Xây dựng được mô hình làng nghề truyền thống sản xuất và quản lý hiện đại tại xã Vĩnh Phú Đông, huyện Phước Long tỉnh Bạc Liêu, gắn với hoạt động du lịch làng nghề, nâng cao thu nhập cho người dân, bảo tồn và phát huy nghề và văn hóa nghề, tạo điều kiện để đẩy mạnh phát triển các hoạt động phi nông nghiệp và du lịch trên địa bàn, xây dựng mô hình mẫu để rút kinh nghiệm trong việc mở rộng các mô hình tại địa phương.
Trang 1I Thông tin chung
Tên Đề tài: Ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật để xây dựng mô hình làng nghề tre, tầm vông, trúc đan lát theo hướng tập trung kết hợp du lịch sinh thái tại huyện Phước Long, tỉnh
Cơ quan chủ trì: Trung tâm Thực nghiệm và Chuyển giao Khoa học – Công nghệ huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu
ĐTDĐ: 0918.987887 Email: canh1964@yahoo.com.vn
1 Đặt vấn đề
Theo thống kê, hiện nay tỉnh Bạc Liêu có 8 làng nghề nổi tiếng và mang tính chất truyền thống như làng nghề mộc đã tồn tại trên 80 năm, nghề rèn trên 100 năm, những làng nghề tập trung chủ yếu ở huyện Hồng Dân và Phước Long Tuy nhiên, nhìn chung làng nghề trên địa bàn tỉnh chưa đa dạng về ngành hàng, phát triển chậm, phân tán, quy
mô sản xuất nhỏ
Làng nghề đan lát truyền thống ở ấp Mỹ 1- xã Vĩnh Phú Đông, huyện Phước Long có truyền thống từ nhiều năm qua, đến nay vẫn được duy trì và phát triển Ngày 22/10/2009 tại huyện Phước Long, UBND huyện tổ chức lễ công nhận làng nghề đan lát truyền thống ở ấp Mỹ 1, xã Vĩnh Phú Đông là làng nghề truyền thống Đây là làng nghề đầu tiên trong tỉnh được công nhận theo Nghị định 66/2006 của Chính phủ về “phát triển các ngành nghề truyền thống địa phương” Sản phẩm của làng nghề luôn được ưa chuộng trên thị trường nhờ tính truyền thống, mang nét đặc trưng riêng của địa phương Người dân ấp Mỹ 1 sống chủ yếu bằng nghề sản xuất nông nghiệp, độc canh cây lúa và kết hợp trồng màu, kết hợp với nghề đan lát truyền thống có từ lâu đời vào lúc nông nhàn, nhằm tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo
Nguồn nguyên liệu đầu vào của làng nghề chủ yếu là từ tre và trúc Hiện nay, phần lớn nguồn nguyên liệu này được các hộ trồng ngay tại địa phương (cung cấp khoảng 70%) Ngoài ra, để đủ nguyên liệu phục vụ sản xuất, các hộ phải mua thêm nguồn nguyên liệu từ các địa phương khác tại các tỉnh lân cận trong khu vực vùng Đồng bằng sông Cửu Long (khoảng 30% ) Việc mua nguyên liệu từ bên ngoài khiến các hộ gặp nhiều khó khăn, không chủ động được nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất Các hộ phải tự đi thu gom, tìm kiếm nguồn nguyen liệu từ các địa bàn khác nhau nên mất nhiều thời gian, chi phí, khiến giá thành sản phẩm tăng cao
Hiện nay, sản phẩm sản xuất ra của làng nghề chủ yếu là cần xé, còn lại rất ít các sản phẩm khác như ghế nồi, bội gà, rỗ thúng, Vì vậy có thể thấy chủng loại sản phẩm
Trang 2của làng nghề rất đơn điệu, khó cạnh tranh Gần đây, nhiều hộ trong làng nghề đã thử nghiệm sản xuất ra các sản phẩm mới lạ phục vụ khách du lịch, tuy nhiên việc tiêu thụ gặp rất nhiều khó khăn, vì vậy chưa được phỗ biến sản xuất trong làng nghề Các sản phẩm mà các hộ sản xuất ra chủ yếu bán cho thương lái đến thu mua tại hộ (khoảng 75% sản phẩm được tiêu thụ theo phương thức này), còn lại là bán trực tiếp cho các chủ vựa lớn trên địa bàn xã, huyện Việc thu hút khách du lịch đến thăm quan và mua sản phẩm làng nghề hiện vẫn chưa được chú trọng
Năm 2015, Dự án “Ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật để xây dựng mô hình làng nghề tre, tầm vông, trúc đan lát theo hướng tập trung kết hợp du lịch sinh thái tại huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu phục vụ xây dựng nông thôn mới” thuộc “Chương trình Khoa học và Công nghệ phục vụ Xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2011- 2015” được triển khai, Dự án được mong đợi sẽ góp phần hỗ trợ giải quyết một số vấn đề đã nêu
khoa học công nghệ để tối ưu hóa sản phẩm; xây dựng vùng nguyên liệu ổn định; hỗ trợ vận hành mô hình làng nghề kết hợp với du lịch Ngoài nội dung trên dự án còn hướng trọng tâm vào việc hỗ trợ thành lập 01 Hợp tác xã làng nghề, thành lập Ban quản lý và phát triển làng nghề và hỗ trợ quỹ phát triển làng nghề để đảm bảo rằng: việc phát triển kinh tế phải đảm bảo gắn liền với bảo vệ và phát triển những giá trị truyền thống của làng nghề
2.1 Mục tiêu chung
Xây dựng được mô hình làng nghề truyền thống sản xuất và quản lý hiện đại tại
xã Vĩnh Phú Đông, huyện Phước Long tỉnh Bạc Liêu, gắn với hoạt động du lịch làng nghề, nâng cao thu nhập cho người dân, bảo tồn và phát huy nghề và văn hóa nghề, tạo điều kiện để đẩy mạnh phát triển các hoạt động phi nông nghiệp và du lịch trên địa bàn, xây dựng mô hình mẫu để rút kinh nghiệm trong việc mở rộng các mô hình tại địa phương
2.2 Mục tiêu cụ thể
tre, tầm vông kết hợp du lịch làng nghề , mang lại hiệu quả kinh tế cao, nâng cao thu nhập cho người dân trên 15% so với hiện tại
mua nguyên liệu sản xuất
huy nét đặc trưng của nghề đan lát truyền thống ở địa phương
Trang 33 Các kết quả chính của nhiệm vụ đã đạt được
Để nắm bắt được thực trạng hoạt động sản xuất của làng nghề đan lát tại xã Vĩnh Phú Đông, dự án đã tiến hành khảo sát 100 hộ dân có hoạt động sản xuất sản phẩm đan lát
gia đình)
địa phương Có 02 phương thức trồng cây nguyên liệu đang được các hộ ở địa phương
Theo điều tra, hiện các hộ trồng chủ yếu tre và trúc để làm nguyên liệu đan đát Diện
Trang 4hộ điều tra thì hầu hết các hộ đều trồng trúc, chiếm 96% hộ điều tra Còn lại, có 25% hộ
rác trong vườn, không đầu từ chăm bón chủ yếu là do: Không có khả năng đầu tư để
trong vườn, không đầu từ chăm bón như hiện nay khiến năng suất, chất lượng nguyên
đủ nguyên liệu cho đan đát, nhiều hộ trong làng nghề phải mua nguyên liệu từ các địa phương khác Với những hạn chế khi trồng cây nguyên liệu áp dụng phương thức trồng
Trường hợp hộ trồng thâm canh tập trung: Đối với các hộ trồng cây nguyên liệu theo
khó khăn đó là: Năng suất nguyên liệu thấp, thiếu vốn để đầu tư cho sản xuất, thiếu
Để phát triển sản xuất cây nguyên liệu tại chỗ theo hình thức thâm canh tập trung, các
tư để trồng thâm canh tập trung; hỗ trợ giống mới đầu tư để trồng thâm canh tập trung;
Khó khăn, hạn chế do áp dụng công nghệ chẻ, vót nan thủ công bằng tay hiện nay mà
ứng đủ nguyên liệu cho hộ, chất lượng nguyên liệu thấp Mặc dù gặp nhiều khó khăn,
Trang 5hạn chế do áp dụng công nghệ chẻ, vót nan thủ công bằng tay, tuy nhiên, chỉ có 37% hộ được hỏi họ mong muốn chuyển đổi sang công nghệ chẻ, vót nan bằng máy Còn lại,
Ngược lại, những hộ mong muốn chuyển đổi sang công nghệ chẻ, vót nan bằng máy, có
mua máy; Hướng dẫn kỹ thuật sử dụng máy Các hộ cũng cho biết, nếu chuyển sang áp
Năng suất nguyên liệu cao, giảm chi phí, hiệu quả kinh tế cao hơn Tuy vậy, họ vẫn băn khoăn về những khó khăn, hạn chế áp dụng công nghệ chẻ, vót nan thủ công bằng máy
* Bảo quản sản phẩm:
lái đến thu gom (98% số người được hỏi) và bảo quản trong kho đúng quy cách, chống được mối mọt (2%) Với biện pháp bảo quản bằng cách cất giữ sản phẩm đã đan đát
để đầu tư xây kho
* Đan lát, đóng gói bao bì, nhãn mác sản phẩm:
Đối với việc áp dụng công nghệ đóng gói bao bì, nhãn mác sản phẩm, 100% hộ khảo sát cũng cho biết họ hiện chỉ áp dụng công nghệ đóng gói bao bì, nhãn mác sản phẩm theo
Trang 6không bị ô nhiễm, do quy mô làng nghề còn nhỏ, chủ yếu áp dụng các biện pháp thủ
* Phương thức bán sản phẩm nguyên liệu
người bán sản phẩm qua người thu gom bán 58,24% khối lượng sản phẩm mà hộ sản
đan đát tại địa phương, không có hợp đồng/ hoặc thỏa thuận miệng với người mua
* Khó khăn của các hộ đan đát trong làng nghề
đình, không tuân thủ theo quy trình kỹ thuật canh tác nên sản phẩm có sự khác biệt rất
Trang 7Chất lượng sản phẩm nguyên liệu thấp (6% hộ trả lời); Bị ép buộc bởi người mua về
3.2 Xây dựng mô hình tổ chức sản xuất sản phẩm đan lát…
3.3 Xây dựng mô hình quản lý làng nghề kết hợp du lịch làng nghề…
3.3.1 Xây dựng mô hình HTX đan đát
Qua khảo sát các hộ sản xuất, kinh doanh sản phẩm đan lát thủ công mỹ nghệ của làng nghề trên địa bàn cho thấy: hiện nay trong làng nghề đã manh nha hình thành
sự liên kết giữa các hộ với nhau trong việc cung cấp nguyên liệu để sản xuất sản phẩm, cũng như hợp tác giới thiệu các đầu mối tiêu thụ sản phẩm Tuy nhiên, sự hình thành liên kết này còn mang tính chất nhỏ lẻ và thời điểm, khi một số hộ tìm được đầu mối cung cấp nguyên liệu hoặc tiêu thụ sản phẩm thì sẽ giới thiệu cho các hộ lân cận chứ chưa có kế hoạch liên kết, hợp tác cụ thể Sự kết nối này bước đầu đã đem lại một số lợi ích nhất định khi các hộ cùng mua chung nguyên liệu nên giá thành giảm xuống, các sản phẩm sản xuất được tiêu thụ dễ hơn Cũng qua việc liên kết trên, các hộ sản xuất kinh doanh sản phẩm đan lát thủ công mỹ nghệ cũng nhận thức rõ hơn việc cần có một tổ chức tập thể (mà cụ thể ở đây là Hợp tác xã) đứng ra kết nối các hộ lại với nhau để cùng nhau sản xuất nhằm giảm chi phí, gia tăng lợi nhuận và tìm kiếm đầu ra ổn định cho người sản xuất Bên cạnh đó, các doanh nghiệp thu mua sản phẩm cũng rất hạn chế khi
ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm trực tiếp với hộ dân, các doanh nghiệp này đều mong muốn hợp tác với một tổ chức đại diện có tư cách pháp nhân, thuận lợi trong công tác giao dịch mua bán
Một số hộ tiêu biểu tại địa phương là những người có kinh nghiệm, có tâm huyết với nghề, cũng đã có kinh nghiệm trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ các mặt hàng thủ công mỹ nghệ do trước đó đã tham gia vào làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ Khi HTX được thành lập, các điều kiện về cơ sở vật chất như trụ sở, sân phơi, kho bãi sẽ được thành viên HTX hỗ trợ nhiệt tình cho HTX Nắm bắt được thực trạng trên,
Dự án đã tổ chức họp các hộ nông dân có nhu cầu và đề xuất việc thành lập 1 Hợp tác
thủ sản phẩm của làng nghề đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn Về phía chính quyền, hoàn toàn ủng hộ việc thành lập Hợp tác xã Trúc xanh, đây cũng là một trong
Trang 8những nội dung nằm trong kế hoạch xây dựng nông thôn mới, phù hợp với các chủ trương, định hướng phát triển kinh tế, xã hội của địa phương nhằm phát triển kinh tế, góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống của làng nghề HTX góp phần giải quyết việc làm thường xuyên, ổn định cho thành viên và người lao động trong vùng thông qua hoạt động đan đát Từ đó, tạo thêm thu nhập, cải thiện đời sống của thành viên và người lao động, thu hút một lượng lớn lao động nhàn rỗi, từng bước vận động hết lực lượng lao động tham gia trở thành thành viên của HTX, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững của HTX, cho hướng đầu tư, mở rộng ngành nghề sản xuất kinh doanh trong thời gian tới Đồng thời, góp phần giữ gìn làng nghề truyền thống của tỉnh nhà Trong nhiệm kỳ đầu, HTX quyết tâm vận động các hộ dân trong vùng tham gia làm thành viên HTX, vận động thành viên góp vốn nhằm đảm bảo và phát triển nhu cầu sản xuất của HTX Tổ chức sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ thật tốt, tích cực tìm đầu
ra cho sản phẩm Từng bước mở rộng quy mô sản xuất, tăng vốn để đảm bảo kế hoạch sản xuất kinh doanh đã đề ra Hàng năm hợp tác xã xây dựng phương án sản xuất – kinh doanh phù hợp với tình hình thực tế để đạt kết quả và mang lại lợi nhuận, có thông qua tại đại hội thường niên
Trong nhiệm kỳ 2017 – 2022 HĐQT HTX quyết tâm vận động các hộ dân trong vùng tham gia làm thành viên HTX, vận động thành viên góp vốn nhằm đảm bảo và phát triển nhu cầu sản xuất của HTX Tổ chức sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ thật tốt, tích cực tìm đầu ra cho sản phẩm Từng bước mở rộng quy mô sản xuất, tăng vốn để đảm bảo kế hoạch sản xuất kinh doanh đã đề ra Hàng năm hợp tác xã xây dựng phương
án sản xuất – kinh doanh phù hợp với tình hình thực tế để đạt kết quả và mang lại lợi nhuận, có thông qua tại đại hội thường niên Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ: HTX nhận sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, bước đầu đi vào hoạt động HTX sản xuất mặt hàng là cần xé Dự tính mỗi tháng sẽ sản xuất được 2.850 cái, giá là 30.000đ/cái
Để đảm bảo cho các hoạt động điều hành của HTX được thông suốt, phát huy dân chủ và tính tự nguyện, tự giác của mỗi thành viên HTX, góp phần tích cực vào việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác, quản lý điều hành của HTX Dự án đã tiến hành
hỗ trợ xây dựng Quy chế làm việc cho HTX Trúc xanh Các quá trình thành lập Hợp tác
xã đều có sự tham gia song hành của địa phương và các hộ thành viên, xuất phát từ nhu cầu và thực tiễn của hộ dân Theo kết quả khảo sát, 100% thành viên đều đã được tham gia ý kiến và ra quyết định liên quan đến hoạt động của Hợp tác xã Người dân được hưởng lợi từ Dự án cũng cho thấy họ rất hài lòng đối với về quá trình hỗ trợ và kết quả
hỗ trợ của dự án trong việc thành lập Hợp tác xã Trúc Xanh
Qua khảo sát 50 hộ hưởng lợi của dự án về kết quả của dự án, có 79% các hộ đánh giá ở mức độ hài lòng, 21% các hộ đánh giá ở mức độ bình thường, không có hộ nào đánh giá không hài lòng hoặc, rất không hài lòng Về quá trình xây dựng các văn bản quản lý (điều lệ, nội quy, quy chế) mà dự án đã hỗ trợ Hợp tác xã xây dựng và ban hành, trong quá trình xây dựng, mặc dù dự án đã đề cao vai trò tham gia của người dân,
Trang 9tuy nhiên vì là các văn bản quản lý nên các hộ còn chưa nghiên cứu sâu, bên cạnh đó các hộ còn chưa hiểu hết những lợi ích khi tham gia HTX, còn dè dặt trong việc tham gia Hợp tác xã Các văn bản quản lý chủ yếu chỉ được thảo luận với các thành viên Hợp tác xã Kết quả khảo sát cho thấy có 14% các hộ đánh giá ở mức độ Hài lòng, 86% các
hộ đánh giá ở mức độ bình thường
hướng của địa phương, do đó việc thành lập Hợp tác xã Trúc xanh nhận được rất nhiều
sự quan tâm, tạo điều kiện của các ban ngành địa phương Huyện Phước Long là nơi có nguồn nguyên liệu Trúc tự nhiên dồi dào, đồng thời cũng có thể thu mua được ở các khu vực lân cận Các sản phẩm làm từ Trúc được người tiêu dùng trong nước và nước ngoài
ưa thích là nhờ nó có nguồn gốc tự nhiên, thân thiện với môi trường, mềm mại, dẻo dai, giản dị nhưng rất tiện ích Hoạt động của hợp tác xã giải quyết được một phần nhu cầu việc làm cho người lao động trong xã Vĩnh Phú Đông cũng như các vùng lân cận, vì vậy việc thành lập HTX được sự ủng hộ từ chính quyền cũng như người dân ở địa phương Hiện HTX Trúc xanh đã tập hợp được 19 thành viên là những người đã từng có kinh nghiệm gia công các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, có tâm huyết với nghề Hội đồng quản trị HTX cũng đã có kinh nghiệm trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ các mặt hàng thủ công mỹ nghệ do trước đó đã tham gia vào làng nghề sản xuất hàng thủ công
mỹ nghệ Các yếu tố về cơ sở vật chất như trụ sở, sân phơi, kho bãi cũng được thành viên HTX hỗ trợ nhiệt tình cho HTX Bộ máy quản lý cùng với tập thể thành viên HTX
có sự đoàn kết, thống nhất cao trong mọi hoạt động; công khai, minh bạch, phát huy đầy
đủ quyền làm chủ của thành viên HTX
Ấp Mỹ 1
Nhằm góp phần bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống của làng nghề đan lát
Ấp Mỹ 1, dự án cũng đã hỗ trợ xây dựng Quy chế bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống của làng nghề đan lát Ấp Mỹ 1 Quy chế này quy định cụ thể về công tác quản lý, hoạt động bảo tồn và phát huy những giá trị của làng nghề; Quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của tổ chức Hợp tác xã Trúc xanh, của hộ gia đình, cá nhân trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống của làng nghề đan đát ấp Mỹ 1, xã Vĩnh Phú Đông, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu Đảm bảo việc phát triển kinh tế xã hội nhưng không làm mai một, ảnh hưởng đến các giá trị truyền thống của làng nghề
Nguyên tắc bảo tồn và phát huy những giá trị của làng nghề
nghề, bên cạnh đó còn quy định những nội dung cụ thể bảo vệ môi trường làng nghề theo Thông tư Số: 46/2011/TT-BTNMT ngày 26/12/2011 của Bộ tài nguyên và môi trường Quy định về bảo vệ môi trường làng nghề
Trang 10- Tất cả các hành động làm phương hại đến lợi ích chung của làng nghề, của tổ chức Hợp tác xã Trúc xanh, của hộ gia đình, cá nhân có hoạt động liên quan hoặc làm ảnh hưởng đến môi trường của cộng đồng đều bị cấm
của làng nghề, bảo vệ môi trường, bảo vệ lợi ích chính đáng của những người sản xuất, kinh doanh sản phẩm thủ công mỹ nghệ trên địa bàn
tiến bộ khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm, phát triển sản xuất theo hướng bền vững
trách nhiệm của tất cả các thành viên Hợp tác xã Trúc xanh và cộng đồng trên địa bàn
Việc thành lập Ban quản lý hỗ trợ và phát triển làng nghề tại Ấp Mỹ 1, xã Vĩnh Phú Đông nhằm bảo tồn và phát triển các giá trị truyền thống là yêu cầu khách quan, cấp bách và có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nông thôn mới
Dự án đã tiến hành khảo sát nhu cầu của các hộ sản xuất, kinh doanh sản phẩm đan lát thủ công mỹ nghệ trên địa bàn và nhận thấy: Song song với nhu cầu về phát triển kinh tế của làng nghề thì việc thành lập Ban quản lý hỗ trợ phát triển làng nghề là hết sức quan trọng Đề xuất này cũng nhận được sử hưởng ứng nhiệt tình của các hộ sản xuất trong làng nghề và chính quyền địa phương Dự án đã tiến hành họp các hộ sản xuất, kinh doanh trong làng nghề với sự tham gia của UBND xã Vĩnh Phú Đông về phương án thành lập Ban quản lý
Ban quản lý có trách nhiệm:
nghề, đảm bảo quản lý và sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả và đúng quy định
đồng các hộ dân ấp Mỹ 1, UBND xã về hiệu quả hoạt động của Quỹ hỗ trợ và phát triển làng nghề và các hoạt động liên quan đến bảo tồn và phát triển làng nghề tại ấp Mỹ 1
triển làng nghề ấp Mỹ 1 Công bằng trong việc xét duyệt cho vay vốn đối với các hộ/cơ
sở sản xuất và kinh doanh sản phẩm làng nghề
đầy đủ các quy định của quy chế này; Triển khai, quản lý, giám sát các hoạt động liên quan đến bảo tồn và phát triển làng nghề trên địa bàn ấp Mỹ 1