Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là một trong những trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn của cả nước, đặc biệt là sản xuất lúa và cây vụ Đông. Bài viết trình bày việc xác định được các giải pháp khoa học và công nghệ chuyển đổi cơ cấu cây trồng đạt hiệu quả kinh tế cao phục vụ xây dựng nông thôn mới cho vùng đồng bằng sông Hồng.
Trang 1Thông tin chung
Tên Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng đồng bộ các giải pháp khoa học và công nghệ chuyển đổi cơ cấu cây trồng đạt hiệu quả kinh tế cao vùng đồng bằng sông Hồng
Cơ quan chủ trì: Trung tâm Chuyển giao CN và Khuyến nông
Hiện nay, vùng Đồng bằng Sông Hồng được xem là vùng có hệ số sử dụng đất nông nghiệp cao nhất cả nước Trong những năm gần đây, quá trình đô thị hóa nhanh, mạnh tạo nên áp lực lớn về dân số cho vùng, mật độ dân số là 1.225 người/km2, cao gấp 4,8 lần so với mật độ dân số trung bình của cả nước Bên cạnh đó, vùng có điều kiện khí hậu thay đổi liên tục với 4 mùa xuân, hạ, thu và một mùa đông lạnh giá đã tạo nên sự đa
cây trồng tỏ ra có hiệu quả kinh tế ở diện rộng với vai trò quan trọng của cây vụ đông trong cơ cấu sản xuất 2 vụ lúa (2 lúa- đậu tương đông, 2 lúa- khoai tây đông, 2 lúa- ngô đông, 2 lúa- rau, màu đông ) Tuy nhiên, thực tế sản xuất ở các địa phương cần được
bổ sung các TBKT mới về giống, biện pháp kỹ thuật và cơ cấu cây trồng hợp lý với điều kiện sản xuất và sinh thái cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế
Nghị quyết số 26- NQ/TW, ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X “về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”; ban hành nhằm hỗ trợ nông dân nâng cao đời sống, xoá đói nghèo, giảm khoảng cách chênh lệch giữa người giàu và người nghèo trong xã hội Thủ tướng Chính phủ đã Quyết định phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020, trong đó có vùng đồng bằng sông Hồng Trong bộ tiêu chí về xây dựng nông thôn mới, một số tiêu chí về kinh
tế và tổ chức sản xuất (liên quan đến sản xuất nông nghiệp), tập trung giải quyết có 3 mục tiêu: Thu nhập bình quân đầu người/năm so với mức bình quân chung của tỉnh tăng 1,5% so với bình quân chung của tỉnh; Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp: 25%; Có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả
Trang 2Trong những năm gần đây nhiều kết quả nghiên cứu và mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã được chuyển giao và ứng dụng hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng Tuy nhiên việc phân tích đánh giá cụ thể các kết quả này để trở thành
hệ thống lý luận để phục vụ việc xây dựng nông thôn mới cho vùng chưa được hoàn thiện Việt Nam chưa xây dựng được hệ thống các giải pháp KHCN đồng bộ (cánh đồng mẫu lớn, cơ giới hóa trong sản xuất, tổ chức nông dân, liên kết thị trường ) áp dụng cho toàn bộ cơ cấu cây trồng trong 1 năm để thúc đẩy và phát huy hết tiềm năng hiệu quả kinh tế- xã hội các hệ thống cây trồng của vùng Vấn đề nghiên cứu về chuỗi giá trị cho 1 số cây trồng hàng hóa chủ lực chưa được tập trung, vì vậy nhiều mô hình cho năng suất cây trồng cao nhưng chưa cho hiệu quả kinh tế cao
Chính vì những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ứng dụng đồng
bộ các giải pháp khoa học và công nghệ chuyển đổi cơ cấu cây trồng đạt hiệu quả kinh
tế cao vùng đồng bằng sông Hồng” phục vụ xây dựng nông thôn mới là cấp thiết, đáp ứng yêu cầu thực tế đang đặt ra
2.1 Mục tiêu chung
Xác định được các giải pháp khoa học và công nghệ chuyển đổi cơ cấu cây trồng đạt hiệu quả kinh tế cao phục vụ xây dựng nông thôn mới cho vùng ĐBSH
2.2 Mục tiêu cụ thể
sông Hồng; tuyển chọn 3 giống cây trồng mới phù hợp cho từng cơ cấu cây trồng
được nghiệm thu cấp cơ sở
từng cơ cấu cây trồng, hiệu quả kinh tế tăng tối thiểu 20% so với cơ cấu cũ
bằng sông Hồng (ĐBSH)
3.1.1 Lợi thế phát triển nông nghiệp nông thôn vùng ĐBSH
vùng động lực phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật của các tỉnh phía Bắc và cả nước
Trang 3Vùng ĐBSH có tổng tích ôn cả năm khoảng 8500oC cho phép canh tác nhiều loài cây
đến tháng 4 năm sau rất thuận lợi cho các loại cây rau, màu vụ đông phát triển, mà các vùng khác không có được
Đất đai rất màu mỡ do phù sa hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp Hệ thống
nước, năng suất đạt 11-12 tấn/ha/2 vụ/năm Ngoài ra còn có nhiều loại rau màu vụ đông
Hưng Yên, cam Canh, bưởi Diễn…
đặc biệt là hệ thống công trình thuỷ lợi khá hoàn chỉnh (80% diện tích được tưới tiêu
Trang 4năng suất cây trồng mâu thuẫn với năng suất lao động, tỷ suất sản phẩm hàng hóa thấp hơn các vùng khác
rau màu, khoai tây, bí xanh đang được áp dụng và mở rộng diện tích nhưng cần có quy
3.2 Điều tra, đánh giá thực trạng cơ cấu cây trồng vùng ĐBSH gắn với các giải pháp
+ Năng suất và sản lượng: ĐBSH có sản lượng lúa năm 2012 là 6.881,3 nghìn tấn, chiếm
+ Năng suất và sản lượng: Năng suất ngô của ĐBSH đạt 4,67 tấn/ha, cao hơn so với
+ Năng suất và sản lượng: NSTB khoai lang của vùng ĐBSH là 9,5 tấn/ha, thấp hơn
lượng toàn quốc
Trang 5+ Diện tích: Tổng diện tích lạc của vùng là 19,3 nghìn ha, chiếm diện tích nhỏ so với
+ Năng suất và sản lượng: Vùng ĐBSH là nơi có trình độ thâm canh lạc khá cao, NSTB
Nam Định NSTB đạt 3,9 tấn/ha gần gáp đôi NSTB toàn quốc Về sản lượng toàn vùng đạt 52,0 nghìn tấn, chiếm 11,1% sản lượng toàn quốc
+ Năng suất và sản lượng: Đậu tương được trồng ở ĐBSH chủ yếu trong vụ đông, năm
2012 NSTB đậu tương của vùng là 1,82 tấn/ha, cao hơn so với toàn quốc (1,45 tấn/ha)
hơn về chất lượng, thuận lợi cho thu hoạch, chế biến, tiêu thụ sản phẩm Những nơi có
đô thị chiếm 1,9 - 2,6% diện tích canh tác
Trang 6dụng mở rộng cơ cấu cây trồng 3 - 4 vụ/năm để tăng thu nhập cho nông dân Tuy nhiên,
Địa phương khảo sát/điều tra
DT (ha)
8 Dưa hấu - lúa mùa
9 KtâyĐxuân - Dưa gang
Trang 7Loại cơ cấu cây trồng
Địa phương khảo sát/điều tra
DT (ha)
* Cơ cấu cây trồng
chuyên rau màu
Nguồn: CETDAE - năm 2013
Trang 8- Cơ cấu cây trồng của vùng rất đa dạng, hiện có trên 20 cơ cấu cây trồng hiện đang được gieo trồng phổ biến trên các chân đất chính: 2 lúa; 2 lúa + 1 màu; 1 lúa + 2 màu và đất chuyên màu Nhưng các cơ cấu cần nghiên cứu giải quyết vấn đề chuyển đổi cơ cấu
* Trên chân đất 2 lúa-1 màu:
+ Lúa Xuân - lúa Mùa - đậu tương Đông
+ Lúa Xuân - lúa Mùa - khoai tây Đông
+ Lúa Xuân - lúa Mùa - bí xanh Đông
+ Lúa Xuân - lúa chét - bí xanh Thu Đông
+ Lúa Xuân - lúa chét - ngô Thu Đông
* Trên chân đất 1 lúa-2 màu:
+ Lạc Xuân - lúa Mùa - Khoai tây Đông
* Trên chân đất chuyên màu:
+ Lạc Xuân - ngô Hè Thu - cải bắp Đông
nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng của vùng ĐBSH
3.3.1.1 Nhóm cây lúa
a Thí nghiệm lựa chọn giống lúa phù hợp
Triển khai tại 4 điểm Ứng Hòa và Ba Vì (Hà Nội), Khoái Châu (Hưng Yên) và Hải Hậu (Nam Định)
Kết quả theo dõi sức sinh trưởng giai đoạn mạ của các giống lúa trong vụ mùa 2013 ở cùng thời điểm sau gieo là 15 ngày cho thấy: các giống lúa thuộc nhóm Indica thể hiện
ưu thế hơn so với các Japonica (ĐS1, J01, ĐS3) do các giống Japonica chịu nóng kém
ở giai đoạn mạ Chiều cao cây mạ và tốc độ ra lá của các giống lúa Japonica nghiên cứu đều kém hơn so với giống đối chứng BT7 và các giống Indica trong thí nghiệm tại cả 4 điểm thí nghiệm Trong 4 điểm thí nghiệm có điểm tại Ba Vì có điều kiện khí hậu và nhiệt độ thấp hơn các điểm khác trong điều kiện vụ mùa nên các giống Japonica sinh trưởng tốt hơn (điểm 1) Các giống Indica thí nghiệm đều có chiều cao cây mạ và số lá
Trang 9mạ vượt giống đối chứng BT7 và có sức sinh tốt (sức sinh trưởng mạ đều ở điểm 1), các giống Japonica sinh trưởng ở mức trung bình (điểm 5)
Khả năng chống chịu sâu bệnh của từng giống trong điều kiện thí nghiệm đồng ruộng, không lây nhiễm nhân tạo không phun thuốc định kỳ chỉ phòng trừ khi sâu bệnh nặng đối với một số sâu bệnh chính trên lúa cho nhận xét: các giống lúa tham gia thí nghiệm trong điều kiện vụ mùa 2013, nhiễm nhẹ đối với các loại sâu bệnh hại chính trên lúa Cụ thể: Các giống thuộc nhóm Japonica không nhiễm rầy nâu; nhiễm rất nhẹ đối với bệnh bạc lá, đạo ôn, khô vằn, sâu cuốn lá; nhiễm nhẹ sâu đục thân Các giống thuộc nhóm Indica bị nhiễm ở mức nhẹ đối với đạo ôn, sâu cuốn lá, sâu đục thân, rầy nâu; nhiễm nhẹ đến trung bình bạc lá, khô vằn (giống SH2 nhiễm trung bình) Trong khi đó giống đối chứng BT7 chỉ nhiễm nhẹ đạo ôn và rầy nâu nhưng lại nhiễm khô vằn, sâu cuốn lá, sâu đục thân ở mức nhẹ đến trung bình; nhiễm trung bình đến nặng đối với bệnh bạc lá Thời gian sinh trưởng và các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất:
là thuộc nhóm trung ngày (116-119 ngày), còn các giống lúa thí nghiệm khác và giống đối chứng BT7 đều thuộc nhóm ngắn ngày (từ 105-112 ngày) Thời gian sinh trưởng của một giống thí nghiệm ở các điểm thí nghiệm khác nhau có sự biến động không nhiều Thời gian sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm trong vụ mùa 2013 dao động trong từ 105 ngày (HT6 tại Nam Định)-119 ngày (ĐS1 tại Ba Vì) Chỉ trừ giống ĐS1 có TGST trên 110 ngày tại cả 4 điểm thí nghiệm còn các giống lúa còn lại đều có TGST tương đương với giống đối chứng BT7 (106-109 ngày)
chiều cao thấp hơn so với giống đối chứng BT7, các giống thuộc nhóm Indica có chiều cao cây tương đương và cao hơn so với giống đối chứng BT7
bông/m2 tương đương và cao hơn so với giống đối chứng BT7 (233-237 bông), các giống có số bông/m2 cao như HT9, HT6, ĐS1 dao động từ 236 bông (ĐS1 tại Nam Định) đến 245 bông (HT9 tại Ứng Hòa)
thấp hơn và tương đương với giống đối chứng BT7 (121-125 hạt) tất cả các giống lúa thí nghiệm còn lại đều có số hạt chắc/bông cao hơn hẳn so với giống đối chứng BT7 dao động từ 123 (HT6 tại Ba Vì)-138 hạt chắc/bông (SH2 tại Ứng Hòa) Sau giống SH2 thì các giống ĐS3, HT9 và J01 cũng là các giống có số hạt chắc/bông cao
hơn so với các giống lúa thuộc nhóm Indica Giống có khối lượng 1000 hạt thấp nhất tại
Trang 10cả 4 điểm triển khai là giống SH2 (21,2-21,6 g) Giống có khối lượng 1000 hạt cao nhất
là giống ĐS3 dao động từ 23,3-23,6 g
tham gia thí nghiệm đều cho NSTT cao hơn hẳn so với giống đối chứng BT7 (45,1-47,9 tạ/ha) và tất cả đều cao hơn BT7 ở mức có ý nghĩa ở độ tin cậy 95% NSTT giữa các giống tại cùng 1 điểm triển khai không chênh lệch nhau nhiều Ba giống HT9, ĐS3 và J01 đều cho NSTT vượt trội hơn cả tại cả 4 điểm triển khai, theo thứ tự cao nhất là HT9
các điểm triển khai
Các giống triển vọng được lựa chọn là HT9, ĐS3 và J01 thuộc nhóm giống ngắn ngày, sinh trưởng phát triển tốt phù hợp với điều kiện tại các điểm triển khai thí nghiệm, nhiễm nhẹ các sâu bệnh hại chính
cấy của giống lúa HT9 ở các điểm thí nghiệm Mạ có sức sinh trưởng tốt (điểm 1) Đối với hai giống thuộc nhóm Japonica là ĐS3 và J01 thì có chiều cao mạ và số lá trung bình thấp hơn so với giống HT9, mức sinh trưởng trung bình (điểm 5) Điều này chứng
tỏ, mạ của hai giống lúa Japonica: ĐS3 và J01 chịu nóng kém hơn giống HT9 nên sức sinh trưởng kém hơn HT9 ở các điểm so sánh
giống ở cả ba điểm triển khai Nhưng các giống cho thấy nhóm các giống Japonica nhiễm nhẹ hơn so với giống HT9 (nhóm Indica) ở cùng thời vụ gieo cấy Các giống Japonica: ĐS3, J01 gần như không nhiễm hoặc nhiễm rất nhẹ đối với rầy nâu và bạc lá
ở tất cả 3 khung thời vụ Trong khi đó HT9 nhiễm nhẹ đến trung bình với Bạc lá, rầy nâu, đạo ôn, khô vằn, sâu đục thân
sự khác nhau nhiều ở các khung thời vụ gieo trồng TGST của các giống đều giảm dần
từ TV1>TV2>TV3
Trang 11+ Giống HT9 ở thời vụ (TV2) và (TV3) cho các yếu tố cấu thành năng suất (bông/m2, hạt chắc/bông và khối lượng 1000 hạt) cao hơn so khung thời vụ (TV1) Các yếu tố cấu thành năng suất của HT9 cao nhất ở khung thời vụ TV2 tại cả ba điểm triển khai thí nghiệm Thể hiện qua các số liệu về các yếu tố cấu thành năng suất và NSTT đạt cao nhất; tại Nam Định với 57,2 tạ/ha, tiếp theo là tại Hưng Yên với 57,0 tạ/ha và tại Hà Nội đạt 56,9 tạ/ha
+ Hai giống Japonica (J01 và ĐS3) do có khả năng chịu nóng kém ở thời kỳ mạ và cây con càng ở khung thời vụ gieo cấy sớm (TV1: 05/06) giai đoạn mạ và cây lúa hồi xanh,
đẻ nhánh gặp thời tiết nóng cuối tháng 6 đầu tháng 7 nên sinh trưởng kém hơn so với hai khung thời vụ gieo cấy sau, thể hiện các yếu tố cấu thành năng suất thấp hơn TV2 (15/06) và TV3 (25/06) Giống J01 có NSTT đạt cao nhất ở TV3, tại điểm Hưng Yên với 56,8 tạ/ha; tiếp đến tại điểm Hà Nội với 56,5 tạ/ha và tại Nam Định là 56,3 tạ/ha Giống ĐS3 có NSTT ở TV3 đạt cao nhất, tại Nam Định đạt 57,0 tạ/ha; tiếp đến là Hưng Yên với 56,9 tạ/ha và tại Hà Nội là 56,7 tạ/ha
Tại mỗi điểm triển khai, NSTT của giống J01 và ĐS3 tăng dần từ TV1< TV2 < TV3
tự trong cùng 1 mức mật độ khi ta tăng mức phân bón thì TGST của giống HT9 cũng tăng dần lên và sự chênh lệch lớn hơn so với khi ta tăng mức mật độ trong vùng 1 mức phân bón TGST của giống HT9 dao dộng từ 104 – 112 ngày Chiều cao cây cuối cùng của giống HT9 tại cả 3 điểm cũng tăng dần lên ở các mức mật độ và phân bón cao hơn tuy nhiên ở mức phân bón P3 thì chiều cao cây cuối cùng của các giống chỉ tăng đến mức mật độ M2 và giảm dần ở mức mật độ M3 và M4 Chiều cao cây cuối cùng của giống HT9 dao động từ 112,2 – 117,8 cm
+ Bông/m2: trong cùng một mức phân bón P1 thì mật độ càng tăng thì số bông/m2 cũng tăng dần theo, tuy nhiên sang mức phân bón P2 thì số bông/m2 tăng từ mật độ M1 đến M3 và đến M4 thì lại giảm so với M3, ở mức phân bón P3 thì số bông/m2 chỉ tăng từ mức mật độ M1 đến M2 và giảm dần từ M3 đến M4 Còn với cùng một mức mật độ thì mức phân bón càng tăng thì số bông/m2 cũng tăng theo (từ mức mật độ M1 đến M2), sang đến mức mật độ M3 và M4 thì số bông/m2 chỉ tăng từ mức phân bón P1 đến P2 và đến mức P3 thì lại giảm so với P2
+ Hạt chắc/bông: trong cùng một mức phân bón thì khi mật độ tăng thì số hạt chắc/bông lại giảm dần đối với tất cả các mức phân bón, còn đối với cả 4 mức mật độ thì khi mức
Trang 12phân bón tăng từ P1 đến P2 thì số hạt chắc/bông tăng lên nhưng từ mức phân bón P2 đến P3 thì số hạt chắc/bông lại giảm đi
+ Khối lượng 1000 hạt (KL1000 hạt): khi mật độ càng tăng thì khối lượng 1000 hạt sẽ càng giảm, còn mức phân bón tăng từ mức P1 đến P2 thì khối lượng 1000 hạt cũng tăng lên nhưng tiếp tục tăng từ mức P2 lên mức P3 thì khối lượng 1000 hạt lại giảm đi Tuy nhiên đây là yếu tố phụ thuộc nhiều vào di truyền nên khối lượng 1000 hạt cũng không biến động nhiều giữa các công thức
+ Các công thức về mật độ cấy và các mức phân bón khác nhau không ảnh hưởng nhiều tới mức độ nhiễm sâu bệnh của giống HT9 Khi các mức mật độ càng tăng và các mức phân bón tăng thì mức độ nhiễm các loại sâu bệnh hại của giống HT9 cũng tăng dần lên
và mức độ nhiễm sâu bệnh nặng nhất ở công thức phối hợp P3M4 và ở các mức mật độ M4 của các mức phân bón
thì mức P2 tỏ ra ưu việt hơn so với P1 và P3, cho mức NSTT trung bình là cao nhất tại
cả 3 điểm triển khai thí nghiệm Điều này thể hiện qua số liệu về NSTT ở các công thức
về mật độ và phân bón: ở tất cả các điểm triển khai công thức P2M3 (1 tấn phân hữu cơ
các yếu tố cấu thành năng suất cao và NSTT đạt cao nhất (cụ thể: đạt 58,3 tạ/ha tại Nam Định; 57,9 tạ/ha tại Hưng Yên; 57,8 tạ/ha tại Hà Nội)
Đối với giống J01:
Đối với giống ĐS3: Chiều cao cây cuối cùng, thời gian sinh trưởng và khối lượng 1000 hạt giữa các công thức dao động không nhiều TGST dao động từ 109 – 118 ngày, chiều cao cây dao động từ 108 – 112,9 cm và khối lượng 1000 hạt dao động từ 23,2 – 24,2 g 3.3.1.2 Nhóm cây ngô
a Thí nghiệm lựa chọn giống Ngô
Theo dõi chỉ tiêu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống ngô đường
và ngô nếp tại Ứng Hòa, Ba Vì, Hưng Yên, Nam Định trong điều kiện vụ đông 2013 thể hiện qua số liệu cho thấy:
Giống ngô Đường lai 20 cho các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất đạt cao và khá
ổn định qua cả 4 điểm thí nghiệm, thể hiện giống có bắp to dài, nhiều hạt/hàng Năng suất bắp tươi dao động từ 13,1 tấn/ha (tại Hưng Yên) đến 13,6 tấn/ha (Ứng Hòa) Trong số ba giống ngô nếp khảo nghiệm là VN2, HN68 và HN88 thì giống HN88 tỏ ra vượt trội hơn cả, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất đạt cao nhất tại cả 4 điểm triển khai với năng suất bắp tươi thu được dao động từ 12,2 tấn/ha tại Nam Định đến 12,9 tấn/ha tại Ba Vì Cho năng suất bắp tươi và các yếu tố cấu thành năng suất thấp nhất thuộc về giống VN2 (8,8 - 9,1 tấn/ha)
Trang 13Theo dõi chỉ tiêu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống ngô tẻ tại Ứng Hòa, Ba Vì, Hưng Yên, Nam Định trong điều kiện vụ đông 2013 thể hiện qua số liệu bảng 4.58 ở trên cho thấy: trong số các giống ngô tẻ thí nghiệm thì giống NK4300 cho các yếu tố cấu thành năng suất vượt trội dao động từ 5,9 tấn - 6,3 tấn/ha
vụ bán tươi hoặc cung ứng cho các nhà máy chế biến
+ Giống ngô lai triển vọng là NK4300 có TGST: 103 - 109 ngày, Năng suất thực thu: 5,9 tấn - 6,3 tấn/ha
b Thí nghiệm biện pháp kỹ thuật cho các giống Ngô
*Biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp cho giống NK4300 Hà Nội và Nam Định, vụ đông 2014:
+ Thời vụ gieo trồng: gieo hạt vào bầu ngày 10/9
+ Mật độ, phân bón: nên trồng với mật độ 6 vạn cây/ha, mức phân bón thích hợp cho 1
ha là: 1 tấn phân HCVS: 150 kg N: 90 kg P2O5: 90 kg K2O
+ Phương pháp gieo hạt: nên gieo hạt bằng phương pháp sử dụng bầu ngô công nghiệp theo giá thể phối trộn (Bầu ngô công nghiệp: Rơm rạ nghiền (hoặc xơ dừa) + phân vi sinh + đất bột (tỷ lệ 1:1:3) và sử dụng phân bón NPK tổng hợp trộn giá thể với lượng 30
g NPK 5.10.3/khay)
đông 2014 như sau:
+ Thời vụ gieo trồng: gieo hạt vào bầu ngày 10/9
+ Mật độ, phân bón: nên trồng với mật độ 6 vạn cây/ha, mức phân bón thích hợp cho 1 ha: 1 tấn phân HCVS: 130 kg N: 80 kg P2O5: 70 kg K2O
+ Phương pháp gieo hạt: nên gieo hạt bằng phương pháp sử dụng bầu ngô công nghiệp theo giá thể phối trộn (Bầu ngô công nghiệp: Rơm rạ nghiền (hoặc xơ dừa) + phân vi sinh + đất bột (tỷ lệ 1:1:3) và sử dụng phân bón NPK tổng hợp trộn giá thể với lượng 30
g NPK 5.10.3/khay)