gia tăng Nếu như tất cả điều

ước quốc tế, tập quán quốc tế đều phải được

chuyển hóa thông qua việc ban hành, sửa đổi

hoặc bổ sung văn bản quy phạm pháp luật

trong nước thì đó sẽ là một gánh nặng rất lớn

đặt lên vai các cơ quan lập pháp của Việt Nam

Các cơ quan này sẽ không có đủ thời gian cũng

như không có khả năng để chuyển hóa tất cả

điều ước quốc tế và tập quán quốc tế đó

Kinh nghiệm của một số quốc gia cũng

như thực tiễn của Việt Nam trong thời gian qua

cho thấy, không nên coi việc ban hành, sửa đổi

hoặc bổ sung văn bản quy phạm pháp luật

trong nước để chuyển hóa nội dung điều ước

quốc tế, tập quán quốc tế vào pháp luật Việt

Nam là cách duy nhất để thực hiện điều ước,

tập quán đó Chúng ta có thể học tập kinh

nghiệm của Pháp, Đức hoặc Nga là bằng

điều khoản cụ thể ghi nhận trong hiến pháp

hoặc trong văn bản quy phạm pháp luật, các

quốc gia này đ( tiến hành chuyển hóa chung

các điều ước quốc tế và tập quán quốc tế

của họ mà không cần phải ban hành các văn

bản chuyển hóa riêng đối với mỗi điều ước,

tập quán

Tuy nhiên, vấn đề quan trọng nhất hiện

nay của Việt Nam không phải là tìm ra phương

pháp chuyển hóa tối ưu để đưa điều ước quốc

tế, tập quán quốc tế vào pháp luật Việt Nam,

bởi lẽ "chuyển hóa" thực chất chỉ là một trong

những cách thức mà thông qua đó điều ước

quốc tế, tập quán quốc tế được thực hiện trong phạm vi l(nh thổ quốc gia Điều cốt lõi ở đây

là phải thiết lập cơ chế thực hiện điều ước, tập quán một cách linh hoạt và mềm dẻo để sao cho việc triển khai thực hiện điều ước, tập quán diễn ra nhanh chóng, kịp thời và mang lại hiệu quả cao Trên tinh thần đó, nên chăng chúng ta tiến hành phân loại điều ước, tập quán dựa trên nội dung và tầm quan trọng của chúng để tìm

ra cơ chế thực hiện phù hợp Chẳng hạn như

đối với những điều ước, tập quán trong lĩnh vực thương mại, đầu tư, thuế mà nội dung của chúng quy định khá rõ ràng quyền và nghĩa vụ của các bên thì sẽ có hiệu lực thi hành trực tiếp trên l(nh thổ Việt Nam sau khi đ( được các bên kí chính thức, phê chuẩn, phê duyệt hoặc công bố Còn đối với những điều ước, tập quán

có tầm quan trọng đặc biệt hoặc có những quy

định không rõ ràng thì để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện điều ước, tập quán, chúng ta cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong nước để hướng dẫn hoặc cụ thể hóa nội dung của điều ước quốc tế, tập quán quốc tế đó Các quy định về cơ chế thực hiện điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia và tập quán quốc tế mà Việt Nam thừa nhận nên

được đưa vào trong điều khoản sửa đổi, bổ sung của Pháp lệnh về kí kết và thực hiện điều

ước quốc tế năm 1998 hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 của Việt Nam Việc quy định cụ thể cơ chế thực hiện điều ước quốc tế, tập quán quốc tế trong văn bản quy phạm pháp luật trong nước một mặt sẽ giảm bớt gánh nặng cho công tác lập pháp, lập quy của Nhà nước ta vốn lâu nay

đ( quá đồ sộ và bận rộn, mặt khác sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng và thực thi điều

ước quốc tế, tập quán quốc tế trong phạm vi l(nh thổ Việt Nam

* Thứ hai, về vị trí của điều ước quốc tế

Trang 6

mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia và tập quán

quốc tế mà Việt Nam thừa nhận trong hệ thống

văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam

Có quan điểm cho rằng, điều ước quốc tế

mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia có vị trí thứ

hai sau Hiến pháp và trên các luật, bộ luật

Quan điểm dựa trên một số quy định hiện

hành của pháp luật Việt Nam

Điều 146 Hiến pháp năm 1992 quy định:

"Hiến pháp nước Cộng hòa x hội chủ nghĩa

Việt Nam là luật cơ bản của Nhà nước, có

hiệu lực pháp lí cao nhất Mọi văn bản pháp

luật khác phải phù hợp với Hiến pháp"

Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh về kí kết và

thực hiện điều ước quốc tế năm 1998 quy định:

"Điều ước quốc tế được kí kết trên cơ sở tôn

trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lnh thổ

quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ

của nhau, bình đẳng và cùng có lợi, phù hợp

với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật

quốc tế và các quy định của Hiến pháp nước

Cộng hòa x hội chủ nghĩa Việt Nam" Tương

tự khoản 2 Điều 827 Bộ luật dân sự của nước

Cộng hòa x( hội chủ nghĩa Việt Nam quy

định: "Trong trường hợp điều ước quốc tế mà

Cộng hòa x hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết

hoặc tham gia có quy định khác với quy định

của Bộ luật này, thì áp dụng quy định của điều

ước quốc tế"

Như vậy, quan điểm cho rằng điều ước

quốc tế có vị trí thứ hai sau Hiến pháp và

trên các luật, Bộ luật cũng chỉ là sự suy đoán

từ quy định hiện hành của các văn bản quy

phạm pháp luật Việt Nam chứ chưa có cơ sở

pháp lí chắc chắn Nếu chúng ta chỉ suy đoán

về mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và

pháp luật Việt Nam từ những quy định còn

chung chung của pháp luật thì chưa hợp lí và

chưa có sức thuyết phục

Kinh nghiệm của một số nước như Cộng hòa

Pháp, Liên bang Nga cho thấy, mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia sẽ

được xác định một cách rõ ràng, cụ thể hơn nếu như trong Hiến pháp có riêng điều khoản

đề cập mối quan hệ đó Chúng ta nên học tập kinh nghiệm của những nước này để đưa vào Hiến pháp những quy định cụ thể về mối quan

hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam trong đó có đề cập vị trí điều ước quốc tế, tập quán quốc tế trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam

Việc xác định rõ vị trí của điều ước, tập quán quốc tế trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam có thể đạt được những mục

đích sau:

- Làm cho các cơ quan nhà nước, các cá nhân và pháp nhân nhận thức được đầy đủ nghĩa vụ phải tuân thủ, thực hiện, áp dụng điều

ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia cũng như tập quán quốc tế mà Việt Nam đ( thừa nhận

- Tạo cơ sở pháp lí để khẳng định một cách dứt khoát nguyên tắc điều ước quốc tế và tập quán quốc tế chỉ có hiệu lực trên l(nh thổ Việt Nam nếu không có nội dung trái với Hiến pháp Việt Nam

Với những giải pháp bước đầu đó, có thể việc thực hiện các cam kết quốc tế phát sinh từ pháp luật quốc tế nói chung, từ điều ước quốc

tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia nói riêng

sẽ diễn ra theo một quy trình thống nhất và

điều quan trọng hơn nữa là Việt Nam có thể

đảm bảo thực hiện nhanh chóng, kịp thời các cam kết quốc tế của mình Qua đó thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với các quốc gia trên thế giới nhằm góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hóa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đ( đề ra./

Ngày đăng: 21/02/2014, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w