ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ====== ====== BÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN LUẬT TÀI CHÍNH Lớp học phần ĐỀ TÀI TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Giảng viên TS Nguyễn Thị Thu Hương Hà Nội, tháng 52022 1 MỤC LỤC Trang PHẦN MỞ ĐẦU 5 PHẦN NÔI DUNG 5 Chương 1 Những nét chung về thị trường chứng khoán 5 Vài nét tổng quan về sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán 5 Khái niệm Đặc điểm của thị trường chứng khoán 7 Khái niệm thị trường chứng khoán 7 Đặc điểm thị trường chứng khoán 9 Vai tr.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN: LUẬT TÀI CHÍNH
Trang 2MỤC LỤC Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 5
PHẦN NÔI DUNG 5
Chương 1: Những nét chung về thị trường chứng khoán 5
1 Vài nét tổng quan về sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán 5
2 Khái niệm/ Đặc điểm của thị trường chứng khoán 7
2.1Khái niệm thị trường chứng khoán 7
2.2Đặc điểm thị trường chứng khoán 9
3 Vai trò/ Chức năng của thị trường chứng khoán 10
3.1 Vai trò của thị trường chứng khoán 10
3.2 Chức năng của thị trường chứng khoán 11
4 Phân loại thị trường chứng khoán 12
4.1 Căn cứ vào phương thức tổ chức và giao dịch, thị trường chứng khoán được phân thành thị trường tập trung và thị trường phi tập trung 12
4.1.1.Thị trường chứng khoán tập trung ( Sở giao dịch chứng khoán –
SGDCK) 12
4.1.2 Thị trường phi tập trung 12
4.1.3 Ngoài ra còn có thể chia thành thị trường Private và thị trường thứ ba 15
4.2 Căn cứ vào kỳ hạn giao dịch 15
4.2.1.Thị trường trao ngay ( thị trường thời điểm) 15
4.2.2 Thị trường giao dịch kỳ hạn 16
4.2.3.Thị trường giao dịch tương lai 16
4.3 Căn cứ theo tính chất luân chuyển vốn trên thị trường chứng khoán 17
4.3.1.Thị trường sơ cấp (Primary Market) 17
4.3.2.Thị trường thứ cấp (Secondary Market) 17
4.4 Theo đối tượng giao dịch 18
4.4.1.Thị trường cổ phiếu (Stock Market) 18
4.4.2.Thị trường trái phiếu (Bond Market) 19
4.4.3.Thị trường chứng chỉ quỹ đầu tư (Fund Certificate Market/ Fund Stock
Market) 19
4.4.4 Thị trường chứng khoán phái sinh (Derivatives Market) 20
5 Các nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán 20
Trang 3Chương 2: Pháp luật về thị trường chứng khoán 22
1 Chủ thể của thị trường chứng khoán 22
1.1Chủ thể phát hành 22
1.2Nhà đầu tư 23
1.2.1Nhà đầu tư cá nhân 23
1.2.2Nhà đầu tư có tổ chức 24
1.3 Cơ quan quản lý thị trường 24
1.4 Các tổ chức cung ứng dịch vụ trên thị trường chứng khoán 25
2 Pháp luật về một số hoạt động của thị trường chứng khoán 27
2.1 Chào bán chứng khoán 27
2.2 Đăng kí, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán 32
2.2.1Hệ thống cơ quan Đăng ký, Lưu ký, Bù trừ, Thanh toán chứng khoán 32
2.2.2Hoạt động Đăng ký, Lưu ký, Bù Trừ và Thanh toán chứng khoán 34
3 Quy định của pháp luật Việt Nam về xử lý các hành vi vi phạm thị trường chứng khoán 36
3.1 Xử phạt hành chính các hành vi vi phạm thị trường chứng khoán 36
3.2 Xử phạt dân sự các hành vi vi phạm thị trường chứng khoán 38
3.3 Xử lý hình sự các hình vi vi phạm thị trường chứng khoán 40
Chương 3: Thực tiễn xu hướng phát triển của thị trường chứng khoán trên thế giới và Việt Nam hiện nay Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật 45
1 Thực tiễn xu hướng phát triển của thị trường chứng khoán trên thế giới 45
2 Thực tiễn thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay 47
2.1 Thực tiễn những điều kiện cơ bản để phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay 47
2.2Những thành tựu mà thị trường chứng khoán Việt Nam đạt được 48
2.3 Những hạn chế mà thị trường chứng khoán gặp phải 48
3 Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật về thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay 49
PHẦN KẾT LUẬN 53
DANH MỤC TÀI LIỆU 54
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
Trong lịch sử hình thành và phát triển của thị trường tài chính, thị trường tiền tệđược hình thành trước do ban đầu nhu cầu vốn cũng như tiết kiệm trong dân cư chưacao và ban đầu nhu cầu chủ yếu về vốn là ngắn hạn Sau đó, cùng với sự phát triển củanền kinh tế, nhu cầu vốn dài hạn cho đầu tư phát triển thị trường ngày càng cao và thịtrường vốn đã ra đời để đáp ứng những nhu cầu này Để huy động vốn dài hạn, bêncạnh việc đi vay ngân hàng thông qua hình thức tài chính gián tiếp, Chính phủ và một
số công ty còn thực hiện huy động vốn thông qua phát hành các chứng khoán Khi một
bộ phận các chứng khoán có giá nhất định được phát hành thì tất yếu nảy sinh nhu cầu
về mua bán, trao đổi các chứng khoán đó Thị trường chứng khoán được xem là đặctrưng cơ bản, là biểu tượng của nền kinh tế hiện đại Người ta có thể đo lường và dựtính sự phát triển kinh tế qua diễn biến trên thị trường chứng khoán Đến nay, hầu hếtcác nước có nền kinh tế phát triển đều đã có thị trường chứng khoán
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG NÉT CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1.Vài nét tổng quan ngắn gọn về sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán.
*Trên thế giới:
Thị trường chứng khoán ban đầu phát triển một cách tự phát và rất sơ khai, xuấtphát từ một sự cần thiết đơn lẻ của buổi ban đầu Vào giữa thế kỷ 15 ở tại những thànhphố trung tâm buôn bán ở phương Tây, các thương gia thường tụ tập tại các quán càphê để trao đổi việc mua bán trao đổi các vật phẩm hàng hoá.Phiên chợ riêng đầu tiênđược diễn ra vào năm 1453 tại một lữ điếm của gia đình Vanber ở Bruges Bỉ, có mộtbảng hiệu hình ba túi da với một tiếng Pháp là "Bourse" tức là "mậu dịch thị trường"hay còn gọi là "Sở giao dịch"
Sự phát triển của thị trường ngày càng phát triển cả về lượng và chất với số thànhviên tham gia đông đảo và nhiều nội dung khác nhau Vì vậy theo tính chất tự nhiên
nó lại được phân ra thành nhiều thị trường khác nhau như: Thị trường giao dịch hànghoá, thị trường hối đoái, thị trường giao dịch các hợp đồng tương lai và thị trườngchứng khoán Các phương thức giao dịch ban đầu được diễn ra sơ khai ngay cả khi ởngoài trời với những ký hiệu giao dịch bằng tay và có thư ký nhận lệnh của khách
Trang 5hàng Ở Mỹ cho đến năm 1921, khu chợ này được chuyển từ ngoài trời vào trong nhà,
Sở giao dịch chứng khoán chính thức được thành lập
Lịch sử phát triển các thị trường chứng khoán Thế giới trải qua một sự phát triểnthăng trầm lúc lên, lúc xuống, vào những năm 1875-1913, thị trường chứng khoán Thếgiới phát triển huy hoàng cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế Thế giới lúc đó,nhưng rồi đến "ngày thứ năm đen tối "tức ngày 29/10/1929 đã làm cho thị trườngchứng khoán Tây, Bắc Âu và Nhật bản khủng hoảng mất lòng tin Cho mãi tới chiếntranh thế giới thứ 2 kết thúc, các thị trường chứng khoán cũng hồi phục dần và pháttriển mạnh và rồi cho đến năm 1987 một lần nữa đã làm cho các thị trường chứngkhoán
Song cũng có một số thị trường chứng khoán có sự trục trặc ngay từ ban đầu nhưthị trường chứng khoán Thái Lan, Indonesia, hoạt động trì trệ một thời gian dài dothiếu hàng hoá và do không được quan tâm đúng mức, thị trường chứng khoánPhilippine kém hiệu quả do thiếu sự chỉ đạo và quản lý thống nhất hoạt động của 2 Sởgiao dịch chứng khoán Makita và Manila, thị trường chứng khoán Balan, Hungary gặptrục trặc do việc chỉ đạo giá cả quá cao hoặc quá thấp, …1
*Ở Việt Nam:
Thị trường chứng khoán ở Việt Nam bắt đầu vào thời điểm ngày 28-11-1996, Ủyban Chứng khoán Nhà nước Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 75/CP củaChính phủ Và chỉ 2 năm sau đó, ngày 11-7-1998, thị trường chứng khoán Việt Namchính thức được khai sinh theo Nghị định số 48/CP của Chính phủ Đồng thời, ChínhPhủ cũng ký quyết định thành lập Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, đặt cơ sở tại HàNội và thành phố Hồ Chí Minh Ngày 28-7-2000, Trung tâm Giao dịch Chứng khoánTP.HCM chính thức đi vào hoạt động với 2 mã cổ phiếu giao dịch đầu tiên là REE vàSAM Ngày 8/3/2005 Trung tâm Giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Hà Nội cũngchính thức ra mắt, trở thành trung tâm niêm yết của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.Trải qua quãng đường 20 năm, có không ít những biến động đã xảy ra Trong giaiđoạn đầu tiên (2000 – 2005), đây là giai đoạn chập chững bước những bước đầu tiêncủa thị trường chứng khoán Việt Nam, vốn hóa thị trường chỉ đạt mức trên dưới 1%
1 Đào Thị Thùy Linh; Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán trên thế giới; đăng ngày 16/3/2022.
Trang 6GDP, gần như không có thay đổi gì nhiều.Tuy nhiên kể từ năm 2006 khi khi Luật Chứng khoán được Quốc hội ban hành và chính thức có hiệu lực từ đầu năm 2007, thị trường chứng kiến rất nhiều sự thay đổi khi những bất cập, những xung đột với các văn bản pháp lý được giải quyết, chúng ta có khả năng hội nhập hơn với các thị trường vốn quốc tế và khu vực Năm 2006, quy mô thị trường có bước nhảy vọt mạnh mẽ, đạt 22,7% GDP và chạm đến con số trên 43% vào năm 2007 Tuy nhiên, mọi việc bắt đầu xấu đi vào năm 2008, do ảnh hưởng của thị trường tài chính và nền kinh tế trong nước
và thế giới, chúng ta chứng kiến một năm "kinh tế buồn" với mức vốn hóa thị trường giảm mạnh, xuống còn 18% GDP Khi khó khăn dần qua đi, năm 2009 chứng kiến sự phục hồi nhẹ với vốn hóa thị trường đạt 37,71% GDP và các công ty niêm yết trên thị trường tăng dần Sản phẩm mới Chứng quyền có đảm bảo (Cover Warrant - CW) được
ra đời từ ngày 28/6 Ngày 18/11/2019, HoSE cho ra mắt bộ chỉ số mới Vietnam Diamond Index (VN Diamond), Vietnam Financial Select Sector Index (VNFin Select)
làm tiền đề cho sự ra đời của các quỹ ETF, qua đó giải quyết bài toán tại các doanh nghiệp đã hết room ngoại Thị trường chứng khoán Việt Nam trải qua nhiều biến động nhưng vẫn khẳng định được vai trò thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam của mình Trong giai đoạn hiện nay, với chủ trương phát triển nền kinh tế ổn định và vững chắc, đây là điều kiện tốt cho TTCKVN phát triển phù hợp với vị thế của thị trường và sánh vai với thị trường quốc tế.2
2.Khái niệm; đặc điểm của thị trường chứng khoán
2.1 Khái niệm thị trường chứng khoán
Hiện nay, tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về thị trường chứng khoán:
Quan điểm thứ nhất cho rằng thị trường chứng khoán và thị trường vốn là một, chỉ
là tên gọi khác nhau của cùng một khái niệm: Thị trường tư bản (Capital Market).Quan điểm trên đồng nhất TTCK và thị trường vốn căn cứ vào thời hạn cung cấp vốncho doanh nghiệp là vốn trung và dài hạn Tuy nhiên khi đồng nhất hai thị trường này
đã bỏ qua tính thanh khoản của các công cụ huy động vốn (cổ phiếu, trái phiếu, vay,thuê mua )
2 Lịch sử hình thành thị trường chứng khoán ở Việt Nam; đăng ngày 16/9/2020
( http://www.fiingroup.vn/NewsInsights/Detail/5766004?lang=vi-vn )
6
Trang 7Quan điểm thứ hai của đa số các nhà kinh tế cho rằng: "Thị trường chứng khoánđược đặc trưng bởi thị trường vốn chứ không phải đồng nhất là một" Như vậy, theoquan điểm này, TTCK và thị trường vốn là khác nhau, trong đó TTCK chỉ giao dịch,mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn như trái phiếu chính phủ, cổ phiếu vàtrái phiếu công ty Các công cụ tài chính ngắn hạn được giao dịch trên thị trường tiền
tệ, không thuộc phạm vi hoạt động của TTCK
Quan điểm thứ ba lại cho rằng "Thị trường chứng khoán là thị trường cổ phiếu",hay là nơi mua bán các phiếu cổ phần được các công ty phát hành ra để huy động vốn.Quan điểm này xuất phát từ việc xem xét mức độ tác động của thị trường tới nền kinh
tế khi có biến động thì cổ phiếu ảnh hưởng mạnh hơn
Các quan điểm trên đều được khái quát dựa trên những cơ sở thực tiễn và trong từngđiều kiện lịch sử nhất định
Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có khái niệm cụ thể nào về thị trường chứngkhoán mà chỉ có khái niệm thị trường giao dịch chứng khoán Thị trường giao dịchchứng khoán là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán vàgiao dịch chứng khoán (Khoản 27 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019)
Theo quan điểm của TS Bạch Đức Hiển, thị trường chứng khoán là một bộ phậnquan trọng của thị trường vốn, hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiếtkiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ dài hạn cho các doanhnghiệp, các tổ chức kinh tế và Nhà nước để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế haycho các dự án đầu tư Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịchmua bán các loại chứng khoán Việc mua bán này đầu tiên được tiến hành tại thịtrường chứng khoán sơ cấp khi mà người mua mua được chứng khoán lần đầu từngười phát hành và sau đó tại thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứngkhoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp Do đó thị trường chứng khoán là nơi cácchứng khoán được phát hành và trao đổi 3
Cũng tương tự như vậy, theo quan điểm của PGS TS Lê Thị Thu Thủy thì thịtrường chứng khoán là một loại thị trường vốn trung và dài hạn, nơi diễn ra các hoạtđộng phát hành, trao đổi, mua, bán, chuyển nhượng chứng khoán nhằm mục đích lợinhuận 4
3 Giáo trình thị trường chứng khoán- Học viện tài chính; TS Bạch Đức Hiển-Tr 9;10
4 Giáo trình Pháp luật về thị trường chứng khoán- NXB Đại học Quốc gia Hà Nội (2017) - PGS.TS Lê Thị Thu Thủy ( chủ biên)-tr.42
7
Trang 8Theo đó, hai khái niệm trên đều khẳng định, thị trường chứng khoán là một loại thịtrường của thị trường vốn, nơi diễn ra các hoạt động phát hành, trao đổi và chuyểnnhượng chứng khoán và nhằm một cái mục đích lợi nhuận Tuy nhiên, thị trườngchứng khoán được hiểu đơn giản là nơi trao đổi, mua bán các chứng khoán hay cácgiấy tờ có giá Việc trao đổi mua bán này được thực hiện theo những quy tắc ấn địnhtrước
2.2 Đặc điểm thị trường chứng khoán
- Đối tượng giao dịch trên thị trường chứng khoán là chứng khoán - hàng hóa đặc biệt5.Muốn xác định giá trị và giá cả của loại hàng hóa này cần phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố khác nhau, trong đó có quy luật cung cầu về chứng khoán, tình hình kinh doanh củadoanh nghiệp phát hành Hàng hóa của thị trường chứng khoán bao gồm: (Căn cứ vàokhoản 1 điều 4 Luật chứng khoán 2019) cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, chứngkhoán phái sinh, chứng quyền, chứng quyền có bảo đảm, quyền mua cổ phần, chứngchỉ lưu ký và các loại chứng khoán khác do chính phủ quy định Có thể nói, đây là đặcđiểm quan trọng để phân biệt thị trường chứng khoán so với thị trường thông thường.– Thị trường chứng khoán có đặc trưng nổi bật là nguồn tài chính trực tiếp, chủ sở hữu( bao gồm người có khả năng cung ứng vốn và người cần vốn) đều trực tiếp tham giathị trường, không có bên trung gian về tài chính Tuy vậy, đối với thị trường chứngkhoán tập trung, các giao dịch chứng khoán phải có sự tham gia của các trung gian tàichính làm môi giới Sự tham gia này để hạn chế rủi ro cho các nhà đầu tư khi tham giathị trường
- Trong thị trường chứng khoán, việc bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể được đặtlên trên hết Để thị trường chứng khoán có thể vận hành một cách có hiệu quả thì Nhànước phải thành lập một cơ quan quản lý chuyên ngành đối với thị trường chứngkhoán
- Thị trường chứng khoán là thị trường gần với thị trường cạnh tranh hoàn hảo, tất cảmọi người đều được tự do tham gia vào thị trường Không có một sự áp đặt giá cả nàotrên thị trường chứng khoán mà giá cả ở đây được hình thành dựa trên quan hệ cungcầu của thị trường và phản ánh các thông tin liên quan đến chứng khoán
- Thị trường chứng khoán cơ bản là một thị trường liên tục, sau khi các chứng khoánđược phát hành trên thị trường sơ cấp, nó có thể được mua bán nhiều lần trên thị
5 Giáo trình Pháp luật về thị trường chứng khoán- NXB Đại học Quốc gia Hà Nội (2017) - PGS.TS Lê Thị Thu Thủy ( chủ biên)- tr.43
Trang 9trường thứ cấp Thị trường chứng khoán đảm bảo cho những người đầu tư có thểchuyển chứng khoán họ nắm giữ thành tiền mặt bất kỳ lúc nào họ muốn.
– Đặc tính hấp dẫn nhất đối với các nhà đầu của thị trường chứng khoán là khả năngthanh toán Khả năng thanh toán trong thị trường chứng khoán phải minh bạch, rõ ràng,việc kinh doanh tự do sẽ dựa trên nguồn cung và cầu Giao dịch tài chính của thịtrường chứng khoán công khai, minh bạch để tất cả mọi người tham gia nắm bắt đượcthông tin giá cả đang giao dịch trên thị trường
3 Vai trò/chức năng của thị trường chứng khoán
3.1 Vai trò của thị trường chứng khoán
- Thị trường chứng khoán là kênh huy động vốn trung và dài hạn cho các doanhnghiệp Thị trường chứng khoán ra đời là nơi thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn nhàn rỗivào đầu tư sản xuất, kinh doanh, thu hút vốn đầu tư nước ngoài tạo thành nguồn vốnkhổng lồ tài trợ cho nền kinh tế thị trường Thị trường chứng khoán tạo cơ hội cho cácdoanh nghiệp huy động vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh thu nhiều lợi nhuậnthông qua cổ phiếu, trái phiếu, các loại chứng khoán khác
- Thị trường chứng khoán khuyến khích người dân tiết kiệm để đầu tư vào sản xuấtkinh doanh và sự luân chuyển vốn nhịp nhàng giữa người thừa vốn và người thiếu vốn.Với việc mua bán chứng khoán dễ dàng trên thị trường chứng khoán, nguồn tiền nhànrỗi trong dân cư sẽ được sử dụng một cách linh hoạt hơn, tạo ra lợi nhuận tránh tìnhtrạng vốn chết
- Thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sử dụng vốn hiệu quả,đồng thời là công cụ để nhà nước thực hiện chính sách phát triển xã hội Thị trườngchứng khoán kích thích các doanh nghiệp kinh doanh hoạt động hiệu quả Đối với Nhànước, thị trường chứng khoán là công cụ để Nhà nước thực hiện các chính sách,chương trình phát triển kinh tế xã hội của mình Thông qua thị trường chứng khoánNhà nước huy động vốn trong xã hội để thực hiện đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vàphát triển kinh tế - xã hội Đồng thời thông qua thị trường chứng khoán Nhà nướckiểm soát được một phần số lượng tiền tệ trong lưu thông và phần nào có tác dụngkiềm chế lạm phát, khuyến khích đầu tư, thực hiện chính sách phát triển kinh tế xã hội
- Thị trường chứng khoán là công đánh giá doanh nghiệp và phản ánh sự tăng trưởngcủa nền kinh tế Thông qua giá chứng khoán của doanh nghiệp , nhà đầu tư biết được
Trang 10khả năng kinh doanh của doanh nghiệp Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán còn là
“hàn thử biểu” của nền kinh tế Chỉ số gia tăng chứng khoán tăng (ví dụ, VN-Index)phản ánh sự tăng trưởng của nền kinh tế và ngược lại
3.2 Chức năng của thị trường chứng khoán
- Thị trường chứng khoán có rất nhiều chức năng Chúng ta có thể chia các chức năngcủa thị trường chứng khoán thành hai nhóm: các chức năng chung áp dụng đối với bất
kỳ một thị trường hàng hóa nào và các chức năng đặc trưng của thị trường chứngkhoán cho phép chúng ta cần phân biệt thị trường này với thị trường khác
- Các chức năng chung áp dụng đối với bất kỳ một thị trường hàng hóa, bao gồm:
+ Chức năng kinh doanh: có nghĩa là việc giao dịch, mua bán chứng khoán trên thịtrường chứng khoán có thể đem lại một khoản lợi nhuận nhất định
+ Chức năng định giá: thị trường chứng khoán bảo đảm quá trình hình thành giá cả và
sự vận động thường xuyên của nó
+ Chức năng cung cấp thông tin: thị trường chứng khoán đảm bảo việc công bố thôngtin liên quan đến hoạt động giao dịch trên thị trường này một cách chính xác, kịp thời.Mục đích của việc công bố thông tin là để đảm bảo tính công khai và minh bạch củathị trường
-Các chức năng của thị trường chứng khoán khác bao gồm:
+ Chức năng phân phối lại: Thị trường chứng khoán thực hiện việc phân phối lạinguồn vốn tài nguyên giữa các ngành và các lĩnh vực khác nhau, giữa các tầng lớp dân
cư trong xã hội
+ Chức năng bảo hiểm rủi ro về giá cả và về tài chính: Thị trường chứng khoán là thịtrường được đảm bảo tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư bởi lẽ giá
cả được hình thành khách quan theo quy luật cung cầu và chứng khoán được pháthành dựa trên cơ sở các thỏa thuận được phát hành, giao dịch và niêm yết chứngkhoán Vì thế, các nguồn vốn được hình thành, mua bán và chuyển nhượng một cách
Trang 11khách quan, đảm bảo quyền tự do ý chí của nhà đầu tư trong các giao dịch trên thịtrường chứng khoán.6
4 Phân loại thị trường chứng khoán
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, cấu trúc của thị trường chứng khoán có thể đượcphân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau Tuy nhiên, thông thường, ta có thể xem xét
ba cách thức cơ bản là phân loại theo hàng hoá, phân loại theo hình thức tổ chức củathị trường và phân loại theo quá trình luân chuyển vốn.Các phân tích sau đây sẽ thểhiện từng cách thức phân loại đó
4.1 Căn cứ vào phương thức tổ chức và giao dịch, thị trường chứng khoán được phân thành thị trường tập trung và thị trường phi tập trung
4.1.1 Thị trường chứng khoán tập trung ( Sở giao dịch chứng khoán – SGDCK)
- Khái niệm: Thị trường chứng khoán tập trung là thị trường ở đó việc giao dịch muabán chứng khoán được thực hiện tại một địa điểm tập trung gọi là sàn giao dịch
- Đặc điểm của thị trường chứng khoán tập trung:
· Thị trường chứng khoán tập trung có địa điểm giao dịch cố định
· Các chứng khoán được giao dịch tại thị trường chứng khoán tập trung phải thỏa mãnnhững điều kiện nhất định và hoàn tất thủ tục niêm yết, thường là chứng khoán củanhững công ty lớn, có danh tiếng, đã qua thử thách của thị trường
· Phương thức giao dịch chủ yếu là đấu giá hoặc ghép lệnh để hình thành giá cả cạnhtranh tốt nhất trong các phiên giao dịch
· Thành viên giao dịch có giới hạn, thường chỉ bao gồm những tổ chức và/ hoặc cánhân có đủ điều kiện, đã được cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực chứng khoán vàthị trường chứng khoán cấp phép thành viên
· Nhà nước quản lý thị trường thông qua các pháp luật chuyên ngành về CK & TTCK
4.1.2 Thị trường phi tập trung
6 PGS.TS Lê Thị Thu Thủy, Giáo trình Pháp luật về thị trường chứng khoán, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 42-46.
Trang 12a) Thị trường giao dịch qua quầy (thị trường OTC – Over The Counter)
- Khái niệm: Thị trường OTC là thị trường ở đó việc giao dịch mua bán chứng khoánkhông diễn ra tại một địa điểm tập trung mà thông qua hệ thống máy vi tính và điệnthoại kết nối giữa các thành viên của thị trường
- Đặc điểm của thị trường chứng khoán OTC:
· Thị trường chứng khoán OTC không có địa điểm giao dịch cố định Các giao dịchđược tiến hành qua mạng lưới các CTCK phân tán trên khắp quốc
· Chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC là những chứng khoán chưa được niêmyết trên bất kỳ thị trường tập trung nào và thường bao gồm các chứng khoán có tiêuchuẩn thấp hơn chứng khoán được niêm yết trên thị trường tập trung – chứng khoáncủa các công ty vừa và nhỏ
· Giá chứng khoán trên thị trường OTC được xác định chủ yếu theo phương thức thỏathuận
· Nhà nước quản lý đối với thị trường OTC thông qua các pháp luật chuyên ngành về
CK & TTCK
So sánh thị trường OTC với thị trường tập trung
Trang 13b) Thị trường chứng khoán “trao tay”- “chợ đen”
Là thị trường ở đó các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán không được thựchiện qua hệ thống giao dịch của thị trường tập trung và thị trường OTC, nó ra đời vàhoạt động một cách tự phát theo nhu cầu của thị trường
Thị trường chứng khoán tự do là thị trường mà hoạt động giao dịch mua bán,chuyển nhượng chứng khoán có thể diễn ra ở bất cứ đâu, vào bất cứ lúc nào, có thểthông qua các nhà môi giới hoặc do chính những người có nhu cầu đầu tư, mua bánchứng khoán thực hiện
Dưới góc độ pháp lý, thị trường chứng khoán tự do là thị trường mà sự ra đời, tồntại và hoạt động không được thừa nhận và bảo hộ bởi các pháp luật chuyên ngành vềchứng khoán và thị trường chứng khoán Nó ra đời và hoạt động bởi các nhu cầu tựphát của thị trường Do không được bảo hộ về mặt pháp lý nên việc mua bán chứngkhoán trên thị trường tự do chứa đựng nhiều rủi ro như lừa đảo, hàng giả, hàng không
có thật…
So sánh thị trường OTC và thị trường tự do
Trang 14Thị trường có tổ chức (Thị trường tập trung,Thị trường phi tập trung) và thị trường
tự do là hai bộ phận cùng song song tồn tại và phát triển Xét về lịch sử, thị trường tự
do ra đời sớm hơn rất nhiều so với thị trường có tổ chức Tuy nhiên, cùng với sự pháttriển của kinh tế thị trường cũng như sự gia tăng vai trò kiểm soát của Nhà nước thìquy mô và phạm vi hoạt động của thị trường tự do ngày càng giảm đi rõ rệt, ngược lạivới sự phát triển nhanh chóng của thị trường có tổ chức
4.1.3 Ngoài ra còn có thể chia thành thị trường Private và thị trường thứ ba.
· Thị trường Private là thị trường cổ phiếu của các công ty cổ phần nội bộ Cổ phiếucủa các công ty này có tính thanh khoản kém, giao dịch chủ yếu diễn ra giữa các cổđông cũ của công ty Do tính thanh khoản kém, giá cổ phiếu không phản ánh đúng giátrị của công ty và rủi ro thanh khoản cao, song công ty gần như không phải đối mặtvới các xung đột lợi ích giữa các nhóm cổ đông nên hoạt động khá ổn định
· Thị trường thứ ba là thị trường dành cho các chứng khoán đích danh và giao dịchkhối Các chứng khoán đích danh thường có điều kiện đặc biệt trong điều kiện chuyểnnhượng, vì vậy thường không được đăng ký giao dịch tại các thị trường chính thức.Đối với các giao dịch khối, sở giao dịch thường giới hạn khối lượng giao dịch, chẳnghạn tại Sở giao dịch chứng khoán New York, những giao dịch có khối lượng chứngkhoán lớn hơn 10.000 đơn vị thuộc giao dịch khối
4.2 Căn cứ vào kỳ hạn giao dịch
4.2.1 Thị trường trao ngay ( thị trường thời điểm)
Trang 15- Khái niệm: Thị trường giao ngay là thị trường mà việc giao nhận chứng khoán vàthanh toán được diễn ra ngay trong ngày giao dịch hoặc trong thời gian thanh toán bùtrừ theo quy định.7
- Đặc điểm của thị trường chứng khoán giao ngay:
· Việc ký hợp đồng giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện ở hiện tại
· Việc chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán và thanh toán được thực hiện ngaytrong ngày giao dịch, hoặc trong thời gian thanh toán bù trừ theo quy định của thịtrường mỗi nước (1,2 hoặc 3 ngày)
4.2.2 Thị trường giao dịch kỳ hạn
- Khái niệm: Thị trường kỳ hạn là thị trường giao dịch theo giá thỏa thuận khi ký kếthợp đồng nhưng việc giao nhận chứng khoán và thanh toán được diễn ra sau ngày giaodịch một khoảng thời gian nhất định quy định trong hợp đồng
- Đặc điểm của thị trường chứng khoán kỳ hạn:
· Việc ký hợp đồng giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện ở hiện tại
· Việc chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán và thanh toán được thực hiện trong mộtkhoảng thời gian nhất định theo hợp đồng đã ký kết Tùy theo cơ chế hoạt động của thịtrường theo kiểu Âu hay kiểu Mỹ mà ngày thực hiện hợp đồng (chuyển giao quyền sởhữu chứng khoán và thanh toán) được thực hiện sau ngày giao ngay một khoảng thờigian đã ký hay bất cứ ngày nào trong thời hạn của hợp đồng
4.2.3.Thị trường giao dịch tương lai
- Khái niệm : Là thị trường mua bán chứng khoán theo một loại hợp đồng định sẵn,giá cả được thực hiện trong ngày giao dịch nhưng việc giao nhận và thanh toán sẽ diễn
ra trong một kỳ hạn nhất định trong tương lai
- Đặc điểm:
7 Giáo trình Pháp luật về thị trường chứng khoán- NXB Đại học Quốc gia Hà Nội (2017) - PGS.TS Lê Thị Thu Thủy ( chủ biên)-tr55
Trang 16· Các hoạt động mua bán chứng khoán đã được tiêu chuẩn hóa nội dung và điều kiệnthực hiện hợp đồng
· Thực chất là hoạt động đầu cơ do vậy một cơ chế ký quỹ đảm bảo thực hiện hợpđồng dưới hình thức tiền đặt cọc đã được hình thành và bắt buộc các bên phải thựchiện
4.3 Căn cứ theo tính chất luân chuyển vốn trên thị trường chứng khoán
4.3.1.Thị trường sơ cấp (Primary Market)
- Khái niệm: Là thị trường phát hành chứng khoán mới thị trường chứng khoán sơ cấp
có vai trò tạo vốn cho tổ chức phát hành và chuyển hoá các nguồn vốn nhàn rỗi trongcông chúng vào công cuộc đầu tư.8
- Đặc điểm của thị trường sơ cấp:
· Trên thị trường sơ cấp, chứng khoán là phương tiện huy động vốn của tổ chức pháthành, là công cụ đầu tư các nguồn tiền nhàn rỗi của nhà đầu tư
· Chủ thể giao dịch: trên thị trường sơ cấp, người bán chứng khoán là các tổ chức pháthành ( Kho bạc Nhà nước, NHNN, công ty, tổ chức…), người mua là các nhà đầu tư
· Giá chứng khoán trên thị trường sơ cấp do tổ chức phát hành quyết định
· Kết quả giao dịch trên thị trường sơ cấp làm tăng vốn đầu tư cho tổ chức phát hành
·Tính chất hoạt động của thị trường: thị trường sơ cấp là thị trường không liên tục vì
nó chỉ hoạt động khi có đợt phát hành chứng khoán mới
4.3.2 Thị trường thứ cấp (Secondary Market)
- Khái niệm: Là thị trường diễn ra các giao dịch mua bán chứng khoán đã được pháthành trên thị trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho chứng khoán đã được pháthành
8 Giáo trình Pháp luật về thị trường chứng khoán- NXB Đại học Quốc gia Hà Nội (2017) - PGS.TS Lê Thị Thu Thủy ( chủ biên)-tr56
Trang 17- Vai trò của thị trường chứng khoán thứ cấp là thực hiện việc chuyển đổi quyền sởhữu chứng khoán giữa các nhà đầu tư chứng khoán Xét trên góc độ kinh tế vĩ mô, thịtrường chứng khoán thứ cấp là một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính thựchiện chức năng điều tiết vốn đầu tư giữa các ngành, các lĩnh vực, tạo ra một sự cân đốimới cho nền kinh tế.
- Đặc điểm của thị trường chứng khoán thứ cấp:
· Kết quả hoạt động của thị trường thứ cấp không làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế
mà chỉ làm thay đổi quyền sở hữu chứng khoán giữa các nhà đầu tư
· Tính chất hoạt động của thị trường: thị trường thứ cấp là thị trường liên tục Thịtrường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối quan hệ hữu cơ, gắn bó với nhau, làm tiền
đề cho sự phát triển của Thị trường sơ cấp có vai trò tạo hàng hóa cho thị trườngchứng khoán, thị trường thứ cấp làm gia tăng tính thanh khoản của chứng khoán, đảmbảo cho sự phát triển của thị trường sơ cấp
· Các công ty thực hiện nghiệp vụ môi giới và tự doanh chứng khoán là cầu nối giữanhững người đầu tư trên thị trường thứ cấp
Phân chia và nghiên cứu thị trường chứng khoán theo tiêu thức này có ý nghĩa quantrọng trong việc phân tích quan hệ cung cầu vốn trong nền kinh tế, đồng thời tạo cơ sở
để đánh giá hiện trạng nền kinh tế cũng như vị thế, uy tín của tổ chức phát hành thôngqua sự biến động giá chứng khoán trên thị trường thứ cấp
4.4 Theo đối tượng giao dịch
4.4.1.Thị trường cổ phiếu (Stock Market)
Trang 18- Khái niệm : Thị trường cổ phiếu, còn gọi là thị trường chứng khoán vốn, là thịtrường mà đối tượng giao dịch là các loại cổ phiếu của các công ty cổ phần Thịtrường cổ phiếu được coi là bộ phận cơ bản và giữ vị trí quan trọng nhất của hệ thốngthị trường chứng khoán Nói đến thị trường chứng khoán, người ta thường đồng nghĩavới thị trường cổ phiếu.
- Thị trường cổ phiếu có một số đặc điểm sau:
· Hàng hóa mua bán trên thị trường là các loại cổ phiếu (còn gọi là các chứng khoánvốn) như: cổ phiếu thường (còn gọi là cổ phiếu phổ thông), cổ phiếu ưu đãi
Người sở hữu cổ phiếu giữ vai trò là cổ đông, là đồng sở hữu một phần công ty cổphần – tổ chức phát hành ra cổ phiếu đó
· Do cổ phiếu không có thời hạn nên để thu hồi vốn đầu tư, nhà đầu tư không thể yêucầu tổ chức phát hành mua lại mà phải đem bán chúng (chuyển nhượng quyền sở hữu)cho những nhà đầu tư khác trên thị trường cổ phiếu
4.4.2 Thị trường trái phiếu (Bond Market)
- Khái niệm: Thị trường trái phiếu, còn gọi là thị trường nợ, là nơi giao dịch các loạitrái phiếu
- Thị trường trái phiếu có một số đặc điểm sau:
· Hàng hóa mua bán trên thị trường là các loại trái phiếu (còn gọi là các chứng khoánnợ) như: trái phiếu chính phủ và chính quyền địa phương, trái phiếu công ty, trái phiếu,
kỳ phiếu ngân hàng…
· Người sở hữu trái phiếu giữ vai trò là chủ nợ của tổ chức phát hành
· Do trái phiếu có kỳ hạn nên việc thu hồi vốn đầu tư có thể thực hiện trực tiếp tại tổchức phát hành (nếu trái phiếu đã đến ngày đáo hạn) Trường hợp ngược lại, nhà đầu
tư phải đem bán chúng (chuyển nhượng quyền sở hữu) cho những nhà đầu tư khác trênthị trường trái phiếu
4.4.3 Thị trường chứng chỉ quỹ đầu tư (Fund Certificate Market/ Fund Stock Market)
Trang 19- Khái niệm: Thị trường chứng chỉ quỹ là nơi giao dịch các loại chứng chỉ quỹ.
- Thị trường chứng chỉ quỹ có một số đặc điểm sau:
· Hàng hóa mua bán trên thị trường là các loại chứng chỉ quỹ do các công ty quản lýquỹ đầu tư phát hành
· Người sở hữu chứng chỉ quỹ là người ủy thác cho công ty quản lý quỹ thực hiện hoạtđộng đầu tư tập thể theo điều lệ của quỹ Nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàngngày đối với hoạt động đầu tư của quỹ
· Tùy theo đặc điểm của từng loại quỹ đầu tư, người sở hữu chứng chỉ quỹ có thể thuhồi vốn đầu tư trực tiếp tại quỹ, hoặc đem bán chúng (chuyển nhượng quyền sở hữu)cho những nhà đầu tư khác trên thị trường chứng chỉ quỹ
4.4.4 Thị trường chứng khoán phái sinh (Derivatives Market)
- Khái niệm: Thị trường chứng khoán phái sinh là nơi giao dịch các loại chứng khoánphái sinh như quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn, hợp đồng kỳ hạn, hợpđồng tương lai Thị trường chứng khoán phái sinh là thị trường mà sự ra đời và pháttriển của nó bắt nguồn từ chính việc phát hành, giao dịch các loại chứng khoán gốc Sựtồn tại và phát triển của thị trường này có ý nghĩa quan trọng, góp phần thúc đẩy thịtrường cổ phiếu và thị trường trái phiếu hoạt động sôi động và hiệu quả hơn
- Tiêu thức phân chia này giúp chúng ta có thể đánh trình độ phát triển của nền kinh tếnói chung cũng như sự phát triển của thị trường chứng khoán nói riêng Với nhữngnước phát triển, sự phát triển của thị trường cổ phiếu là biểu trưng cho sự phát triểncủa nền kinh tế Song hành cùng với sự phát triển và hoàn thiện của thị trường, cácloại chứng khoán phái sinh cũng ngày càng gia tăng để đáp ứng nhu cầu đa dạng, đồngthời cung cấp các công cụ phòng chống rủi ro cho các nhà đầu tư, kinh doanh chứngkhoán
5 Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường chứng khoán
Nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán được hiểu là các nguyên tắc chiphối, điều chỉnh trong suốt quá trình hoạt động của thị trường chứng khoán Thịtrường chứng khoán hoạt động theo các nguyên tắc chung và riêng
Trang 20- Các nguyên tắc chung áp dụng đối với thị trường chứng khoán là:i, Tôn trọng quyền
tự do mua, bán, kinh doanh và dịch vụ của tổ chức, cá nhân trên thị trường; ii, Tự chịutrách nhiệm về rủi ro; iii, Tuân thủ quy định của pháp luật
- Các nguyên tắc riêng áp dụng đối với thị trường chứng khoán là: Công bằng, côngkhai, minh bạch và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư chứng khoán Cácnguyên tắc này cũng là cơ sở để phân biệt thị trường chứng khoán với các loại thịtrường hàng hóa khác trong nền kinh tế
Ở Việt Nam, pháp luật chứng khoán cũng quy định rõ các nguyên tắc trên đối với thịtrường Chứng khoán (Điều 5 Luật Chứng khoán Việt Nam năm 2019)
+ Đối với các nguyên tắc chung của thị trường chứng khoán thì các tổ chức, cá nhânkhi tham gia thị trường này đều được pháp luật cho phép, tôn trọng và bảo vệ cácquyền và lợi ích hợp pháp như quyền tự do mua bán chứng khoán, kinh doanh và dịch
vụ chứng khoán Tất cả các hoạt động diễn ra trên thị trường chứng khoán bởi các chủthể tham gia thị trường đều phải tuân thủ pháp luật do nhà nước ban hành và tự chịutrách nhiệm về rủi ro đối với hành vi của mình
+ Đối với các nguyên tắc đặc thù của thị trường chứng khoán:
Nguyên tắc công bằng: Mọi chủ thể tham gia thị trường đều phải tuân thủ nhữngquy định chung, được đối xử bình đẳng không phụ thuộc vào các yếu tố như địa vịpháp lý, tôn giáo, dân tộc, giàu hay nghèo Tất cả các chủ thể tham gia thị trườngchứng khoán đều có quyền bình đẳng với nhau và bình đẳng trước pháp luật và các cơquan nhà nước có thẩm quyền
Nguyên tắc công khai, minh bạch: Tất cả các hoạt động trên thị trường chứngkhoán đều phải đảm bảo tính công khai Sở giao dịch chứng khoán công bố các thôngtin về giao dịch chứng khoán trên thị trường Các tổ chức niêm yết công bố công khaicác thông tin tài chính định kỳ hàng năm của công ty, các sự kiện bất thường xảy rađối với công ty, nắm giữ cổ phiếu của giám đốc, người quản lý, cổ đông đa số Cácthông tin càng được công bố công khai minh bạch, thì càng thu hút được nhà đầu tưtham gia vào thị trường chứng khoán
Trang 21Nguyên tắc trung gian: Có nghĩa là các giao dịch chứng khoán được thực hiệnthông qua tổ chức trung gian là các thành viên của Sở giao dịch Thông qua các nghiệp
vụ kinh doanh chứng khoán như môi giới, tư vấn đầu tư chứng khoán
Nguyên tắc đấu giá: Yêu cầu các lệnh giao dịch được nhập vào hệ thống máy chủcủa Sở giao dịch chứng khoán và giá chứng khoán được xác định thông qua việc đấugiá giữa các lệnh mua và lệnh bán9
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1 Chủ thể của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là thị trường có sự tham gia của các chủ thể: Chủ thể pháthành, nhà đầu tư, cơ quan quản lý thị trường và các tổ chức cung ứng dịch vụ thịtrường chứng khoán Giữa các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán có mối quan
hệ nhất định Đặc biệt, hoạt động của các chủ thể tham gia thị trường chứng khoánchịu sự chi phối bởi ủy ban chứng khoán nhà nước
1.1 Chủ thể phát hành
Trong luật chứng khoán năm 2019, có đề cập tới một khái niệm là tổ chức pháthành Theo đó, tổ chức phát hành là tổ chức thực hiện chào bán, phát hành chứngkhoán Theo TS Bạch Đức Hiển, gọi chủ thể phát hành là nhà phát hành Khái niệmnhà phát hành được định nghĩa như sau: Nhà phát hành là các tổ chức cần vốn và huyđộng vốn thông qua thị trường, là người cung cấp các chứng khoán - hàng hóa của thịtrường chứng khoán…Theo quan điểm của PGS.TS Lê Thị Thu Thủy, gọi chủ thể này
là tổ chức phát hành chứng khoán Tổ chức phát hành chứng khoán là tổ chức thựchiện chào bán chứng khoán dưới hình thức chào bán riêng lẻ hoặc chào bán ra côngchúng hoặc cả hai hình thức nêu trên Các định nghĩa nêu trên này đều có một điểmchung, đó chính là chủ thể phát hành chứng khoán chỉ có thể là tổ chức có tư cáchpháp nhân hoặc là Nhà nước, cá nhân không được phát hành chứng khoán Thôngthường, các tổ chức được phát hành chứng khoán bao gồm:
- Chính phủ và chính quyền địa phương: Phát hành trái phiếu chính phủ và tráiphiếu địa phương Chính phủ là một trong những chủ thể phát hành nhiều nhất của thịtrường, với mục đích là huy động vốn, bù đắp sự thiếu hụt vốn của ngân sách nhànước, đồng thời, giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế của mình
9 PGS.TS Lê Thị Thu Thủy, Giáo trình Pháp luật về thị trường chứng khoán, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 72
Trang 22- Các doanh nghiệp (Có thể là công ty trách nhiệm hữu hạn…): Phát hành cổphiếu và trái phiếu doanh nghiệp Thị trường chứng khoán là một kênh rất quan trọnggiúp cho doanh nghiệp có thể huy động được vốn trung và dài hạn với một số lượngvốn lớn.
- Các tổ chức tài chính: Phát hành các công cụ tài chính như trái phiếu, chứng chỉthụ hưởng… phục vụ cho hoạt động của họ
Khi tham gia vào thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư có các nghĩa vụ đồng thời,
có các quyền và lợi ích hợp pháp phụ thuộc vào loại chứng khoán mà nhà đầu tư sởhữu
Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư thông qua các biệnpháp và công cụ nhất định
Nhà đầu tư có thể chia làm 2 loại là: Nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư chuyên nghiệp
1.2.1 Nhà đầu tư cá nhân
Nhà đầu tư cá nhân là những người tham gia mua bán chứng khoán trên thị trườngchứng khoán với mục đích là tìm kiếm lợi nhuận.11
Các nhà đầu tư này vốn là các cá nhân nhàn rỗi tạm thời, tham gia vào thị trườngchứng khoán để kiếm lời Khi nền kinh tế chưa phát triển, những nhà đầu tư này10Giáo trình Pháp luật về thị trường chứng khoán- NXB Đại học Quốc gia Hà Nội (2017) - PGS.TS Lê Thị Thu Thủy ( chủ biên)- tr.67
11 Giáo trình thị trường chứng khoán- Học viện tài chính; TS Bạch Đức Hiển- Tr22
Trang 23thường đưa vốn của mình đầu cơ vào bất động sản hoặc cất trữ những tài sản an toàn(vàng…), ít mất giá Khi nền kinh tế phát triển, các nhà đầu tư cá nhân lại lựa chọn thịtrường chứng khoán để đầu tư.
Tuy nhiên, trong đầu tư luôn gắn liền với rủi ro, lợi nhuận càng cao thì rủi ro cànglớn và ngược lại Chính vì vậy, các nhà đầu tư này luôn phải lựa chọn cho mình nhữnghình thức đầu tư phù hợp Nhìn chung, có hai bộ phận nhà đầu tư cá nhân có thái độkhác nhau đối với rủi ro
Nhà đầu tư chấp nhận rủi ro: Với mục đích tối đa hóa lợi nhuận thu được, họ luôntập trung vào các đợt phát hành nhất định Đây thường là những nhà đầu tư ngắn hạn,không đầu tư lâu dài vào bất cứ loại chứng khoán nào
Nhà đầu tư không thích rủi ro: Đây là những nhà đầu tư rất bảo thủ trong phươngthức đầu tư Họ tìm cách để giảm rủi ro và tìm kiếm lợi nhuận từ những chứng khoán
có rủi ro thấp Đây thường là những nhà đầu tư nhỏ, đầu tư dài hạn vào số chứngkhoán nhất định
1.2.2 Nhà đầu tư có tổ chức
- Nhà đầu tư có tổ chức hay còn được gọi là nhà đầu tư chuyên nghiệp là các nhà đầu
tư thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường Các tổ chứcnày thường có các bộ phận chức năng bao gồm nhiều chuyên gia có kinh nghiệm đểnghiên cứu thị trường và đưa ra các quyết định đầu tư 12
- Nhìn chung, một số nhà đầu tư chuyên nghiệp trên thị trường như: Các công ty đầutư; Các công ty bảo hiểm; Các quỹ hưu trí và các quỹ bảo hiểm xã hội khác; Các công
ty tài chính
1.3 Cơ quan quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán
Sự quản lý của Nhà nước đối với thị trường chứng khoán là nhân tố rất quan trọng
để đảm bảo thị trường chứng khoán hoạt động một cách trật tự, công bằng và đúngpháp luật 13
Tuy nhiên, mô hình cơ quan quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán cónhững điểm khác nhau ở từng quốc gia
Nhưng khi nhìn nhận khái quát có thể thấy, có hai loại mô hình về cơ quan quản lýnhà nước về thị trường chứng khoán:
12Giáo trình thị trường chứng khoán- Học viện tài chính; TS Bạch Đức Hiển- Tr23
13 Giáo trình thị trường chứng khoán- Học viện tài chính; TS Bạch Đức Hiển- Tr.35
Trang 24Giao trách nhiệm quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán cho một Bộ củaChính phủ (Cụ thể là Bộ Tài chính) : Ví dụ như ở Nhật Bản, Hàn Quốc…
Thành lập một cơ quan độc lập trực thuộc Chính phủ : Ví dụ như ở Mỹ…
Ở Việt Nam, chính phủ thống nhất việc quản lý nhà nước đối với thị trường chứngkhoán do Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước chính phủ thực hiện việc quản lý Ủyban Chứng khoán Nhà nước là cơ quan thuộc Bộ Tài chính trực tiếp quản lý và điềuhành thị trường chứng khoán (Theo quy định tại điều 8 khoản 2 Luật chứng khoánnăm 2019) Ngoài ra, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạncủa mình, có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính thực hiện quản lý nhà nước về thịtrường chứng khoán Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn củamình có trách nhiệm thực hiện việc quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoántại địa phương
1.4 Các tổ chức cung ứng dịch vụ thị trường chứng khoán
Các tổ chức kinh doanh chứng khoán: Theo Luật chứng khoán 2019, kinh doanhchứng khoán là việc thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán,bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, quản lý quỹ đầu tưchứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và cung cấp dịch vụ về chứngkhoán theo quy định tại Điều 86 của Luật này Thị trường chứng khoán có sự tham giacủa các chủ thể kinh doanh chứng khoán như công ty chứng khoán, công ty quản lýquỹ, … Sau đây, chúng ta hãy cùng đi tìm hiểu cụ thể hơn về các chủ thể kinh doanhchứng khoán
Công ty chứng khoán: Là một loại hình định chế trung gian đặc biệt trên thị trườngchứng khoán, thực hiện hoạt động kinh doanh chứng khoán như một ngành nghề chính.Vai trò của công ty chứng khoán được thể hiện qua một số nội dung như huy động vốn,hình thành giá cả chứng khoán, thực thi tính hoán tệ, tư vấn đầu tư và tạo ra sản phẩmmới
Vai trò huy động vốn: Công ty chứng khoán là một trong những trung gian tàichính có chức năng huy động vốn, có chức năng dẫn nguồn vốn chảy từ một hoặc một
số bộ phận nào đó của nền kinh tế dư thừa vốn đến bộ phận khác của nền kinh tế đangthiếu vốn Các công ty chứng khoán thường đảm nhận vai trò này thông qua hoạt độngbảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán
Vai trò hình thành giá cả thị trường: Trên thị trường sơ cấp khi tiến hành hoạt độngbảo lãnh phát hành chứng khoán cho các tổ chức, công ty chứng khoán thực hiện chức
Trang 25năng hình thành giá cả thông qua việc xác định và tư vấn cho tổ chức phát hành chứngkhoán đối với các chứng khoán trong đợt phát hành Mức giá này thường được cáccông ty chứng khoán xác định trên cơ sở tìm hiểu, tiếp xúc và thỏa thuận với các nhàđầu tư tiềm năng lớn Trên thị trường thứ cấp, công ty chứng khoán luôn có vai trògiúp các nhà đầu tư đánh giá đúng thực tế và chính xác về giá trị các khoản đầu tư củamình Công ty chứng khoán còn có chức năng quan trọng là can thiệp trên thị trường,góp phần điều tiết giá cả chứng khoán Tại một số nước, công ty chứng khoán phảithực hiện việc dành ra một tỷ lệ nhất định giao dịch của mình là phải mua chứngkhoán vào khi giá chứng khoán đang giảm và bán ra khi giá chứng khoán cao.
Vai trò thực thi tính hoán tệ của chứng khoán: Các công ty chứng khoán luôn sẵnsàng đảm nhận chức năng chuyển đổi của các nhà đầu tư ( Đổi từ tiền mặt thànhchứng khoán và ngược lại), giúp cho các nhà đầu tư ít phải chịu thiệt hại nhất trongquá trình đầu tư
Thực hiện tư vấn đầu tư: Dịch vụ tư vấn ở đây có thể bao gồm thu thập thông tinphục vụ cho mục đích của khách hàng; Cung cấp thông tin về khả năng đầu tư cũngnhư triển vọng ngắn hoặc dài hạn của các khoản đầu tư trong tương lai; Cung cấpthông tin về chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ liên quan đến khoản đầu tư màkhách hàng đang cân nhắc.14
Công ty quản lý quỹ: là doanh nghiệp được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấpGiấy phép thành lập và hoạt động kinh doanh chứng khoán, thực hiện nghiệp vụ quản
lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và tư vấn đầu tưchứng khoán Công ty quản lý quỹ là doanh nghiệp được thành lập theo hình thứccông ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn để cung cấp dịch vụ quỹ đầu tưchứng khoán và dịch vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán
Chi nhánh công ty chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam: là đơn vị phụ thuộc củacông ty chứng khoán nước ngoài, không có tư cách pháp nhân, được thành lập theoquy định của pháp luật Việt Nam và được công ty mẹ chịu trách nhiệm trước pháp luậtViệt Nam về mọi hoạt động của mình tại Việt Nam
Chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam: là đơn vị phụ thuộc củacông ty quản lý quỹ nước ngoài, không có tư cách pháp nhân, được thành lập theo quyđịnh của pháp luật Việt Nam và được công ty mẹ chịu trách nhiệm trước pháp luậtViệt Nam về mọi hoạt động của mình tại Việt Nam (Thông tư 97/2020/TT-BTC)
14 Giáo trình thị trường chứng khoán- Học viện tài chính; TS Bạch Đức Hiển- Tr.27;28;29
Trang 26Các ngân hàng thương mại: Hoạt động của ngân hàng của ngân hàng thương mạitrong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán là tùy theo điều kiện và luật pháp của mỗinước quy định
Ngân hàng đa năng: không có sự tách biệt giữa công nghiệp ngân hàng và côngnghiệp chứng khoán; cung cấp đầy đủ các dịch vụ ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm:
Hà Lan, Đức, Thụy Sĩ…
Có sự tách biệt giữa công nghiệp ngân hàng và công nghiệp chứng khoán, điểnhình như ở Mỹ và Nhật Bản
2.Pháp luật về một số hoạt động của thị trường chứng khoán
2.1 Pháp luật về Chào bán chứng khoán
Chào bán chứng khoán dưới góc độ pháp lý là hoạt động phát hành chứng khoángắn liền với quá trình chứng khoán được chuyển từ tổ chức phát hành sang nhà đầu tưtheo trình tự, thủ tục luật định.Bản chất của chào bán chứng khoán chính là huy độngnguồn vốn Chào bán chứng khoán có vai trò quan trọng đối với chủ thể chào bán và
cả nền kinh tế
- Đối với chủ thể phát hành là chính phủ thì việc chào bán chứng khoán có khả nănggiúp chính phủ thu hút được nguồn vốn lớn từ khắp nơi trên toàn quốc Như vậy khingân sách thâm hụt chính phủ vẫn có thể huy động vốn để thỏa mãn nhu cầu chi tiêucủa mình, đặc biệt là để thực hiện các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng cơ sở mà khôngphải dùng đến những biện pháp tạo tiền có nguy cơ dẫn đến lạm phát
- Đối với doanh nghiệp, chào bán chứng khoán là kênh huy động vốn quan trọng giúpcác doanh nghiệp giải quyết khó khăn về vốn và không bị lệ thuộc thái quá vào vốn tíndụng ngân hàng mà vẫn có thể thỏa mãn nhu cầu về vốn trong kinh doanh
- Đối với nền kinh tế-xã hội, chào bán chứng khoán sẽ đem lại nguồn vốn cần thiết đểthúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ví dụ khi Chính phủ chào bán trái phiếu hay tínphiếu, nguồn vốn huy động thường được dùng vào việc nâng cấp, xây dựng mới haythực hiện một hoặc một vài dự án phát triển kinh tế xã hội nào đó đã nằm trong danhmục chi ngân sách, được các cấp có thẩm quyền phê duyệt tuy nhiên ngân sách dựkiến không đủ dẫn đến chi tiêu không đủ và vì vậy thông qua việc chào bán sẽ huyđộng được vốn tránh tình trạng thiếu hụt ngân sách dẫn đến trì trệ cho việc phát triển
dự án nói riêng và kinh tế xã hội nói chung
2.1.1 Pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng