1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Luận văn Thị trường tài chính và vai trò của thị trường tài chính đối với nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập ppt

32 886 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài liệu Luận văn Thị trường tài chính và vai trò của thị trường tài chính đối với nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập ppt
Trường học Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Thị trường tài chính
Thể loại Luận văn
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 493 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó chính là lợi tức haygiá phải trả để có được một tài sản tài chính và trong nền kinh tế, vốn được phân bổgiữa các tài sản tài chính dựa trên tín hiệu của thị trường.. Như vậy, các định

Trang 1

Luận văn Thị trường tài chính và vai trò của thị trường tài chính đối với nền kinh tế Việt Nam trong

quá trình hội nhập

Trang 2

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

MỤC LỤC 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 4

1.1 Khái niệm về thị trường tài chính: 4

1.2 Cơ sở hình thành thị trường tài chính: 4

1.3 Chức năng của thị trường tài chính: 5

1.4 Phân loại thị trường tài chính: 6

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM.10 2.1 Thị trường tiền tệ: 10

2.1.1 Tín phiếu kho bạc 10

2.1.2 Tín phiếu NHNN 12

2.1.3 Chứng chỉ tiền gửi 12

2.1.4 Kỳ phiếu ngân hàng 13

2.1.5 Hối phiếu 14

2.2 Thị trường vốn: 14

2.2.1 Trái phiếu: 14

2.2.2 Cổ phiếu: 17

2.2.3 Chứng chỉ quỹ đầu tư: 18

2.2.4 Công cụ tài chính tái sinh: 19

2.3 Khái quát chung về thực trạng thị trường tài chính Việt Nam: 21

2.3.1 Thành tựu: 21

2.3.2 Tồn tại của thị trường tài chính Việt Nam: 22

2.3.3 Nguyên nhân chủ yếu tồn tại những yếu kém của thị trường tài chính Việt Nam: 24

Chương 3: VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP 25

3.1 Thị trường tài chính tạo lập nguồn vốn cho nền kinh tế 25

3.2 Thị trường tài chính góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế 26

3.3 Thị trường tài chính góp phần đầy nhanh quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế 26

Chương 4: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ CHO PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN TỚI 29

KẾT LUẬN 31

TÀI LIỆU THAM KHẢO 32

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam, nhu cầu về vốn luôn làvấn đề quan trọng được ưu tiên hàng đầu trước khi bắt đầu vào một năm tài khóamới, và quan trọng hơn nữa là trong quá trình hội nhập của Việt Nam hiện nay Đềcập đến vấn đề này để thấy rằng việc hình thành một thị trường vốn cho phát triểnkinh tế xã hội là vô cùng quan trọng Cho nên, việc tìm hiểu thị trường vốn hay thịtrường tài chính là gì và có vai trò to lớn như thế nào đối với nền kinh tế Việt Namtrong thơì kỳ hội nhập là điều hết sức cần thiết Nhằm làm rõ vấn đề này, tiểu luận

tập trung phân tích Thị trường tài chính và vai trò của thị trường tài chính đối với

nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập.

Với thời lượng cho phép, nhóm thực hiện tiểu luận này mong nhận được góp

ý, bổ sung của quý Thầy Cô, bạn bè để hoàn chỉnh tiểu luận được tốt hơn

Trước khi đi vào phân tích thực trạng của thị trường tài chính Việt Nam,chúng ta cần làm rõ khái niệm về thị trường tài chính và những vấn đề mang tính chất

lý luận chung về thị trường tài chính

Trang 4

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH

1.1 Khái niệm về thị trường tài chính:

Bắt nguồn từ mối quan hệ nhân quả giữa đầu tư và tiết kiệm: một nền kinh tếmuốn tăng trưởng thì phải có hoạt động đầu tư; trước khi muốn đầu tư, phải huy độngvốn từ nguồn tiết kiệm; đầu tư có hiệu quả sinh ra lợi nhuận lại làm tăng thêm nguồntiết kiệm Vì vậy, mối quan hệ nhân quả này tuần hoàn và tạo nên sự phát triển kinh

tế xã hội

Tuy nhiên, vấn đề là làm sao để cho đầu tư gặp được tiết kiệm; phải có nơi đểtạo ra sự gặp gỡ này Đó chính là quá trình giao lưu vốn hay nói khác hơn đó là thịtrường tài chính, là nơi tạo ra cơ chế cho những nguồn vốn nhàn rỗi không có chỗđầu tư giao lưu với những nhà đầu tư đang cần vốn

Như vậy, thị trường tài chính là thị trường giao dịch, mua bán, trao đổi các

sản phẩm tài chính ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để đáp ứng nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong nền kinh tế Trong đó, các chủ thể thừa vốn thì tìm kiếm lợi nhuận

thông qua hoạt động đầu tư, còn các chủ thể thiếu vốn bổ sung vốn cho hoạt động sảnxuất kinh doanh và các nhu cầu đầu tư khác Việc hình thành quá trình giao lưu vốngiữa những chủ thể thừa vốn và thiếu vốn đã tạo nên một thị trường với đầy đủ cơchế như trong một nền kinh tế thị trường Đồng thời, do sản phẩm trên thị trường làsản phẩm tài chính, có tính nhạy cảm và ảnh hưởng đến mọi thành phần trong nềnkinh tế nên thị trường tài chính là thị trường bậc cao Do đó, thị trường tài chính phải

là loại thị trường bậc cao, chỉ tồn tại và hoạt động trong điều kiện của nền kinh tế thịtrường

Vậy, thị trường tài chính hình thành trên cơ sở nào?

1.2 Cơ sở hình thành thị trường tài chính:

Cũng giống như các loại thị trường khác, thể chế thị trường phải được duy trìtrong nền kinh tế tài chính Tức là, các chủ thể thừa vốn và thiếu vốn trên thị trườngtạo ra cung và cầu về sản phẩm tài chính Giá các tài sản tài chính hình thành thôngqua quá trình giao lưu vốn giữa các chủ thể trên thị trường Đó chính là lợi tức haygiá phải trả để có được một tài sản tài chính và trong nền kinh tế, vốn được phân bổgiữa các tài sản tài chính dựa trên tín hiệu của thị trường

Để thị trường phát triển thì phải có một cơ chế thông thoáng Do đó, các nhucầu giao lưu vốn trong xã hội phải được khuyến khích mạnh mẽ trong khuôn khổ luật

Trang 5

pháp Vốn được giao lưu thông qua hai kênh chính là giao lưu vốn trực tiếp và giaolưu vốn gián tiếp thông qua các tổ chức tài chính trung gian.

- Kênh tài chính trực tiếp là kênh mà các chủ thể thừa vốn trực tiếp chuyểnvốn cho các chủ thể thiếu vốn, bằng cách mua các tài sản tài chính trực tiếp từ ngườiphát hành Trong trường hợp này, luồng tiền được vận động thẳng từ người thừa vốnđến người thiếu vốn Hoạt động này có thể được nhận thấy rõ ràng nhất thông quamua bán cổ phiếu hoặc giấy tờ có giá trên thị trường chứng khoán

- Kênh tài chính gián tiếp là kênh thông qua các trung gian tài chính như cácNgân hàng, các định chế tài chính phi Ngân hàng và các tổ chức trung gian khác Các

tổ chức tín dụng mà cụ thể là các Ngân hàng thương mại với vai trò là người huyđộng vốn rồi đem cho vay Còn những trung gian tài chính, thực hiện việc kinhdoanh chuyển vốn từ người dư vốn sang người cần vốn, bằng việc đặt một lãi suấtcao hơn cho các món cho vay so với lãi suất của các món mà họ đi vay để thu lợinhuận Tuy nhiên, thông qua hoạt động của các trung gian tài chính, lãi suất hay còngọi là giá của tiền tệ được hình thành trên cơ sở cung cầu của thị trường và nhờ đó,các hoạt động tài chính gián tiếp được vận hành trên thị trường tài chính

Như vậy, các định chế tài chính được hình thành và hoạt động có hiệu quảcũng góp phần tạo nên một thị trường tài chính trong nền kinh tế của mỗi quốc gia.Thị trường tài chính được hình thành đã thực hiện chức năng quan trọng của mình, làtập trung các khoản tiền tiết kiệm tạo thành nguồn vốn lớn để tài trợ các dự án đầu tưtrong nền kinh tế xã hội

1.3 Chức năng của thị trường tài chính:

Chức năng đầu tiên, cũng là chức năng quan trọng nhất của thị trường tàichính là khơi thông các nguồn vốn và dẫn vốn để đáp ứng các nhu cầu của nền kinh

tế xã hội Để thực hiện được chức năng này, thị trường phải tạo ra các kênh huy độngvốn từ nơi thừa, như: cá nhân, hộ gia đình, các đơn vị kinh tế, tổ chức đoàn thể xãhội, Chính phủ, … ở trong và ngoài nước để chuyển sang các nhà đầu tư thiếu vốn,như: các đơn vị kinh tế, Chính phủ, cá nhân, hộ gia đình, …

Chức năng thứ hai của thị trường tài chính là kích thích tiết kiệm và đầu tư.Thị trường tạo ra sân chơi, để những người có tiền nhàn rỗi có cơ hội đầu tư nhưnhau và được tự do tham gia vào thị trường để tìm kiếm những nơi đầu tư có suấtsinh lợi cao nhất, tạo thành thói quen tích lũy tiền tệ một cách thường xuyên hơn, làmột nguồn đầu vào không thể thiếu của thị trường Nếu thị trường không kích thíchđược người dân tích lũy và tham gia vào thị trường như là một kênh dẫn vốn cho nền

Trang 6

kinh tế thì thị trường đó sẽ không thể hoạt động tốt Đồng thời, nhà đầu tư trên thịtrường khi tìm kiếm nguồn vốn tài trợ cho các hoạt động đầu tư phải nhận thức đượcviệc sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất, có hiệu suất sử dụng đồng vốn cao nhất

để bảo toàn vốn, sinh lời và tích lũy Chính vì vậy, thị trường tài chính có chức năngnâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, kích thích đổimới, áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến để tăng hiệu quả đầu tư, gópphần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội

Chức năng thứ ba của thị trường tài chính là làm gia tăng tính thanh khoản chocác tài sản tài chính Tính thanh khoản là tính chất dễ dàng chuyển hóa các tài sản tàichính thành tiền mặt và được thực hiện ở thị trường thứ cấp, là thị trường mua bán,giao dịch cổ phiếu và các giấy tờ có giá đã phát hành trên thị trường sơ cấp Tínhthanh khoản ở thị trường tài chính càng cao thì càng thu hút nhiều chủ thể tham giavào thị trường và giúp chủ sở hữu các tài sản tài chính dễ dàng chuyển đổi danh mụcđầu tư theo yêu cầu Do đó, mỗi thị trường khác nhau có tính thanh khoản khác nhau,phụ thuộc vào trình độ phát triển các định chế tài chính của thị trường ấy Nếu các cơchế của thị trường thông thoáng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các công cụ tài chínhlưu thông thông suốt Ngoài ra, thị trường tài chính còn có chức năng định giá tài sảntài chính, phân phối vốn trên thị trường theo tín hiệu của thị trường

Tùy thuộc vào các chức năng khác nhau của thị trường cũng như các tiêu chíphân loại khác nhau, thị trường tài chính cũng có nhiều cách phân loại khác nhau.Nhưng tập trung lại, thị trường tài chính thường có ba cách phân loại cơ bản: theothời hạn, tính chất luân chuyển vốn và theo cơ cấu của thị trường

1.4 Phân loại thị trường tài chính:

Căn cứ theo thời hạn luân chuyển vốn, thị trường tài chính được phân thành: thị trường tiền tệ và thị trường vốn.

- Thị trường tiền tệ là thị trường giao dịch, mua bán các chứng từ có giá ngắnhạn (Nhỏ hơn hoặc bằng 1 năm) Các chứng từ có giá ngắn hạn như: tín phiếu Khobạc, khoản vay ngắn hạn giữa các Ngân hàng, thỏa thuận mua lại, chứng chỉ tiền gửi,thương phiếu, … Đây là thị trường nhằm thỏa mãn những nhu cầu vốn trong ngắnhạn Căn cứ theo mục đích này của thị trường mà không cần quan tâm đến thời hạncủa các chứng từ có giá, khái niệm trên được hiểu theo nghĩa của thị trường mở thìthị trường tiền tệ là thị trường giao dịch, mua bán ngắn hạn các giấy tờ có giá

- Thị trường vốn là thị trường diễn ra việc mua bán các công cụ nợ dài hạn(lớn hơn 1 năm) như cổ phiếu, trái phiếu Thị trường vốn được phân thành ba bộ

Trang 7

phận là thị trường cổ phiếu, các khoản cho vay thế chấp và trái phiếu Cũng giốngnhư thị trường tiền tệ, thị trường vốn rất quan trọng, nó đóng một vai trò đáng kểtrong nền kinh tế quốc gia Một thị trường vốn phát triển, năng động và sôi nổi có thểđóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và sự phát triển của một quốc gia.

Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn, thị trường tài chính được phân thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.

- Thị trường sơ cấp là thị trường phát hành lần đầu các chứng từ có giá để huyđộng và tập trung vốn Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sangnhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành Thịtrường sơ cấp có đặc điểm là nơi duy nhất mà các chứng khoán đem lại vốn chongười phát hành, tạo ra hàng hóa cho thị trường giao dịch và làm tăng vốn đầu tư chotoàn bộ nền kinh tế Những người bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp thường làKho bạc, Ngân hàng Nhà nước, Công ty phát hành, Tập đoàn bảo lãnh phát hành, …Thị trường sơ cấp thường diễn ra trong một thời gian nhất định

- Thị trường thứ cấp là thị trường mua bán trao đổi các chứng từ có giá đãđược phát hành trên thị trường thứ cấp Trên thị trường này, các nhà đầu tư chuyểnnhượng quyền mua bán chứng khoán và điều đó làm cho chứng khoán đã phát hành

có tính thanh khoản Khoản tiền thu được từ việc bán chứng khoán thuộc về các nhàđầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán chứ không thuộc về nhà phát hành nênluồng tiền chỉ vận chuyển giữa những nhà đầu tư chứng khoán trên thị trường Thịtrường thứ cấp là một bộ phận quan trọng của thị trường chứng khoán, gắn bó chặtchẽ với thị trường sơ cấp Giao dịch trên thị trường thứ cấp phản ánh nguyên tắc cạnhtranh tự do, giá giao dịch chứng khoán do cung - cầu trên thị trường quyết định

Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Thịtrường sơ cấp là cơ sở và là tiền đề cho sự hình thành và phát triển của thị trường thứcấp; vì đó là nơi cung cấp hàng hóa chứng khoán lưu thông trên thị trường thứ cấp.Ngược lại, thị trường thứ cấp là động lực, là điều kiện cho sự phát triển của thịtrường sơ cấp; vì nếu không có thị trường thứ cấp để lưu hành, mua bán, trao đổi tạo

ra tính thanh khoản cho chứng khoán thì rất khó để phát hành và thu hút nhà đầu tưtrên thị trường sơ cấp Việc phân biệt thị trường sơ cấp và thứ cấp chỉ có ý nghĩa vềmặt lý thuyết Trên thực tế, tổ chức thị trường không phân biệt đâu là thị trường sơcấp, đâu là thị trường thứ cấp Vì tại một thị trường có thể cùng diễn ra đồng thờihoạt động mua bán chứng khoán mới phát hành và chứng khoán mua bán lại Điềucần quan tâm là phải coi trọng thị trường sơ cấp vì đây là thị trường tạo vốn và có cơchế giám sát chặt chẽ thị trường thứ cấp để bảo vệ thị trường tài chính ổn định

Trang 8

Căn cứ vào phương thức huy động, thị trường tài chính được phân thành thị trường công cụ nợ và thị trường công cụ vốn.

- Thị trường công cụ nợ là thị trường phát hành, mua bán các chứng khoán nợ.Thực chất các công cụ nợ (trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, …) là các thỏa thuận cótính hợp đồng Trong đó, người vay vốn thanh toán cho người giữ công cụ một khoảntiền cố định trong những khoản thời gian nhất định (thanh toán lãi) cho tới kỳ hạncuối cùng thì thanh toán giá trị gốc Trên cơ sở kỳ hạn thanh toán, công cụ nợ đượcchia làm ba loại khác nhau: công cụ nợ ngắn hạn, công cụ nợ trung hạn và công cụ

nợ dài hạn

Quan hệ vay mượn dựa trên công cụ nợ thường ấn định trước thời hạn và lãisuất cố định Người sở hữu công cụ nợ không có quyền biểu quyết trong quản trị điềuhành của bên vay

- Thị trường công cụ vốn là thị trường phát hành, mua bán các chứng khoánvốn Vốn được huy động trên thị trường bằng việc bán cổ phần, chứng chỉ quỹ đầu

tư, …Người nắm giữ cổ phiếu gọi là cổ đông, họ góp vốn vào các doanh nghiệp cổphần trên cơ sở gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vàđược chia cổ tức dựa trên kết quả kinh doanh theo số lượng cổ phần mà họ nắm giữ.Chính vì vậy mà giá trị cổ tức không ổn định như người giữ công cụ nợ nhưng cổ tức

có thể cao hoặc thấp hơn lãi trái phiếu, vì nó tùy thuộc vào kết quả kinh doanh củadoanh nghiệp Nhưng họ có quyền biểu quyết trong quản trị điều hành doanh nghiệp

vì họ là chủ sở hữu Người giữ chứng khoán vốn có nhiều rủi ro hơn người giữ chứngkhoán nợ trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản Người giữ chứng khoán nợđược ưu tiên thanh toán nợ trước

Ngoài ra, trong cách phân loại này, còn có thị trường công cụ phái sinh Đây

là thị trường phát hành và mua bán các chứng khoán phát sinh, như: chứng quyền,quyền chọn, hợp đồng tương lai, …

Ngày nay, một thị trường tài chính không nhất thiết phải có không gian vật lý

Vì vậy, thị trường tài chính còn được phân theo thể thức sau:

- Thị trường thô sơ và thị trường vi tính hóa

- Thị trường thường trực và thị trường huy động

- Thị trường chứng khoán đã đăng ký và thị trường lưu lượngchứng khoán

Trang 9

Mỗi cách phân loại thị trường tùy thuộc vào tiêu chí mà chúng ta muốn hướngđến Từ những cơ sở lý luận nêu trên, thị trường tài chính tại Việt Nam cũng đã đượchình thành và phát triển Nhằm đánh giá thực trạng của thị trường tài chính ViệtNam, tiểu luận này chỉ tập trung phân tích trên ba thị trường trong phân loại theo thờihạn luân chuyển vốn Đó là thị trường tiền tệ và thị trường vốn.

Trang 10

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM 2.1 Thị trường tiền tệ:

Điều 9 khoản 2 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định: “Thị trường tiền tệ làthị trường vốn ngắn hạn, nơi mua, bán các giấy tờ có giá ngắn hạn, bao gồm tínphiếu kho bạc, tín phiếu NHNN, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá ngắn hạnkhác” Các nghiệp vụ thị trường tiền tệ Việt Nam (Nguồn: Ngân hàng Nhànước Việt Nam):

2.1.1 Tín phiếu kho bạc

Tín phiếu kho bạc là loại trái phiếu Chính phủ (giấy vay nợ ngắn hạn) có kỳ hạndưới một năm do Bộ tài chính phát hành để bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sáchNhà nước và là một công cụ quan trọng để Ngân hàng Nhà nước điều hành chính

Trang 11

sách tiền tệ Tín phiếu kho bạc là loại tín phiếu chiết khấu Điều đó có nghĩa là, tínphiếu được bán thấp hơn mệnh giá và thanh toán theo mệnh giá khi đáo hạn, chứkhông trả lãi theo định kỳ Tín phiếu kho bạc được phát hành trên thị trường sơ cấptrên cơ sở đấu thầu Tại Việt Nam, các tổ chức tham gia đấu thầu thường là các tổchức tín dụng, công ty bảo hiểm thỏa mãn một số quy định trong đó quan trọngnhất là phải có vốn pháp định bằng hoặc cao hơn mức quy định của Ngân hàng Nhànước Nghiệp vụ thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc được thực hiện từtháng 5/1995 Từ năm 2003 cho phát hành tín phiếu kho bạc và trái phiếu chính phủbằng ngoại tệ Doanh số và tỷ trọng tín phiếu Kho bạc phát hành dưới hìnhthức đấu thầu qua NHNN trong tổng doanh số huy động vốn của Kho bạc Nhà nướctăng qua các năm Điều này phù hợp với xu thế phát triển thị trường và thông lệ quốc

tế Khối lượng tín phiếu kho bạc và trái phiếu chính phủ (nội tệ) phát hành qua các

năm:

Vì tín phiếu kho bạc có những ưu điểm vượt trội hơn hẳn các loại chứng khoán khác, chẳng hạn như: công cụ có tính thanh khoản cao nhất, rủi ro v nợ thấp nhất Do đó, đây sẽ là kênh các Tổ chức tín dụng đầu tư vốn khả dụng của mình,

Trang 12

hưởng lãi, khi cần đem giao dịch trên thị trường mở đáp ứng nhu cầu vốn của mình Điều đó đã cho thấy được tính hấp dẫn của nó trong việc đầu tư kiếm lợi Chính vì vậy mà tín phiếu kho bạc chủ yếu do các ngân hàng thương mại nắm giữ Tuy nhiên, thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc qua NHNN vẫn còn một số tồn tại như thành viên tham gia đấu thầu chủ yếu vẫn là các Ngân hàng thương mại Nhà nước,

số lượng các NHTMCP và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tham gia rất ít Nguyên nhân chủ yếu là các NHTMCP chưa thực sự quan tâm tới thị trường này do lãi suất tín phiếu kho bạc chưa thực sự hấp dẫn so với các loại trái phiếu phát hành qua Uỷ Ban chứng khoán Mặt khác, lượng vốn khả dụng dư thừa để đầu tư vào tín phiếu kho bạc của các NHTMCP vẫn còn hạn chế Việc đầu tư vào tín phiếu kho bạc của các thành viên chủ yếu nhằm mục đích dự phòng an toàn về khả năng thanh toán vào giai đoạn nhạy cảm (VD: Tết âm lịch) do đó việc giao dịch các loại giấy tờ

có giá giữa các tổ chức tín dụng trên thị trường liên ngân hàng với nhau chưa linh hoạt, một phần nguyên nhân do cơ sở hạ tầng (công nghệ, pháp lý) của thị trường thứ cấp chưa phát triển Quy chế 935/2004/QĐ-NHNN ngày 23/7/2004 tuy đã cho phép việc tổ chức hình thức đấu thầu kết hợp cả cạnh tranh và không canh tranh lãi suất trong một phiên đấu thầu nhưng đến nay vẫn chưa áp dụng.

2.1.2 Tín phiếu NHNN

Tín phiếu NHNN là một giấy tờ vay nợ do NHNN phát hành nhằm thực hiện cácchính sách tiền tệ góp phần kiềm chế lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mứccao Lãi suất tín phiếu NHNN thường do NHNN quy định tùy theo mục tiêu của

chính sách tiền tệ.

Các tổ chức tín dụng tham gia mua tín phiếu NHNN thông thường dưới 2 hình thức:

tự nguyện và bắt buộc Tuy nhiên, ở Việt Nam do các tổ chức tín dụng không mặn

mà với loại công cụ này nên hình thức chủ yếu là bắt buộc Thông thường

chỉ khi NHNN thực hiện chính sách tiền tệ thặt chặt (xuất phát từ mục tiêu rút bớttiền trong nền kinh tế về trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát) thì NHNN mới cho

phát hành tín phiếu NHNN dưới hình thức bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng.

Tương tự như tín phiếu kho bạc, hầu hết các tổ chức tín dụng mua tín phiếu NHNNđều có xu hướng giữ tới khi đáo hạn, hiếm có giao dịch mua bán lại giữa các tổ chứctín dụng

2.1.3 Chứng chỉ tiền gửi

Chứng chỉ tiền gửi là công cụ vay nợ do ngân hàng phát hành nhằm huyđộng vốn trên thị trường với bản chất tương tự như một khoản tiền gửi có

Trang 13

kỳ hạn.Trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thờihạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tíndụng và người mua Chứng chỉ tiền gửi là một công cụ đang ngày càng phổbiến ở thị trường Việt Nam Chủ thể phát hành chủ yếu là các ngân hàng thươngmại lớn Để thu hút nguồn vốn từ khách hàng, ngoài mức lãi suất hấp dẫn cácNHTM còn sử dụng rất nhiều những chính sách hấp dẫn như hình thức khuyến mại,chiết khấu, bốc thăm trúng thưởng, nâng lãi suất …để đem lại lợi ích cho các kháchhàng.

2.1.4 Kỳ phiếu ngân hàng

Về cơ bản, một kỳ phiếu ngân hàng là một sự thừa nhận của các khoản nợ do cácngân hàng thương mại phát hành Kỳ phiếu là một công cụ nợ, mà không phải hậuthuẫn của tài sản bảo đảm Kỳ phiếu được hỗ trợ bởi các khả năng thanh toán nợ vàdanh tiếng của ngân hàng phát hành kỳ phiếu

Đối với Ngân hàng phát hành kỳ phiếu, ngân hàng đã nộp đơn cho cơ quan có thẩmquyền Đơn xin phát hành kỳ phiếu Ngân hàng sẽ nhận được chấp thuận nếu cơ quan

có thẩm quyền không có bất kỳ sự phản đối với các ứng dụng đó Ở Việt Nam, việcphát hành kỳ phiếu ngân hàng đương nhiên chịu giám sát của NHNN ViệtNam

Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều có công cụ kỳ phiếu Đây được coi là công cụhiệu quả trong huy động vốn của các ngân hàng thương mại Tuy nhiên, hình thứcphát hành chủ yếu là kỳ phiếu ghi danh bằng đồng Việt Nam Việc huy động vốn tuytheo con đường phát hành kỳ phiếu còn chua tương xứng đối với sử dụng công cụnày trên thị trường quốc tế.Việc đưa ra thông tin cung ứng cho khách hàng cá nhân

và tổ chức chưa rõ ràng để có thể so sánh công cụ tối ưu nhất giữa các ngân hàng.Bên cạnh đó, NHNN Việt Nam cũng chưa có quy định cụ thể về việc phát hành kỳphiếu của các ngân hàng Một vài trường hợp tạm ngưng phát hành kỳ phiếukhông thông báo lí do cụ thể Điều này làm tăng tính rủi ro cho khách hàng, tácđộng tâm lí, bất ổn thị trường vốn và tạo tiền lệ không tốt với các ngân hàng khác

Kỳ phiếu ngân hàng ở nước ta dường như mới chỉ dừng lại ở việc làm tăng thêm tinhphong phú đa dạng trong hoạt động ngân hàng và thêm sự lựa chọn sảm phẩm chocác đối tượng có vốn rảnh rỗi

2.1.5 Hối phiếu

Hối phiếu là một tờ mệnh lệnh đòi tiền vô điều kiện, do người xuất khẩu, người bán,người cung ứng dịch vụ, ký phát đòi tiền người nhập khẩu, người mua, người

Trang 14

nhận cung ứng và yêu cầu người này khi nhìn thấy hối phiếu phải trả một số tiềnnhất định, tại một địa điểm nhất định, trong một thời gian nhất định cho ngườihưởng lợi quy định trong hối phiếu,hoặc theo lệnh của người này trả chongười khác.

Hối phiếu có tính thanh khoản cao Hối phiếu có thể mang đến các NHTM để bảolãnh hoặc chiết khấu Hơn thế nữa các NHTM còncó thể mang đi tái chiết khấu hoặctái cầm cố tại NHNN để khôi phục nguồn vốn của mình

Bảo lãnh hối phiếu là sự cam kết của người thứ ba trả cho người hưởng lợi khi hốiphiếu đến hạn trả tiền Thông thường người đứng ra bảo lãnh hối phiếu là cácNHTM

Chiết khấu hối phiếu là một nghiệp vụ của ngân hàng Trong đó người hưởng lợihối phiếu xuất trình hối phiếu chưa đến hạn trả tiền cho ngân hàng để lấy tiền ngayvới một giá thấp hơn số tiền ghi trên tờ hối phiếu Hiện nay, hối phiếu và các nghiệp

vụ liên quan như bảo lãnh, chiết khấu vẫn chưa thực sự đi vào đời sống kinh tế ViệtNam Điều này xuất phát từ một số thực trạng của nền kinh tế Việt Nam như:

- Các chủ thể tham gia vào nghiệp vụ hối phiếu chưa thật sự có lòng tin đối với hối

phiếu và khả năng chuyển hoá ra tiền của hối phiếu khi đến hạn.

- Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa có những thông tư hướng dẫn cụ thể về

việc thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến hối phiếu.

- Pháp lệnh thương phiếu vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng nên tính khả thi vẫn cònkém

2.2 Thị trường vốn:

2.2.1 Trái phiếu:

Trái phiếu là một chứng nhận nghĩa vụ nợ của người phát hành phải trả cho người sởhữu trái phiếu đối với một khoản tiền cụ thể (mệnh giá của trái phiếu), trong một thờigian xác định và với một lợi tức quy định Người phát hành có thể là doanh nghiệp(trái phiếu trong trường hợp này được gọi là trái phiếu doanh nghiệp), một tổchức chính quyền như Kho bạc nhà nước (trong trường hợp này gọi là trái phiếu khobạc), chính quyền (trong trường hợp này gọi là công trái hoặc trái phiếu chính phủ).Người mua trái phiếu, hay trái chủ, có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp hoặc chínhphủ Tên của trái chủ có thể được ghi trên trái phiếu (trường hợp này gọi làtrái phiếu ghi danh) hoặc không được ghi (trái phiếu vô danh) Trái chủ làngười cho nhà phát hành vay và họ không chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết quả sử

Trang 15

dụng vốn vay của người vay Nhà phát hành có nghĩa vụ phải thanh toán theo các

cam kết nợ được xác định trong hợp đồng vay.

Năm 2008, cuộc khủng hoảng kinh tế bùng nổ ở nhiều nước trên thế giới, trong khi ởViệt Nam, tình hình lạm phát diễn ra khá nghiêm trọng Bối cảnh đó đã tác động

không tốt tới tâm lý các nhà đầu tưtrên thị trường chứng khoán.

Nhà đầu tư nước ngoài, một phần vì muốn bảo toàn vốn cho công ty mẹ nơi chínhquốc, một phần vì kinh tế vĩ mô Việt Nam gặp khó khăn, đã bán tháo một lượng tráiphiếu rất lớn để rút khỏi thị trường Việt Nam Lập tức, giá trái phiếu rất rẻ, “Yield”(lợi tức thu được sau mỗi lần chuyển nhượng) tới 20% và hình ảnh thị trường tài

chính Việt Nam bị ảnh hưởng khá nghiêm trọng.

Hiện nay, trên thị trường trái phiếu, hầu hết tập trung ở trái phiếu chính phủ, trong

đó, trái phiếu chính quyền địa phương giữ một tỷ trọng thấp Còn đối với trái phiếudoanh nghiệp thì cũng chỉ có một số tổng công ty, doanh nghiệp lớn của nhà nướcphát hành, còn doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ chưa thể phát hành.Ở nước ngoài,

họ phát hành lô lớn ở một số kỳ hạn nhất định 3 - 5 - 7 - 10 hay 15 năm và mặc dùngày phát hành khác nhau nhưng ngày đến hạn luôn khớp với nhau Ngoài ra, lãisuất trái phiếu nước ngoài luôn thống nhất ở một mức giá nào đó và khi phát hànhcác đợt mới, họ chỉ đấu giá trái phiếu tại thời điểm thực tế Như vậy, dẫn đến lượnghàng hóa trên thị trường rất tập trung và do số loại trái phiếu rất ít nên giao dịch rấtthuận lợi.Trong khi đó, Việt Nam có hơn 500 loại trái phiếu, lại phát hành thànhnhiều lô nhỏ, ngày phát hành khác nhau, ngày đến hạn khác nhau Do vậy, nhiều khimột nhà đầu tưmua một lô trái phiếu và giữ rịt lại, lập tức chúng không thể giao dịchđược cho đến khi đến hạn thanh toán Thực tế này không chỉ làm cho tính thanh

khoản của thị trường thấp mà còn khó hình thành đường cong lãi suất chuẩn trên

nhiệm nghĩa vụ liên quan” ra sao như ở Việt Nam.

Trang 16

Năm vừa qua được xem là năm không thành công trong việc phát hành các loại tráiphiếu chính phủ và được Chính phủ bảo lãnh Ngược lại, trái phiếu doanh nghiệp

phát hành năm qua lại khá thu hút các nhà đầu tư, nhất là loại trái phiếu thả nổi.

Năm qua việc phát hành các loại trái phiếu chính phủ và được Chính phủbảo lãnh trên thị trường sơ cấp khá ảm đạm Báo cáo này cho biết tính chung trongnăm 2009 chỉ có khoảng 5.000 tỉ đồng trái phiếu huy động được trên tổng

số 71.400 tỉ đồng đưa ra gọi thầu.

Loại trái phiếu phát hành thành công nhất trong năm qua là trái phiếu Kho bạcnhưng tỷ lệ bán được cũng chỉ ở mức 15%, còn đa số các loại trái phiếu chỉ bánđược dưới 7% so với kế hoạch Đặc biệt trái phiếu chính quyền địa phương hoàntoàn không thu hút được sự quan tâm của nhà đầu tư, còn trái phiếu của Ngân hàng

Phát triển cũng chỉ bán được 2% so với tổng khối lượng chào bán.

Tình trạng này là do sự chênh lệch quá lớn về lãi suất giữa hai thị trường sơ cấp vàthứ cấp, trung bình từ 100-200 điểm Với thị trường thứ cấp, tình hình cũng khôngsáng sủa hơn bao nhiêu, thanh khoản luôn ở mức thấp Tổng giá trị tráiphiếu được chuyển nhượng qua sàn trong năm 2009 vào khoảng 77.500 tỉ đồng, chỉbằng 40% so với mức 195.600 tỉ đồng của năm 2008 Giá trị trái phiếu được chuyểnnhượng trong một phiên giao dịch trung bình là 300 tỉ đồng, thấp hơn nhiều so với

mức 800 tỉ đồng của năm 2008 .

Về mặt kỹ thuật, việc có quá nhiều mã trái phiếu, số lượng manh mún, thiếu chuẩnmực về kỳ hạn,… khiến mức độ hấp dẫn của thị trường trái phiếu Việt Nam kémhơn các nước trong khu vực.Quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam nhìnchung còn khá nhỏ, khoảng 15% GDP Tỷ trọng giá trị thị trường trái phiếu chínhphủ còn lớn (gấp hơn 15 lần) so với thị trường trái phiếu doanh nghiệp (Philippines

là 9 lần Indonesia 11 lần Malaysia 1,25 lần…).

Năm 2009, thị trường trái phiếu doanh nghiệp lại khá sôi động với nhiều đợt pháthành thành công, trong đó chủ yếu là hình thức phát hành trái phiếu với lãi suất thảnổi Ước tính đã có khoảng 18.000 tỉ đồng giá trị trái phiếu có lãi suất thả nổi đượcbán ra, chiếm 77% trong tổng giá trị trái phiếu huy động được (hơn 26.000

tỉ đồng).Bên cạnh đó, trái phiếu chuyển đổi cũng là kênh huy động vốn đượcnhiều doanh nghiệp sử dụng Doanh nghiệp bất động sản là những nhà phát hành khánhanh nhạy khi nhìn thấy thị trường bất động sản cũng có dấu hiệu ấm lên, và được

sự hỗ trợ từ thị trường chứng khoán, liền tung ra các đợt phát hành tương đối lớn và

khá thành công.

Ngày đăng: 21/02/2014, 09:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w