Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xG tín dụng và công ti tài chính được Hội đồng nhà nước thông qua ngày 23/05/1990 có hiệu lực từ ngày 01/10/1990 đG định nghĩa ngân hàng thương mại như sau:
Trang 1gân hàng thương mại là định chế tài chính
(financial institution) trung tâm và là định chế
quan trọng nhất về các tổ chức tín dụng Việc tìm
hiểu khái niệm pháp lí cùng với việc tìm hiểu lịch
sử phát triển của nó sẽ góp phần hiểu sâu sắc hơn
bản chất, chức năng và vai trò của ngân hàng
thương mại trong nền kinh tế Thông qua đó sẽ
cho chúng ta nhận diện sâu sắc hơn các yêu cầu
và nội dung của việc điều chỉnh pháp luật đối với
định chế tài chính quan trọng này
1 Khái niệm ngân hàng thương mại theo
Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và
công ti tài chính (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh
ngân hàng)
a Khái niệm ngân hàng chuyên doanh
Trước khi có Pháp lệnh ngân hàng, pháp luật
nước ta chưa quy định và đề cập khái niệm ngân
hàng thương mại Thực hiện chính sách đổi mới về
tổ chức và hoạt động của ngân hàng, Hội đồng bộ
trưởng đG ban hành Chỉ thị số 218/CT ngày
13/7/1987 cho phép ngân hàng thí điểm chuyển
sang hệ thống ngân hàng 2 cấp Nghị định số
53/HĐBT ngày 26/3/1988 được coi là bước khởi
đầu đột phá để chuyển đổi qua hệ thống ngân
hàng 2 cấp, lần đầu tiên đG đề cập khái niệm
ngân hàng chuyên doanh Theo Điều 3 Nghị
định số 53/HĐBT, các ngân hàng chuyên doanh
là tổ chức kinh doanh trực tiếp; có tư cách pháp
nhân; bình đẳng trong quan hệ kinh doanh đối
với các đơn vị và các thành phần kinh tế từ cơ sở
và trong hệ thống mỗi ngân hàng chuyên doanh
Các ngân hàng chuyên doanh có nhiệm vụ và
quyền hạn sau đây:
- Tổ chức kinh doanh về tín dụng và dịch vụ
ngân hàng; về ngoại hối, vàng bạc, kim khí quí,
đá quý trong nước và ngoài nước theo pháp luật;
- Huy động và khai thác các nguồn vốn nhàn rỗi bằng những biện pháp kinh tế năng động, có hiệu quả (kể cả cổ phần, cổ phiếu ); thực hiện cho vay vốn hoặc hùn vốn khi cần thiết đối với các thành phần kinh tế
- Thực hiện cấp phát và cho vay vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo kế hoạch nhà nước và trong phạm vi nguồn vốn ngân sách nhà nước chuyển sang
Vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là tại Nghị định số 53 HĐBT, lần đầu tiên các nghiệp
vụ của ngân hàng thương mại được pháp luật
điều chỉnh và hoạt động của ngân hàng thương mại được thể hiện dưới khái niệm “ngân hàng chuyên doanh” Có thể coi Nghị định số 53/HĐBT là bước chuyển biến quan trọng trong việc chuyển từ hệ thống ngân hàng một cấp thành hệ thống ngân hàng hai cấp, coi đó là khâu
đột phá trong công cuộc đổi mới cơ chế hoạt
động của ngân hàng Tuy nhiên, việc đổi mới thời kì này còn chậm, thiếu đồng bộ thống nhất nên ngành ngân hàng vẫn buộc phải sử dụng một
số cơ chế cũ, thể hiện dấu ấn của thời kì quá độ trong quản lí kinh tế
b Khái niệm ngân hàng thương mại theo Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác x tín dụng và công ti tài chính năm 1990
Về mặt lịch sử, ngân hàng thương mại (Commercial Bank) hay còn gọi là ngân hàng kí thác (Deposit Bank) thuộc loại ngân hàng ra đời sớm nhất Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau song hầu hết các nhà kinh tế và các luật gia đều
N
* Ngân hàng ngoại thương Việt Nam
Trang 2có thể nhất trí với nhau ở điểm chung là khái
niệm ngân hàng thương mại được sử dụng để chỉ
tổ chức làm chức năng thu nhận tiền gửi của
công chúng và đem số tiền đó để cho người
khác vay
Do việc đưa ra định nghĩa về ngân hàng rất
phức tạp nên pháp luật các nước thường nêu ra
một số khía cạnh sau đây để phân biệt các hoạt
động ngân hàng với các hoạt động khác:
- Các thao tác giao dịch ngân hàng (còn gọi
là các thao tác nghiệp vụ ngân hàng);
- Các thao tác giao dịch phi ngân hàng
nhưng gắn với hoạt động ngân hàng;
- Các tổ chức được làm các thao tác giao
dịch đó khi được phép của cơ quan có thẩm
quyền Trong số các thao tác nghiệp vụ ngân
hàng kể trên thì các hoạt động nghiệp vụ của nó
chủ yếu là:
+ Thu nhận tiền gửi của dân cư, chủ yếu là
tiền gửi ngắn hạn (tổ chức, cá nhân) và có hoàn
trả
+ Cấp tín dụng cho người đi vay dưới nhiều
hình thức khác nhau
+ Làm trung gian thanh toán và quản lí các
phương tiện thanh toán
Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xG tín dụng và
công ti tài chính được Hội đồng nhà nước thông
qua ngày 23/05/1990 (có hiệu lực từ ngày
01/10/1990) đG định nghĩa ngân hàng thương
mại như sau:
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh
tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là
nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm
hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực
hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện
thanh toán
Cũng theo Pháp lệnh ngân hàng, hệ thống
ngân hàng thương mại của nước ta bao gồm ngân
hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng thương
mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài Ngoài ra, Pháp lệnh ngân
hàng còn định nghĩa và quy định về một số loại
hình tổ chức tín dụng khác nữa như ngân hàng
đầu tư và phát triển, hợp tác xG tín dụng, công ti tài chính
Từ định nghĩa trên của Pháp lệnh ngân hàng, ta thấy rằng theo pháp luật, ngân hàng thương mại Việt Nam có những đặc trưng cơ bản:
- Là tổ chức kinh doanh (doanh nghiệp) hoạt
động trong lĩnh vực tiền tệ;
- Có phạm vi hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng (bao gồm các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, xG hội
và dân cư và có trách nhiệm hoàn trả); và
- Sử dụng nguồn tiền gửi đó để cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán Các đặc trưng cơ bản nêu trên của ngân hàng thương mại Việt Nam theo Pháp lệnh Ngân hàng
1990 đG phản ánh tương đối bao quát các khía cạnh pháp lí của định nghĩa về ngân hàng thương mại trong thực tiễn hoạt động ngân hàng của các nước trên thế giới
Thứ nhất, là một tổ chức kinh doanh (doanh nghiệp) hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ nên ngân hàng thương mại là tổ chức có đầy đủ tư cách pháp nhân theo các điều kiện quy định của pháp luật Tư cách pháp nhân này phản ánh rõ nét địa vị pháp lí của ngân hàng thương mại, cho phép ngân hàng thương mại có quyền tự chủ trong kinh doanh, quyết định một cách độc lập không phụ thuộc vào ý chí của tổ chức, cá nhân khác Thẩm quyền kinh tế của ngân hàng thương mại được quy định trong các văn bản pháp luật và chủ yếu phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh, thông qua các quyết định của mình phù hợp với mục đích, lĩnh vực và phạm vi hoạt động đG được xác định
Việc xác định tư cách pháp nhân cho ngân hàng thương mại nói riêng và tổ chức tín dụng nói chung thường được pháp luật coi là một trong số các yêu cầu hàng đầu trong việc tạo cơ
sở pháp lí cho hoạt động của chúng trong thực tiễn Hầu hết pháp luật các nước đều quy định về vấn đề này, chẳng hạn, Luật về ngành tín dụng
Trang 3Đức 1992 (Điều 1), hay như Luật ngân hàng Ba
Lan 1989 (Điều 2.1) Luật về các tổ chức tài
chính và ngân hàng Malaysia 1989 đG xác định
tư cách pháp nhân của ngân hàng thương mại
ngay ở Phần I - Phần mở đầu: “Ngân hàng”
nghĩa là một pháp nhân thực hiện hoạt động kinh
doanh ngân hàng”.(1)
Thứ hai, về phạm vi hoạt động và nghiệp vụ
ngân hàng chủ yếu của ngân hàng thương mại
cũng đG được Pháp lệnh ngân hàng chỉ ra Quy
định này cũng được hầu hết pháp luật các nước ghi
nhận trong pháp luật ngân hàng của họ (Điều 2
Luật ngân hàng thương mại của nước Cộng hoà
nhân dân Trung Hoa 1995)(2)
Đây là lần đầu tiên pháp luật nước ta đưa ra
định nghĩa và các đặc trưng pháp lí của ngân
hàng thương mại Tuy nhiên, thực tiễn qua một
số năm triển khai hai pháp lệnh ngân hàng cũng
đG bộc lộ một số hạn chế và bất cập về định chế
ngân hàng thương mại Một số quy định chưa đủ
và rõ ràng, chưa cụ thể (như tư cách pháp nhân
Việt Nam của tổ chức tín dụng nước ngoài) hoặc
không còn phù hợp (như quy định về tỉ lệ hùn
vốn mua cổ phần của tổ chức kinh tế khác, mức
huy động vốn so với vốn tự có và quỹ dự trữ )
2 Khái niệm ngân hàng thương mại theo
Luật các tổ chức tín dụng 1997
Ngân hàng thương mại là tổ chức trung gian
tài chính có vị trí quan trọng nhất trong nền kinh
tế thị trường Theo giáo sư Peter S.Rose (Hoa Kì)
thì “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính
cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa
dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch
vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài
chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh
nào trong nền kinh tế”.(3) Điều này thể hiện rõ
qua phạm vi, quy mô, vai trò của nó trên thị
trường tiền tệ, ảnh hưởng của nó đối với sự phát
triển nền kinh tế của một nước Đó là một trong
những lí do quan trọng nhất mà luật pháp các
nước đều quan tâm xem xét và điều chỉnh khá
chặt chẽ Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào điều kiện lịch
sự cụ thể, điều kiện chính trị, kinh tế xG hội và truyền thống lập pháp của từng nước mà pháp luật về ngân hàng có những điểm đặc thù về tổ chức và hoạt động Trước khi đi vào xem xét loại hình và mô hình ngân hàng thương mại theo Luật các tổ chức tín dụng 1997, cần đề cập một số mô hình điển hình về ngân hàng thương mại của các nước Nhìn chung, cho đến nay, việc tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại ở các nước phát triển trên thế giới được xây dựng theo 3 mô hình dưới đây:
- Mô hình ngân hàng thương mại kinh doanh tổng hợp đa năng: Tồn tại khá phổ biến ở CHLB
Đức, Hà lan Theo mô hình này, pháp luật các nước không có sự quy định phân biệt giữa hoạt
động kinh doanh tổng hợp truyền thống với các hoạt động xuất hiện sau này như chứng khoán, bảo hiểm
- Mô hình ngân hàng thương mại đa năng theo kiểu Anh, Australia, Canada, ở các nước này, pháp luật cho phép các ngân hàng thương mại được kinh doanh đa năng (bao gồm các hoạt
động ngân hàng truyền thống và cả các nghiệp
vụ chứng khoán, bảo hiểm) trên cơ sở và thông qua việc các Ngân hàng thương mại thành lập các công ti con có tư cách pháp nhân để kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm
- Mô hình ngân hàng thương mại chuyên doanh: Ngân hàng thương mại ở các nước như
Mĩ, Nhật được xây dựng theo mô hình này
được pháp luật xác định rõ phạm vi kinh doanh của nó phải tách biệt giữa hoạt động ngân hàng với hoạt động chứng khoán và bảo hiểm Tuy nhiên, có một thực tế cần lưu ý là sau những biến
động của các thời kì phát triển kinh tế, các ngân hàng thương mại cả ở Mĩ và Nhật ngày càng tham gia nhiều hơn vào hoạt động chứng khoán
và có xu hướng phát triển theo mô hình ngân hàng đa năng kiểu Anh.(4)
a Về khái niệm ngân hàng thương mại theo
Trang 4Luật các tổ chức tín dụng và Nghị định 49 ngày
12/9/2000
Luật các tổ chức tín dụng (được Quốc hội
Cộng hòa xG hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua
12/12/1997 và có hiệu lực từ 1/10/1998) đG kế
thừa chế định ngân hàng thương mại trong
Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xG tín dụng và
công ti tài chính khác và nâng lên một bước
phát triển mới trong các quy định về ngân
hàng thương mại
Theo Điều 20 của Luật các tổ chức tín dụng
thì tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành
lập theo quy định của pháp luật để hoạt động
kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với
nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp
tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được
thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các
hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo
tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình
ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân
hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng
chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình
ngân hàng khác Cũng theo Luật này thì hoạt
động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ
và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên
là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín
dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán
Như vậy, mặc dù Luật các tổ chức tín dụng
không trực tiếp và chính thức đưa ra định nghĩa
về ngân hàng thương mại nhưng đG gián tiếp đề
cập các nội dung chính của định nghĩa về ngân
hàng thương mại thông qua định nghĩa “Ngân
hàng” và định nghĩa “hoạt động ngân hàng”
Khái niệm ngân hàng thương mại đG được đề cập
và định nghĩa rõ ràng trong Nghị định số
49/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 của Chính phủ về
tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại
ngay trong Điều 1 như sau:
“Ngân hàng thương mại là ngân hàng được
thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các
hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục
tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước”
Qua định nghĩa nêu trên của Luật các tổ chức tín dụng và Nghị định 49 ta thấy ngân hàng thương mại có các đặc điểm như sau:
- Là ngân hàng tiến hành các hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng;
- Nội dung hoạt động thường xuyên và chủ yếu của nó là nhận tiền gửi với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng tiền gửi này để cấp tín dụng;
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán và cung ứng các dịch vụ ngân hàng khác theo quy định
b So sánh hai định nghĩa về ngân hàng thương mại
Theo Pháp lệnh ngân hàng 1990 và theo Luật các tổ chức tín dụng, Nghị định 49 ta thấy
định nghĩa về ngân hàng thương mại theo Luật các tổ chức tín dụng, Nghị định 49 có bước phát triển cao hơn, bao quát được đầy đủ nội hàm cũng như bản chất của ngân hàng thương mại
Điều này thể hiện ở mấy điểm sau:
- Về tư cách và tính chất của loại hình doanh nghiệp:
+ Pháp lệnh Ngân hàng 1990 coi ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ
+ Luật các tổ chức tín dụng, Nghị định 49 coi ngân hàng thương mại là tổ chức hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng
- Về nội dung hoạt động:
+ Theo Pháp lệnh ngân hàng 1990 thì Ngân hàng thương mại có hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả, sử dụng số vốn đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán
+ Theo Luật các tổ chức tín dụng, Nghị
định 49 thì ngân hàng thương mại có hoạt
động thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng
số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán
Như vậy, nội dung hoạt động của ngân hàng
Trang 5thương mại theo Luật các tổ chức tín dụng, Nghị
định 49 rộng hơn so với Pháp lệnh ngân hàng
1990 ở chỗ hoạt động cấp tín dụng rộng hơn hoạt
động cho vay
Qua những phân tích trên đây ta thấy, so với
Pháp lệnh ngân hàng 1990, Luật các tổ chức tín dụng
đG có bước phát triển mới với quy định đầy đủ, tiến
bộ và khoa học hơn Điều này thể hiện ở chỗ:
- Các loại hình tổ chức tín dụng đG được đề
cập đầy đủ hơn:
+ ở Pháp lệnh Ngân hàng 1990, 4 loại hình
các tổ chức tín dụng được đề cập chỉ mới là
ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và phát
triển, hợp tác xG tín dụng và công ti tài chính
+ Đến Luật các tổ chức tín dụng ngoài ngân
hàng thương mại còn có ngân hàng phát triển,
ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân
hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác;
ngoài ngân hàng còn có các tổ chức tín dụng phi
ngân hàng như công ti tài chính, công ti cho thuê
tài chính, và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng
khác (như công ti đầu tư tín thác; quỹ tín dụng;
công ti dịch vụ tiết kiệm bưu điện )
- Việc phân loại các tổ chức tín dụng đG
khoa học hơn Theo Luật các tổ chức tín dụng thì
các tổ chức tín dụng được phân loại thành ngân
hàng và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng Mặt
khác, tuỳ theo tính chất và mục tiêu hoạt động
mà các ngân hàng được phân thành nhiều loại
hình ngân hàng khác nhau Việc phân biệt ngân
hàng với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng qua
nội dung hoạt động - tổ chức tín dụng phi ngân
hàng không được nhận tiền gửi không kì hạn,
không làm dịch vụ thanh toán đG làm rõ hơn bản
chất của ngân hàng nói chung và ngân hàng
thương mại nói riêng
Một điểm nữa là theo Luật các tổ chức tín
dụng, định hướng về mô hình tổ chức và hoạt
động của các ngân hàng thương mại cũng rõ hơn
so với Pháp lệnh ngân hàng 1990
+ Theo Pháp lệnh ngân hàng 1990 (Điều 32),
ngoài việc thực hiện các nghiệp vụ truyền thống, ngân hàng cũng còn được quyền thực hiện thêm một số nghiệp vụ giống công ti tài chính Đó là nghiệp vụ chứng khoán (cất giữ, mua, bán, chuyển nhượng, quản lí các chứng khoán và giấy
tờ có giá) và một số nghiệp vụ không mang tính thương mại thuần tuý (như cho thuê động sản và bất động sản, các nghiệp vụ về vàng, kim khí quý) Thực chất đây là hoạt động của ngân hàng thương mại theo mô hình đa năng Tuy nhiên, quy định này không phù hợp với thực tiễn hoạt
động ngân hàng ở nước ta, đặc biệt là trong giai
đoạn đầu thực hiện đổi mới ngân hàng
+ Đến Luật các tổ chức tín dụng, quan điểm
định hướng mô hình của ngân hàng thương mại
đG được xác định rõ hơn thông qua việc xây dựng
định nghĩa về ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng nhất là trong Nghị định số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động ngân hàng thương mại Theo Luật các
tổ chức tín dụng, việc xây dựng và phát triển mô hình ngân hàng thương mại sẽ theo định hướng
đa năng, tức là ngoài việc thực hiện các nghiệp
vụ truyền thống, ngân hàng thương mại Việt Nam còn được tham gia vào hoạt động chứng khoán, bảo hiểm thông qua việc thành lập công
ti trực thuộc có tư cách pháp nhân Định hướng này đG được cụ thể hoá qua việc pháp luật cho phép ngân hàng thương mại muốn tham gia kinh doanh chứng khoán phải thành lập công ti chứng khoán độc lập (Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/07/1998) hoặc là các ngân hàng thương mại
được quyền thành lập công ti cho thuê tài chính độc lập thực hiện các hoạt động kinh doanh cho thuê tài chính (Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001)
Từ những sự xem xét và phân tích trên đây, xuất phát từ quan điểm chỉ đạo, mục tiêu xây dựng Luật các tổ chức tín dụng và định hướng xây dựng mô hình ngân hàng thương mại Việt Nam, ta thấy ngân hàng thương mại theo Luật
Trang 6các tổ chức tín dụng và Nghị định 49 có một số
đặc điểm sau đây:
Một là, thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân
hàng (nhận tiền gửi, huy động vốn, cấp tín dụng,
cung ứng dịch vụ thanh toán) và các hoạt động
kinh doanh khác có liên quan Đặc trưng này
làm cho ngân hàng thương mại khác biệt với các
tổ chức tín dụng phi ngân hàng chỉ thực hiện một
số hoạt động ngân hàng
Hai là, tiến hành hoạt động huy động vốn và
cấp tín dụng ngắn hạn là chủ yếu đồng thời từng
bước chuyển dần sang các nghiệp vụ huy động
vốn và cấp tín dụng dài hạn, đáp ứng quy mô mở
rộng hoạt động kinh doanh của khách hàng và
nhu cầu vốn của nền kinh tế Đặc trưng này làm
cho ngân hàng thương mại khác với thị trường
chứng khoán và tạo ra mối quan hệ tương hỗ với
thị trường chứng khoán vì hoạt động cung cầu
vốn trong quan hệ giữa thị trường tiền tệ và thị
trường vốn
Ba là, theo tính chất và mục tiêu, hoạt động
của ngân hàng thương mại lấy lợi nhuận làm
mục tiêu và góp phần thực hiện mục tiêu của
Nhà nước là lợi ích kinh tế - xG hội Đặc trưng
này nhằm phân biệt ngân hàng thương mại với
ngân hàng chính sách và ngân hàng hợp tác
Chính đặc trưng này cũng đặt ra yêu cầu cần
sớm có quy định pháp luật tách hẳn tín dụng
chính sách ra khỏi tín dụng thương mại trong
nền kinh tế thị trường nhằm góp phần làm lành
mạnh hoá hoạt động ngân hàng
Bốn là, hệ thống ngân hàng thương mại Việt
Nam được xây dựng và thiết kế theo mô hình đa
sở hữu (thông qua các ngân hàng thương mại nhà
nước, ngân hàng thương mại hợp tác, ngân hàng
liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài,
ngân hàng thương mại cổ phần của Nhà nước và
của nhân dân) Do vậy, cùng một lúc ngân hàng
thương mại chịu sự điều chỉnh của Luật các tổ
chức tín dụng, Luật ngân hàng nhà nước và các
đạo luật tương ứng với hình thức sở hữu của loại
hình ngân hàng thương mại đó (như Luật doanh nghiệp nhà nước, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam) Đặc trưng này đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt
động ngân hàng đang vừa là công việc cấp bách vừa thường xuyên lâu dài trong hệ thống pháp luật về doanh nghiệp
Năm là, trong bối cảnh quốc tế hoá hoạt
động tài chính ngân hàng hiện nay, hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại có tính chất quốc tế rất cao với một công nghệ hiện đại
Đặc điểm này đặt ra nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện pháp luật ngân hàng phải đáp ứng yêu cầu bảo đảm chủ động phục vụ tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế trên cơ sở thừa nhận các nguyên tắc chung của pháp luật, tập quán quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng
Sáu là, hoạt động ngân hàng thương mại ở Việt Nam theo định hướng đa năng và kinh doanh tổng hợp và hoạt động trong lĩnh vực đặc thù là kinh doanh tiền tệ, tín dụng Do vậy, ngân hàng thương mại thuộc loại hình doanh nghiệp
có nhiều rủi ro nhất Đặc trưng này chỉ ra yêu cầu xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
điều chỉnh hoạt động ngân hàng theo hướng tăng cường các thiết chế an ninh tài chính, an toàn và bảo đảm cho hoạt động của ngân hàng thương mại, xây dựng và thực thi cơ chế thanh tra, giám sát, quản lí chặt chẽ và nghiêm ngặt nhất để bảo
đảm an toàn cho các ngân hàng thương mại và cả
hệ thống các tổ chức tín dụng./
(1), (2) Xem: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Tổ chức hợp tác kĩ thuật Đức: Pháp luật về ngân hàng trung
ương và ngân hàng thương mại một số nước (sách tham khảo), Nxb Thế giới; Hà Nội, 1997, tr 552, 467 (3)Xem:.Peter S.Rose: Quản trị ngân hàng thương mại-
ĐHKTQD, Nxb Tài chính xuất bản, Hà Nội 2001, tr 7 (4).Xem: Frederic S.Mish kin: Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính, Nxb Khoa học và kĩ thuật, Hà Nội,
1994, tr.380