3 A Phần mở đầu Ngữ nghĩa học – những cách hiểu khác nhau Cho đến nay, khái niệm ‘ngữ nghĩa học’ vẫn không được hiểu một cách thống nhất Thuật ngữ này vốn bắt nguồn từ chữ ‘sēmantiká’ trong tiếng Hy Lạp và được dùng chủ yếu để chỉ lĩnh vực khoa học nghiên cứu về ý nghĩa của các từ, mệnh đề, câu, kí hiệu hoặc các biểu tượng Trong hệ thống thuật ngữ khoa học quốc tế, ‘ngữ nghĩa học’có những tên gọi khác nhau, ví dụ trong tiếng Anh semantics (semantyka), semiology (semiologia), semiotics (semiot.
Trang 13
A Phần mơ ̉ đầu
Ngữ nghĩa học – những cách hiểu khác nhau
Cho đến nay, khái niệm ‘ngữ nghĩa học’ vẫn không được hiểu một cách thống nhất Thuật ngữ này vốn bắt nguồn từ chữ ‘sēmantiká’ trong tiếng Hy Lạp và được dùng
chủ yếu để chỉ lĩnh vực khoa học nghiên cứu về ý nghĩa của các từ, mệnh đề, câu, kí hiệu hoặc các biểu tượng Trong hệ thống thuật ngữ khoa học quốc tế, ‘ngữ nghĩa học’có những tên gọi khác nhau, ví dụ: trong tiếng Anh: semantics (semantyka), semiology (semiologia), semiotics (semiotyka), semasiology (semazjologia) Xét về nội hàm của thuật ngữ, trong tiếng Việt có thể cần phải phân biệt hai khái niệm: ‘nghĩa học’ và ‘ngữ nghĩa học’
Có thể nêu một cách khái quát những cách hiểu chủ yếu sau đây về ‘nghĩa học’:
– Nghĩa học có thể được hiểu như là một thuật ngữ của lí thuyết chung về tín hiệu (thường được gọi là nghĩa học lô gích – semantyka logiczna lub semiotyka
logiczna), tức là đồng nghĩa với ‘tín hiệu học’ (semiologia hoặc semiotyka), một trong ba
bộ môn của lô gích học nghiên cứu về các tín hiệu (từ và các thành ngữ), các thuộc tính
và chức năng của chúng Đó là: nghĩa học, dụng học và kết học (semantyka, pragmatyka i
syntaktyka) (theo Charles W Morris) Đây là một lĩnh vực nghiên cứu nằm ở ranh giới của các ngành khoa học: triết học, ngôn ngữ học, lô gích học, lí thuyết thông tin và nhân học.Theo cách hiểu này, nghĩa học nghiên cứu mối quan hệ giữa các tín hiệu và hiện thực
mà chúng biểu đạt Khác với tín hiệu học lô gích, vốn bắt nguồn từ Charles Sanders
Peirce, Ludwig Wittgenstein và Rudolf Carnap, tín hiệu học không phải là một lĩnh vực
khoa học được xác định rõ ràng Các nghiên cứu tín hiệu học đã được khai triển tương đối muộn và cho đến tận ngày nay phạm vi của chúng vẫn chưa được xác định một cách chính xác
Thuật ngữ tín hiệu học được sử dụng lần đầu trong tác phẩm ‘Giáo trình ngôn ngữ học đại cương’ của Ferdinand De Saussure Trong tác phẩm này, Sausure đã đề xuất thành lập một ngành khoa học mới là tín hiệu học với đối tượng quan tâm chủ yếu là tín
hiệu Tuy nhiên, ý tưởng của Sausure là trong ngành khoa học này, tín hiệu sẽ được xem xét trước hết ở sự hoạt động xã hội của nó, và ngành khoa học mới này sẽ trở thành cơ sở của ngôn ngữ học theo cách hiểu mới, tức là khoa học nghiên cứu về một loại tín hiệu – tín hiệu ngôn ngữ Như vậy, ngôn ngữ học sẽ trở thành một bộ phận của tín hiệu học – khoa học chung về tất cả các tín hiệu Một số nhà tín hiệu học, như Pierre Guiraud chẳng hạn, thì định nghĩa tín hiệu học hẹp hơn, coi đây là ngành khoa học nghiên cứu về tất cả những hệ thống tín hiệu nào không phải là tín hiệu ngôn ngữ
– Nghĩa học theo cách hiểu của triết học ngôn ngữ (gọi là nghĩa học tổng quát – semantyka ogólna) – một quan niệm xã hội học-triết học về ngôn ngữ, phát triển ở
Mỹ từ những năm hai mươi của thế kỷ XX Thực ra, thuật ngữ này không có mấy điểm
chung với nghĩa học lô gích và nghĩa học ngôn ngữ học, vì nó chủ yếu nghiên cứu việc
cải thiện các quan hệ giữa con người với con người thông qua việc cải thiện ngôn ngữ,
Trang 24
còn những vấn đề quan tâm khác của nó lại liên quan chủ yếu đến lĩnh vực xã hội học, tâm lí học và tâm lí trị liệu (psychoterapia) Người khởi xướng cho nghĩa học tổng quát là Alfred Korzybski, một triết gia và nhà lô gích học người Mỹ gốc Ba Lan Chính
Koszybski vẫn thường nhấn mạnh rằng không nên lẫn lộn nghĩa học tổng quát của ông
với nghĩa học ngôn ngữ học Trong hai tác phẩm của mình (‘Manhood of Humanity’ – Sự trưởng thành của nhân tính, và ‘Science and Sanity’ – Khoa học và sự tỉnh táo), ông đã
nêu ra và giải thích những vấn đề chủ yếu của nghĩa học tổng quát, trong đó quan trọng nhất là quan điểm của ông về kiến thức và sự truyền đạt kiến thức Theo ông, kiến thức của con người cũng như việc chuyển giao kiến thức đó bị giới hạn bởi cấu trúc của hệ thần kinh con người và cấu trúc của ngôn ngữ Con người không thể tiếp thu thế giới khách quan một cách trực tiếp mà chỉ có thể tiếp nhận nó thông qua những mối liên tưởng trừu tượng, những hình ảnh tiếp nhận được thông qua hệ thần kinh và được truyền tải nhờ ngôn ngữ Quá trình này bị tác động bởi những cảm nhận phức tạp của con người
và sự thiếu chính xác của ngôn ngữ khiến bức tranh của hiện thực bị biến dạng
Quan điểm của Koszybski sau đó tiếp tục được các học trò của ông tiếp thu và phát triển
– Nghĩa học được hiểu là một bộ môn của ngôn ngữ học (gọi là ‘nghĩa học ngôn ngữ học‘ hoặc ngắn gọn hơn: ‘ngữ nghĩa học‘– semantyka językoznawcza) nghiên
cứu về ý nghĩa của các từ nói riêng và các đơn vị ngôn ngữ nói chung (thành ngữ, câu,
văn bản) Thuật ngữ ‘ngữ nghĩa học’ theo cách hiểu này đã được nhà ngôn ngữ học Pháp Michel Jules Alfred Bréal đưa ra lần đầu trong tác phẩm Essai de sémantique xuất bản
năm 1897 Ngữ nghĩa học nghiên cứu trước hết ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ, nhưng cũng nghiên cứu cả mối quan hệ giữa hình thức và nội dung của tín hiệu ngôn ngữ theo nghĩa đồng đại và lịch đại Ngoài ra, ngữ nghĩa học còn nghiên cứu các mối quan hệ giữa các nghĩa của từ, tức là giữa nghĩa cơ bản (hoặc nghĩa gốc) của nó với các nghĩa phái sinh hoặc nghĩa cụ thể được sử dụng trong phát ngôn (Sẽ nói rõ thêm ở phần sau)
Như vậy, có thể thấy rằng nghĩa học ngôn ngữ học (từ đây trở đi sẽ được gọi
là ngữ nghĩa học) là một ngành khoa học nghiên cứu về ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ
Tuy nhiên, như có thể thấy bên trên, cái được gọi là ‘ý nghĩa’ là một đối tượng không dễ nắm bắt, bởi tính trừu tượng, đa diện và đa cấp của nó Trong ‘ý nghĩa’, ta cũng có thể nhận thấy sự có mặt của những mối quan hệ phức tạp giữa cái trừu tượng và cái cụ thể, cái xã hội và cái cá nhân, cái phổ niệm và cái dân tộc Đây chính là nguyên nhân khiến cho ‘ý nghĩa’, mặc dù đã được các nhà nghiên cứu, đặc biệt là các nhà triết học, nghiền ngẫm và tìm hiểu từ thời Cổ đại đến nay, vẫn chưa được định nghĩa một cách rõ ràng và trọn vẹn
Với bản chất phức tạp và đa diện của nó, ‘ý nghĩa’ được quan tâm nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, nhưng nhiều khi rất khó vạch được ranh giới rõ ràng giữa những ‘’ý nghĩa’ được lấy làm đối tượng nghiên cứu ở những lĩnh vực khoa học khác nhau đó
Như trong triết học chẳng hạn, ý nghĩa ở đây từng được coi là cái tương ứng nằm ngoài ngôn ngữ của một đơn vị ngôn ngữ, hay nói cách khác, ý nghĩa chính là mối quan
hệ giữa mặt biểu hiện của ngôn ngữ và hiện tượng bên ngoài nó Đây được gọi là ‘quan
Trang 35
niệm dựa vào vật quy chiếu’ (ví dụ: Arystoteles) Quan niệm coi ý nghĩa là sự vật hoặc
các đặc trưng của sự vật chính là quan niệm sơ đẳng nhất về ý nghĩa của từ Theo quan niệm này thì từ gợi ra sự vật, thay thế cho sự vật Điều đó có nghĩa là ý nghĩa của từ chính là bản thân sự vật hoặc sự quy chiếu vào sự vật Quan điểm như vậy cũng được J.S Mill (1843) nêu ra, khi ông khẳng định rằng đối tượng biểu đạt của các phát ngôn là bản thân hiện thực Trên cơ sở đó, ông quan tâm nghiên cứu về mối quan hệ giữa các tên gọi của các sự vật và sự biểu đạt các sự vật Tuy nhiên, ông có phân biệt các kiểu tên gọi xét
về cách thức chúng liên hệ với sự vật được gọi tên, mà phải kể trước tiên là kiểu tên gọi không chỉ biểu đạt sự vật mà còn hàm chỉ (connotate) những đặc điểm nhất định của đối
tượng được biểu đạt Ví dụ, những từ như: ‘người’, ‘chó’, ‘bàn’, ‘sông’, v.v không chỉ
biểu đạt các đối tượng được gọi tên ở đây mà còn hàm chỉ cả một số thuộc tính của
chúng, tức là những đặc điểm quyết định về bản chất của người, chó hay bàn, sông, v.v
Quan niệm của Mill được các nhà triết học sau này kế tục và phát triển, nhờ đó mà nó giữ một vị trí ổn định trong nghĩa học lô gích và ngữ nghĩa học Người ta tiếp tục chính xác hóa thêm các khái niệm: ‘sự quy chiếu’ (referencja/odniesienie) được hiểu là những thuộc tính của một tên gọi được sử dụng, còn ‘vật quy chiếu’ (referent) là sự vật/đối tượng mà tên gọi được quy chiếu vào; ‘sự biểu vật’ (denotacja) và ‘cái biểu vật’(denotat)
được dùng để chỉ mối quan hệ giữa tên gọi và lớp sự vật hoặc là sự vật đại diện cho lớp
sự vật mà tên gọi có thể được quy chiếu vào Chẳng hạn, từ ‘chó’ có nội dung (ý nghĩa) là tập hợp những nét đặc trưng của các con chó (gọi chung là ‘cẩu tính’), có ‘cái biểu vật’ là toàn bộ lớp sự vật ‘các con chó’ (hoặc một đại diện điển hình của chúng), ví dụ như trong
câu: „Chó là con vật trung thành”, và có ‘vật quy chiếu’ là một con chó cụ thể nào đó, ví
dụ như trong câu: „Con chó của cậu dễ thương quá!” (Những thuật ngữ này hiện nay
trong tiếng Việt đang được dịch khác nhau)
Cũng có một quan điểm triết học khác, mang tính ngôn ngữ học nhiều hơn, cho
rằng ý nghĩa của một đơn vị ngôn ngữ là mối quan hệ giữa nó với các đơn vị ngôn ngữ khác Đó là quan điểm đồng nhất ý nghĩa của một đơn vị ngôn ngữ với cách sử dụng nó Dòng quan điểm này được gọi là ‘quan niệm không dựa vào vật quy chiếu’ (ví dụ: trường
phái triết học phân tích Oxford) Những người theo dòng quan điểm này thường lấy việc miêu tả ý nghĩa của câu, thậm chí toàn bộ lời phát biểu làm cơ sở để từ đó xác định ý nghĩa của các từ như là loại ý nghĩa thứ phát
Dẫu vậy, xu hướng hiểu ý nghĩa theo góc độ tâm lý học trong triết học vẫn chiếm
ưu thế vượt trội, bởi vì ý nghĩa của các tín hiệu ngôn ngữ ở đây thường được hiểu như là
những ý niệm nằm trong đầu người nói hay những hình ảnh (tưởng tượng) hoặc những ấn tượng về sự vật được gọi tên Chẳng hạn, vào thời Trung cổ, ý nghĩa thường được hiểu là
“khái niệm”(và do đó có tên gọi chủ nghĩa khái niệm- konceptualizm), và chính trên cái
nền của những cuộc tranh cãi xoay quanh ‘khái niệm’ đã hình thành nên những triết
thuyết khác nhau: sớm hơn thì có thuyết duy thực (realizm), thuyết duy
danh (nominalizm), còn muộn hơn thì có thuyết liên tưởng (asocjacjonizm) Nhưng, có
thể nói, cái dấu ấn tâm lý học đó biểu hiện rõ ràng nhất trong một sơ đồ biểu thị mối quan
hệ giữa từ (kí hiệu) và ý nghĩa, thường được gọi là ‘tam giác ngữ nghĩa’, do Ogden và
Richards (1923) đưa ra, và được trích dẫn cũng như diễn giải trong nhiều công trình
Trang 46
nghiên cứu ngữ nghĩa học Trong sơ đồ này, ý nghĩa được hiểu là khái niệm và được phân biệt với đối tượng được biểu đạt (tức ‘vật quy chiếu’)
Trong một cách quan niệm hẹp hơn, ý nghĩa của một tín hiệu ngôn ngữ chỉ còn là
‘sự ứng xử của con người’ khi phản ứng trước tín hiệu nghe được đó, bởi vì sự ứng xử của con người được coi là chỉ báo khách quan duy nhất để hiểu các phát ngôn (xem: Bloomfield 1935, Morris 1938 và Osgood 1957) Một ví dụ cổ điển: phát ngôn „Tôi đang đói.” gây ra ở người tiếp nhận (người nghe) phản ứng: ‘mang thức ăn đến’ Đây chính là
quan niệm trong hành vi luận (behawioryzm), vốn đã có những ảnh hưởng rộng lớn
không chỉ trong nghiên cứu ngữ nghĩa học mà còn cả trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác, mặc dầu bị nhiều ý kiến phê phán
Những quan niệm triết-tâm lí học về ý nghĩa như nêu trên đã được áp dụng vào ngôn ngữ học nói chung và ngữ nghĩa học nói riêng Điều đáng nói là lập trường của nhiều nhà ngôn ngữ học trong vấn đề bản chất của ý nghĩa rất gần với quan điểm
của thuyết liên tưởng tâm lí học Chẳng hạn, trong “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương”,
Saussure đã nêu lên tính chất hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ, trong đó mặt nội dung (tức ý nghĩa) của nó được ông quan niệm là ‘khái niệm’ Cách quan niệm này của Sausure sau này đã trở thành nền tảng lí luận cho những công trình nghiên cứu ngữ nghĩa học theo đường hướng cấu trúc luận Còn trong những đường hướng nghiên cứu mới hơn, được
gọi chung là ngôn ngữ học học tri nhận, quan niệm tâm lí học thậm chí đã trở thành tư
tưởng chủ đạo, khi ngôn ngữ được coi là một bộ phận của cơ chế tâm lí con người và tính chất tâm lí của ý nghĩa luôn luôn được nhấn mạnh Theo cách hiểu của các nhà tri nhận luận (ví dụ: G Lakoff, Ch Fillmore, R Langacker) thì ý nghĩa là „cách thức mọi người hiểu các phát ngôn” Với cách hiểu như vậy, thật khó có thể nêu lên một định nghĩa mang tính ngôn ngữ học thuần túy về ý nghĩa (xem thêm bên dưới)
Cho nên, có thể xem quan niệm “ý nghĩa là mối quan hệ giữa các đơn vị ngôn ngữ” trong ngôn ngữ học không chỉ đánh dấu một trào lưu nghiên cứu ngữ nghĩa học
muốn thoát ra khỏi ảnh hưởng của cách tiếp cận triết-tâm lí học, mà còn biểu hiện một xu hướng muốn từ bỏ ý định tìm hiểu về bản chất của ý nghĩa Ở đây, ý nghĩa được xác định chỉ nhờ vào việc nghiên cứu hai loại quan hệ giữa các đơn vị ngôn ngữ: quan hệ tương đương (hay còn gọi là quan hệ kéo theo) và quan hệ mâu thuẫn, có nghĩa là muốn xác định ý nghĩa của một đơn vị ngôn ngữ thì cần phải xác định được những đơn vị tương đương và/ hoặc mâu thuẫn với nó Hai đơn vị ngôn ngữ tương đương về nghĩa với nhau nếu chúng đưa tới những hệ luận (kết luận) giống hệt nhau Ý nghĩa của một đơn vị ngôn ngữ chính là cái thuộc tính chung cho tất cả những đơn vị tương đương nghĩa trong một ngôn ngữ.Cách định nghĩa ý nghĩa nhờ vào thuộc tính chung của các đơn vị ngôn ngữ đã được nhiều nhà ngôn ngữ học tiếp nhận (xem chẳng hạn: Jakobson 1959) và rõ ràng đây
là quan niệm đặc trưng cho đường hướng nghiên cứu ngữ nghĩa học không quan tâm đến khía cạnh bản thể luận của ‘ý nghĩa’, tức là đến việc xem xét xem bản chất của ‘ý
nghĩa’là gì
Phải đến cuối những năm 80 và trong những năm 90 của thế kỷ XX, vấn đề bản chất của ý nghĩa mới được hâm nóng trở lại nhờ ngôn ngữ học tri nhận Theo cách hiểu của các nhà tri nhận luận (ví dụ: Lakoff và Langacker), “ý nghĩa” là sự hình dung về thế
Trang 5lược đồ về sự vật/ hiện tượng: đó là bức tranh ngôn ngữ về thế giới Bức tranh ngôn ngữ
về thế giới là một bức tranh được hình thành trong ý thức của người nói nhờ những kinh nghiệm nhận thức và văn hóa Bức tranh này được gắn kết trong ý thức của người nói với một biểu thức ngôn ngữ (một chuỗi âm thanh) và đó chính là ý nghĩa của biểu thức ngôn ngữ đó
Với cách hiểu này, khái niệm ‘ý nghĩa’ được mở rộng thêm rất nhiều và càng trở nên mơ hồ, vì bản thân các khái niệm ‘bức tranh ngôn ngữ’và ‘biểu thức ngôn ngữ’ đều
có nội hàm rất rộng và chưa bao giờ được xác định một cách rõ ràng
Trang 68
B Phần nô ̣i dung
I/ ĐỐI TƯỢNG CỦA NGỮ NGHĨA HỌC
Ngữ nghĩa học là phân ngành nghiên cứu về nghĩa của những biểu thức bằng ngôn ngữ tách riêng hoặc gắn với ngữ cảnh cụ thể
=> Nói một cách tổng quát, nghĩa của một biểu thức bằng ngôn ngữ là nội dung tinh thần của nó
Giả sử Mai nói với Lan, chị mình một câu sau:
“Con chó nó hất đổ nồi cơm rồi, chị ơi!”
“Con chó” nếu miêu tả đó là một con vật nuôi có lông, có thể cắn, sủa gâu gâu…
=> Tất cả những đặt điểm đó làm thành nội dung tinh thần về một loại thực thể, hay nói cách khác là nghĩa của từ
Giả sử Mai nói với Lan, chị mình một câu sau:
“Con chó nó hất đổ nồi cơm rồi, chị ơi!”
Ta nhận thức được cấu trúc x hất đổ y thì x là tác nhân gây ra hất đổ, và y là đối tượng bị hất đổ
=> Đây chính là nghĩa của câu tức là nội dung tinh thần về một tình huống
Ví dụ: mẹ tròn con vuông, nước đổ lá khoai …
- Trong các đơn vị từ vựng, “từ” là đơn vị cơ bản “Ngữ” không phải là đơn
vị từ vựng cơ bản vì nó do các từ cấu tạo nên Muốn có các “ngữ”, trước hết phải có các
“từ”
- Khái niệm: Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức
II – TỪ VỊ VÀ CÁC BIẾN THỂ
Nếu coi “từ” là một hằng thể thì những trường hợp sử dụng khác nhau của
nó là những biến thể Có các kiểu biến thể sau đây của từ:
1 Biến thể hình thái học
- Đó là những hình thái ngữ pháp khác nhau của một từ, hay còn gọi là những từ hình
Trang 79
- Ví dụ: see – saw (hiện tại – quá khứ) boy - boys – boy’s (số ít – số nhiều – sở hữu cách)
2 Biến thể ngữ âm – hình thái học
- Đó là sự biến dạng của từ về mặt ngữ âm và cấu tạo từ, chứ không phải là những hình thái ngữ pháp của nó Ví dụ : Giời - Trời, sờ - rờ, nhíp – díp
III/ Cấu tạo từ
1/ Từ tố (hình vi ̣):
Trước hết cần phải nói rằng, tất cả các từ trong ngôn ngữ đều được tạo ra theo một phương thức nào đấy Song, đối với những từ gốc có cấu tạo bằng một hình vị cấu tạo từ, ta không thể giải thích được lý do cấu tạo của chúng, do đó không thể nói đến phương thức cấu tạo của chúng Các từ gốc nguyên cấp đều là những từ được cấu tạo
bằng một hình vị cấu tạo từ nên thường được gọi là từ đơn Như vậy, các từ đơn là những
từ không thể giải thích được về mặt cấu tạo, trừ một số từ tượng thanh và tượng hình
Mỗi từ đơn là một đơn vị duy nhất trong ngôn ngữ, xét về cách cấu tạo, và về cơ bản
mang tính võ đoán Chính vì vậy, khi nói đến các phương thức cấu tạo từ, người ta chỉ đề cập đến những cách thức mà các ngôn ngữ sử dụng để tạo ra những từ có thể giải thích được về mặt cấu tạo (tức là các từ tạo) Những từ được tạo ra theo cách đó thường mang
tính hệ thống: Chúng tập hợp thành những nhóm có chung một kiểu cấu tạo Do vậy:
Phương thức cấu tạo từ là cách thức và phương tiện mà các ngôn ngữ sử dụng để
tạo ra các kiểu cấu tạo từ
Thật ra, từ chưa phải là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ Nhiều người cứ
nghĩ rằng, khi kết hợp các âm tố với nhau, ta sẽ có các từ Sự thực thì không phải bao giờ cũng như vậy (Ví dụ: Nếu kết hợp các âm [ă], [n] và thanh ngang lại với nhau thì ta thu được một tổ hợp âm “ăn” của tiếng Việt, có ý nghĩa hoàn chỉnh và ta có thể kết hợp nó với các đơn vị như “tôi” và “cơm” thành một thông báo: “Tôi ăn cơm” Song, nếu ta kết hợp các âm [d], [ă], [n] và thanh sắc, thành tổ hợp âm “đắn” thì rõ ràng tổ hợp âm này không cho ta ý nghĩa nào cả, và do đó, ta không thể dùng nó để kết hợp trực tiếp với các đơn vị khác thành một thông báo Chẳng hạn, không thể kết hợp nó như là một tính từ để tạo ra một câu, kiểu như: “Ông ấy có nước da đắn” Tổ hợp âm này chỉ xuất hiện trong
Trang 810
một đơn vị lớn hơn là “đỏ đắn”, và chỉ trong đơn vị ấy, “đắn” mới cho ta một ý nghĩa nào đấy.) Ở nhiều ngôn ngữ, những đơn vị như vậy được gắn chặt với các đơn vị có nghĩa hoàn chỉnh, làm thành một bộ phận của chúng, ví dụ như: -er trong worker (công nhân), singer (ca sĩ) của tiếng Anh, hay – at’el trong pisat’el’ (nhà văn), prepodava t’el’ (giáo viên) trong tiếng Nga Chúng ta chỉ có thể biết được chúng nhờ vào sự xuất hiện lặp đi lặp lại, với cùng một ý nghĩa hoặc với ý nghĩa tương đối giống nhau của chúng Nói rằng chúng lặp đi lặp lại, nhưng không phải bao giờ hình thức của chúng cũng giữ được
nguyên vẹn mà có thể bị thay đổi đến một mức độ nhất định, và khi ấy, để nhận diện chúng, ý nghĩa cấu tạo của chúng sẽ là căn cứ quan trọng Đơn vị đó được coi là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa Các nhà ngôn ngữ học gọi đó là hình vị hay từ tố
Như vậy, hình vị (hay từ tố) là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, chúng tồn tại bằng cách lặp đi lặp lại dưới cùng một dạng hoặc dưới dạng tương đối giống nhau
trong các từ
Căn cứ vào ý nghĩa người ta chia từ tố (hình vị) ra làm hai loại: chính tố và phụ tố Chính
tố là hình vị mang ý nghĩa từ vựng, còn phụ tố là hình vị mang ý nghĩa từ vựng bổ sung hoặc ý nghĩa ngữ pháp Ý nghĩa của chính tố thì cụ thể logic với đối tượng, còn ý nghĩa của phụ tố thì trừu tượng, có liên hệ logic với ngữ pháp Ý nghĩa của chính tố hoàn toàn độc lập (tự nghĩa), còn ý nghĩa của phụ tố không độc lập (trợ nghĩa), nó chỉ rõ ràng khi nằm trong kết cấu của từ
VD: trong từ “teacher” (thầy giáo) của tiếng Anh, teach- là chính tố, biểu thị khái niệm “dạy” còn -er là phụ tố Bản thân -er không tồn tại độc lập với ý nghĩa nào cả Khi
kết hợp với các chính tố khác, nó bổ sung cho chính tố ý nghĩa “người hành động”
Có nhiều loại phụ tố khác nhau Trước hết, người ta phân biệt phụ tố cấu tạo từ và biến tố Phụ tố cấu tạo từ biểu thị ý nghĩa từ vựng bổ sung hoặc ý nghĩa ngữ pháp
(ví dụ: phụ tố -er của tiếng Anh đã dẫn ở trên là thuộc loại phụ tố cấu tạo từ mang
ý nghĩa từ vựng bổ sung Phụ tố за- trong các từ tiếng Nga заиграть “bắt đầu chơi”,
зашагать”bắt đầu bước” biểu thị ý nghĩa ngữ pháp của thể hoàn thành và của sự bắt đầu hành động)
Căn cứ vào vị trí đối với chính tố, có thể chia phụ tố cấu tạo từ thành:
*nhiều từ được cấu tạo bằng cả tiền tố lẫn hậu tố, Đó là hiện tượng song tố
Ví dụ: Tiếng Nga:
Trang 911
По + дорога + ник = подорожник (cây mã đề)
Tiếng Indonesia:
ke + manis “ngọt” + an = kemanisan (sự ngọt)
Ke +hutan “rừng” + an = kehutanan (lâm học)
c) Trung tố là phụ tố nằm chen vào giữa chính tố Ví dụ:
Trung tố -em- trong tiếng Indonesia:
Gilang “sáng” > g-em-ilang “sáng lấp lánh”
Trung tố -n- trong tiếng Khmer:
Kouch “buộc” => khnouch “cái nút”
d) Liên tố là phụ tố đặc biệt, có chức năng liên kết các chính tố trong từ phức Ví dụ: Các nguyên âm nối /o/ và /e/ trong tiếng Nga là như vậy: легк-о-мыслие “sự nhẹ dạ” Желез-о-дорожный “(thuộc về) đường sắt”
Biến tố là phụ tố chỉ xuất hiện ở những từ có biến đổi hình thái Chức năng của nó là biểu thị mối quan hệ cú pháp của các từ ở trong câu Ví dụ
vs chantez
ils chant-ent
Ngoài chính tố và phụ tố, còn có những hiện tượng được gọi là bán phụ tố Bán phụ tố là
những yếu tố không mất hoàn toàn nghĩa sự vật của mình, nhưng lại được lặp lại trong nhiều từ, có tính chất của những phụ tố cấu tạo từ
Trong tiếng Việt, những yếu tố như viên, giả, sĩ, hóa,… cũng có tính chất của các
bán phụ tố:
- ủy viên, thành viên, nhân viên, giáo viên,…
- kí giả,độc giả, thính giả, tác giả, học giả,…
- văn sĩ, thi sĩ, bác sĩ, y sĩ, nhạc sĩ, chiến sĩ,…
- công nghiệp hóa, lão hóa, Việt hóa,…
Trang 1012
2/ Cấ u tạo từ:
Căn cứ vào cấu tạo từ, có thể chia ra các kiểu từ sau:
A) Từ đơn:
Từ đơn là từ chỉ có 1 hình vị chính tố (Ví dụ: Các từ horse “con ngựa”, work “lao động”,
… trong tiếng Anh Các từ dame “phụ nữ”, maison “nhà”,… trong tiếng Pháp)
B) Từ phái sinh:
Từ phái sinh là từ gồm chính tố kết hợp với phụ tố cấu tạo từ (Ví dụ: Các từ mhôp “thức ăn” (hôp “ăn”), phnêk “phần, bộ phận”,… trong tiếng Khmer Các từ manly “một cách đàn ông”, maker “người làm”, kindness “lòng tốt” (kind “tốt”), … trong tiếng Anh ) C) Từ phức:
Từ phức là từ kết hợp của hai hoặc hơn hai chính tố
Tiếng Indonesia:
Remi “mẹ” + rano “nước” => remirano “sông”
Kala “thời gian” +warta “tin tức” => kalawarta “tạp chí”
Vorona “chim” + be “lớn” => vorombe “con ngỗng”
Puno “đầu” + ng + lunsod “thành phố” => punonglunsod “thủ đô”
Tiếng Đức:
Neubau “công trình mới”, Fernstudent “sinh viên hàm thụ”
Womderfahne “cờ luân lưu”, Fünfiahrplan “kế hoạch 5 năm”
D) Từ ghép:
Từ ghép là những từ cấu tạo bằng ghép hai hoặc hơn hai từ độc lập Ví dụ:
Tiếng Anh:
Break “bẻ gãy” + fast “nhanh” => breakfast “bữa sáng”
Class “lớp” + room “phòng” => classroom “phòng học”
Tiếng Pháp:
Vin “rượu vang” + aigre “chua” => vinaigre “giấm”
Père “bố” + grand “lớn” => grandpère “ông”
Tiếng Đức:
Schwarz “đen” + Brot “bánh mì”=> Schwarzbrot “bánh mì đen”
Stehen “đứng” + bleine “ở lại” => stehenbleine “dừng lại”
Từ ghép rất phổ biến ở các ngôn ngữ Đông Nam Á Căn cứ vào quan hệ giữa các thành
tố, có thể chia ra từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ
Trang 1113
Từ ghép đẳng lập có những đặc trưng chung là:
- Quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong từ là quan hệ bình đẳng
- Xét về mặt quan hệ ý nghĩa giữa các thành tố có thể thấy:
+ Hoặc các thành tố đồng nghĩa nhau, trong đó:
+ Hoặc các thành tố gần nghĩa nhau
+ Hoặc các thành tố trái nghĩa nhau
- Xét về mặt nội dung, nói chung, từ ghép đẳng lập thường gợi lên những phạm vi sự vật mang ý nghĩa phi cá thể hay tổng hợp ( tức biểu thị sự vật, tính chất hay hành động chung, mang tính chất khái quát )
- Tuy có quan hệ bình đẳng về mặt ngữ pháp, nhưng không đưa đến hệ quả là ý nghĩa từ vựng của các thành tố trong từ đều có giá trị ngang nhau trong mọi trường hợp
- Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa và phạm vi biểu đạt của
từ ghép, có thể phân từ ghép đẳng lập thành ba loại nhỏ là từ ghép đẳng lập gộp nghĩa, từ ghép đẳng lập đơn nghĩa và từ ghép đẳng lập hợp nghĩa
+ Từ ghép đẳng lập gộp nghĩa: bao gồm những từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A+B Tức là loại mà nghĩa của từng thành tố cùng nhau gộp lại để biểu thị ý nghĩa khái quát chung của cả từ ghép, trong ý nghĩa chung đó có ý nghĩa riêng của từng thành tố Chẳng hạn, từ quần áo chỉ đồ mặc nói chung, trong đó có cả quần lẫn áo
+ Từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bao gồm từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB =
A hoặc B Tức là loại mà nghĩa khái quát chung của cả từ ghép tương ứng với ý nghĩa của một thành tố có mặt trong từ
Do nghĩa của cả từ ghép tương đương với nghĩa của một thành tố nên thành tố còn lại có xu hướng bị mờ nghĩa hoặc bị mất nghĩa Yếu tố này sẽ làm chỗ dựa cho ý nghĩa của cả từ ghép
+ Từ ghép đẳng lập hợp nghĩa: bao gồm những từ ghép nằm trong mô hình ngữ
nghĩa AB > A+B Tức là loại mà ở đó nghĩa của cả từ không phải chỉ là phép cộng đơn thuần nghĩa của các thành tố, mà nó là sự tổng hợp nghĩa của các thành tố kèm theo sự trừu tượng hóa dựa trên cơ sở liên tưởng ẩn dụ hay hoán dụ Do đó nghĩa của cả từ mới hơn so với nghĩa của từng thành tố
Chú ý về trật tự các thành tố trong từ ghép đẳng lập
Bàn về từ ghép đẳng lập, người ta thường bàn đến khả năng hoán vị giữa các thành
tố Tuy nhiên cần chú ý là khả năng ấy không xảy ra phổ biến đối với toàn bộ lớp từ ghép đẳng lập, và không phải xảy ra vô điều kiện trong mọi trường hợp
Ví dụ về từ ghép đẳng lập:
Tiếng Indonesia:
Ibu “mẹ” + bapak “bố” => ibubapak “bố mẹ”
Trang 1214
Tanah “đất” + air “nước” => tanahair “tổ quốc”
Tiếng Khmer:
Kngôm “tôi” + kamdor “đầy tớ” => kngômkamdor “nô lệ”
Khlan “khỏe” + pukae “mạnh” => khlanpukae “người hùng”
Từ ghép chính phụ: Là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào một thành tố cấu tạo khác, tức trong kiểu từ ghép này thường có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp Loại này có những đặc điểm sau:
- Xét về mặt ý nghĩa, nếu từ ghép đẳng lập có khuynh hướng gợi lên các sự vật, tính chất
có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo từ này có khuynh hướng nêu lên các sự vật theo mang ý nghĩa cụ thể
- Trong từ ghép chính phụ, yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật, đặc trưng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ tường được dùng để cụ thể hóa loại sự vật, hoạt động hoặc đặc trưng đó
- Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa, có thể chia từ ghép chính phụ thành hai tiểu loại:
+ Từ ghép chính phụ dị biệt: là từ ghép trong đó yếu tố phụ có tác dụng phân chia loại sự vật, hoạt động, đặc trưng lớn thành những loại sự vật , hoạt động, đặc trưng, cụ thể Vì vậy có thể nói tác dụng của yếu tố phụ ở hiện tượng này là tác dụng phân loại + Từ ghép chính phụ sắc thái hóa: là những từ ghép trong đó thành tố phụ có tác bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiến cho cả từ ghép này khác với thành tố chính khi nó đứng một mình như một từ rời, hoặc khiến cho từ ghép sắc thái hóa này khác với từ ghép sắc thái hóa khác về ý nghĩa
Ví dụ về từ ghép chính phụ:
Tiếng Indonesia:
Mata “mắt” + hari “ngày” => matahari “mặt trời”
Air “nước” + mata “mắt” => airmata “nước mắt”
Tiếng Khmer:
Kôn “đứa trẻ” + sao “ổ khóa” => kônsao “chìa khóa”
Bondeng “đuổi” + col “ra” => bondengra “đuổi ra”
E) Từ láy:
Từ láy là một trong những từ cấu tạo bằng cách lặp lại thành phần âm thanh của 1 hình vị hoặc 1 từ Từ láy phổ biến ở các ngôn ngữ đông và đông nam châu Á Có thể phân ra từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận
Trang 1315
Láy hoàn toàn Gọi là láy hoàn toàn nhưng thực ra bộ mặt ngữ âm của hai thành tố
(hai tiếng) không hoàn toàn trùng khít nhau, chỉ có điều là phần đối của chúng rất nhỏ khiến người ta vẫn nhận ra được hình dạng của yếu tố gốc trong yếu tố được gọi là yếu tố láy Có thể chia các từ láy hoàn toàn thành ba lớp nhỏ hơn:
a Lớp những từ láy hoàn toàn, chỉ đối nhau ở trọng âm (một trong hai
yếu tố được nói nhấn mạnh hoặc kéo dài)
b Lớp từ láy hoàn toàn đối nhau ở thanh điệu Nguyên tắc đối thanh điệu
ở đây là: thanh bằng đối với thanh trắc trong mỗi nhóm cùng âm vực; và
bằng đứng trước, trắc đứng sau
c Lớp từ láy hoàn toàn, đối ở phần vần nhờ sự chuyển đổi âm cuối theo
quy luật dị hoá Thanh điệu của các yếu tố trong mỗi từ vẫn tuân theo
quy luật của lớp b
Ví dụ về từ láy hoàn toàn:
Tiếng Indonesia:
Api “lửa’ => apiapi “que diêm”
Fotsy “trắng” => fotsyfotsy “trăng trắng”
Tiếng Lào:
Tiếng Việt:
Láy bộ phận Những từ láy nào chỉ có điệp ở phần âm đầu, hoặc điệp ở phần vần thì
được gọi là láy bộ phận Căn cứ vào đó, có thể chia từ láy bộ phận thành hai lớp
a Lớp từ láy (điệp) âm đầu, đối ở phần vần Trong lớp này, có những từ
xét về mặt lịch sử vốn không phải là từ láy, nhưng vì quan hệ về nghĩa
giữa các yếu tố của chúng mất dần đi, làm cho quan hệ ngữ âm ngẫu
nhiên giữa các yếu tố đó nổi lên hàng đầu
Trong khi xét sự đối vần ở đây, cũng cần lưu ý tới hiện tượng đối ứng ở
âm chính Hiện tượng này không phải là quy luật toàn thể, nhưng đều
đặn ở một số nhóm từ
Trang 14Sự biểu đạt ý nghĩa của từ láy rất phức tạp và rất thú vị, nhất là ở nhiều nhóm từ cùng có khuôn cấu tạo lại có thể có những điểm giống nhau nào đó về nghĩa Điều này cần được khảo sát riêng tỉ mỉ hơn
Từ láy rất hạn chế trong các ngôn ngữ Ấn - Âu Trong tiếng Anh, từ láy chủ yếu là những từ mô phỏng âm thanh, gặp trong khẩu ngữ:
Murmur “tiếng rì rầm” hurdy-gury “đàn viên”
Ping-pong “bóng bàn” harum-scarum “người liều lĩnh”
Tiptop “đỉnh cao” helter-skelter “sự hỗn loạn”
Tiếng Nga cũng có những từ láy nhằm tăng cường cảm xúc:
дурак-дураком “thằng ngu”
давным давно “ngày xửa ngày xưa”
Các phương thức cấu tạo từ
Các kiểu cấu tạo từ trong các ngôn ngữ có thể được mô tả ở những cấp độ khác nhau, và do đó số lượng các phương thức cấu tạo từ có thể rất lớn, song xét ở cấp độ chung nhất, có thể nêu ba phương thức cấu tạo từ chủ yếu sau đây:
A) Phương thức phụ gia (phái sinh)
Phương thức phụ gia là phương thức kết hợp một căn tố hoặc một phức thể căn tố với phụ tố để tạo ra từ mới Những từ được tạo ra theo phương thức này thường được gọi
là từ phái sinh
Trang 1517
Ví dụ: trong tiếng Nga: căn tố golov được kết hợp với phụ tố -ka để tạo ra
từ golovka (cái đầu nhỏ); hoặc trong tiếng Anh: căn tố milk (sữa) được kết hợp với phụ
tố -y để tạo ra tính từ milky (có sữa, bằng sữa)
Phương thức phụ gia vẫn được coi là phương thức đặc trưng cho các ngôn ngữ biến hình, như tiếng Nga, tiếng Anh hay tiếng Đức Song thực ra, trong các ngôn ngữ không biến hình, như tiếng Việt, tiếng Khơme, hay tiếng Hán chẳng hạn, phương thức này cũng được sử dụng khá phổ biến, tuy nhiều khi tính chất phụ tố của các hình vị cấu tạo từ ở những ngôn ngữ này không thật rõ ràng
Ví dụ: Các từ ‘nhạc sĩ’, ‘hợp tác hoá’, ‘nhà văn’ của tiếng Việt có thể có cách cấu tạo giống như từ phái sinh ở các ngôn ngữ biến hình, song các từ tố ‘sĩ, hoá, nhà’ lại không hoàn toàn giống như các phụ tố, bởi lẽ chúng có thể tồn tại độc lập với ý nghĩa ít nhiều có thể xác định được Do vậy, nhiều người cho rằng không nên coi đây là những phụ tố và không nên coi những từ tạo trên đây là những từ được tạo ra bằng phương thức phụ gia
B) Phương thức ghép
Ghép là phương thức kết hợp các hình vị cùng tính chất với nhau (chủ yếu là các căn tố với nhau) theo một trật tự nhất định để tạo ra từ mới – từ ghép Đây là phương thức được sử dụng phổ biến trong các ngôn ngữ,
ví dụ: trong tiếng Việt: mua bán, thiệt hơn, thay đổi, được mất, xe hơi,
trong tiếng Anh: blackboard (bảng đen), inkpot (lọ mực), manpower (nhân lực),
trong tiếng Pháp: vinaigre (giấm), sous-marin (tàu ngầm),
Trong số các loại từ tạo thì từ ghép thường gây nên sự nghi ngờ và bất đồng ý kiến, vì rằng chúng dễ bị nhầm lẫn với cụm từ tự do Vì vậy, người ta phải đưa ra các tiêu chuẩn nhận diện từ ghép Ngoài các tiêu chuẩn áp dụng đối với các từ nói chung là:
– Phải có nghĩa hoàn chỉnh, nghĩa là biểu thị một nội dung khái niệm độc lập, hoàn chỉnh
– Có cấu trúc hình thức chặt chẽ, nghĩa là không thể bỏ đi một hình vị (từ tố) mà nghĩa của từ vẫn được giữ nguyên, hoặc không thể chêm các thành phần khác vào giữa hình vị hay chêm các thành phần phụ cho từng hình vị riêng lẻ,
còn có thể nêu thêm hai tiêu chuẩn sau đây:
– Phải có dấu hiệu hình thức, chẳng hạn như có hình vị nối (liên tố) giữa các căn tố, ví dụ: hình vị nối -o- trong zvuk-o-operator (người thu thanh) của tiếng Nga, hay speed-o-meter (đồng hồ tốc độ) của tiếng Anh
– Phải có sự biến âm (gọi là biến âm sandhi), nghĩa là các hình vị được ghép với nhau bị thay đổi hình thức ngữ âm, ví dụ: nguyên âm ‘e mũi’ của hình
vị vin (rượu vang) biến thành [i] khi có được kết hợp với aigre (chua)
thành vinaigre (giấm) trong tiếng Pháp, hay nguyên âm [o] của hình vị po trong
từ potomu (vì vậy) trong tiếng Nga được phát âm ngắn hơn bình thường, do trọng âm của
từ ghép này rơi vào âm tiết cuối
Trang 1618
C) Phương thức láy
Láy là phương thức lặp lại toàn bộ hay một bộ phận từ gốc để tạo ra từ mới – gọi
là ‘từ láy’
Ví dụ: đen đen, trăng trắng, sành sạch trong tiếng Việt
Phương thức láy là phương thức được sử dụng phổ biến trong các ngôn ngữ không biến hình, ví dụ như tiếng Việt, Lào, Khơme, tiếng Inđônêxia, v.v… Trong nhiều ngôn ngữ, phương thức này chỉ được sử dụng rất hạn chế, và điều quan trọng là ở đó, các kiểu cấu tạo láy không có tính sinh sản, do đó thường chỉ gồm một từ duy nhất thuộc loại, chứ không bao gồm nhiều từ thuộc loại như trong các ngôn ngữ không biến hình, ví dụ
như: tiptop (đỉnh cao) so-so (tàm tạm) trong tiếng Anh hay ‘chut-chut‘ (suýt nữa) trong tiếng Nga Hơn nữa, nhiều khi các từ láy ở những ngôn ngữ này lại có quan hệ với hiện tượng tượng thanh hay tượng hình, ví dụ như murmur (rì rầm) hay zigzag (ngoằn ngoèo) trong tiếng Anh, và do đó, thực ra chúng không phải là những từ tạo mà là từ gốc
Ngoài ra, láy còn là phương thức để thể hiện ý nghĩa ngữ pháp, ví dụ: ‘rénrén’ trong tiếng Trung và ‘người người’ trong tiếng Việt không phải là từ mới mà là dạng số nhiều của từ ‘rén’ và ‘người’ Bởi vậy, khi xác định phương thức láy cần phân biệt các dạng láy và từ láy, cũng như từ láy nguyên cấp (từ gốc) và từ láy thứ cấp – tức từ mới được tạo ra theo phương thức láy
Trên đây chỉ là những phương thức cấu tạo từ có tính chất tổng quát Tuỳ theo từng ngôn ngữ, các phương thức này có thể được chi tiết hoá thành những phương thức
cụ thể hơn, ví dụ: phương thức tiền tố hoá, phương thức hậu tố hoá, phương thức vĩ tố hoá, phương thức tiền tố hoá + hậu tố hoá, phương thức tiền tố hoá + vĩ tố hoá, v.v… Cũng nói thêm về các phương thức tạo từ mới:
A) Từ hóa hình vị: để tạo từ đơn Ví dụ : sách (hình vị) => sách (từ)
B) Chuyển loại: Biến đổi chức năng của từ để tạo ra từ mới
Ví dụ: Trong tiếng Anh: guess “phỏng đoán” => a guess “một sự phỏng đoán”, must “cần phải” => a must “một sự cần thiết”,… trong tiếng Việt: cưa, cày… danh từ => động từ; của, để, cho, thực từ => hư từ,…
C) Rút gọn: lượt bớt một phần của đơn vị đã có để tạo từ mới
Ví dụ: doctor “tiến sĩ” => doc, modern “mốt” => mod, Ấn Độ => Ấn,…
D) Viết tắt: Ghép các chữ cái ở đầu các từ trong một tổ hợp định danh để tạo từ mới
Ví dụ:
UN (United Nation) “Liên Hiệp Quốc”
FAO (Food and Agriculture Organization) “Tổ chức lương thực và nông nghiệp” FAHASA (Phát hành sách)
VINA (Việt Nam),…
Trang 1719
E) Mượn từ của các ngôn ngữ khác
Ví dụ: Trong tiếng Anh, từ alcohol “cồn, rượu” là mượn từ tiếng Ả Rập, trong tiếng Việt, từ con tem là mược từ tiếng Pháp limbre, từ ngôn ngữ là mượn từ tiếng Hán,…
IV/ Ngữ - Đơn vị tương đương từ:
Ngữ là cụm từ có sẵn trong ngôn ngữ, có giá trị tương đương và có nhiều đặc điểm giống với từ:
- Chúng có thể tái hiện trong lời nói như các từ
- Về mặt ngữ pháp, chúng cũng có thể làm thành phần câu, cũng có thể là
cơ sở để cấu tạo các từ mới
- Về mặt ngữ nghĩa, chúng cũng biểu hiện những hiện tượng của thực tế khách quan, gắn liền với những kiểu hoạt động khác nhau của con người
+ Những đặc trưng cơ bản của ngữ:
Ngữ có hai đặc trưng cơ bản: tính cố định và tính thành ngữ
A) Tính cố định
Tính cố định của một kết hợp một yếu tố nào đó với các yếu tố khác được đo bằng khả năng mà yếu tố đó có thể dự đoán sự xuất hiện đồng thời của các yếu tố còn lại của kết hợp (trong trật tự nhất định với yếu tố được dự đoán)
Tính cố định của một kết hợp có thể tính theo bất cứ yếu tố nào của nó Nhưng trên thực tế, muốn miêu tả một kết hợp, để tiện lợi, người ta lấy tính cố định lớn nhất, tức là tính cố định được tính theo yếu tố có khả năng dự đoán lớn nhất sự xuất hiện đồng thời của của các yếu tố còn lại
Tính cố định của kết hợp có thể thay đổi từ 1 đến 0
Tính cố định bằng 1 (tức là 100%), nếu yếu tố dự đoán không được gặp ở ngoài kết quả đó Ví dụ:
Nez aquilin “mũi khoằm” của tiếng Pháp (đối với từ aquilin)
Dưa hấu (đối với hấu), dai nhách (đối với nhách) của tiếng Việt
Tính cố định của kết hợp bằng 0, nếu các yếu tố không được gặp trong kết hợp đó, chẳng hạn các kết hợp vô lý: tóc và đi, cùng nhưng, hột líp, lá sàn, …
Bởi vì đại lượng tính cố định có thể có mọi giá trị từ 1 đến 0, cho nên nếu dùng từ chặt chẽ không thể gọi các kết hơp một cách đơn giản là “cố định” hoặc “không cố định” Mọi kết hợp đều có tính cố định đến mức nào đó Cái ngưỡng của tính cố định được lựa chọn một cách võ đoán, xuất pháp từ mục đích thực tế
Trang 1820
Dầu sao chăng nữa, hiện nay vẫn có thể dùng khái niệm tính cố định sau khi tạm thời quy định ánh chừng xác suất căn cứ vào những cảm giác chủ quan hoặc căn cứ vào sự điều tra một số tài liệu không lớn lắm
* Đối với tiếng Việt, các nhà nghiên cứu thường quan niệm một số tổ hợp được coi là có tính cố định khi:
- có trật tự ngược cú pháp tiếng Việt Ví dụ: văn học, hải quân, bệnh viện, …
- có chứa những thành tố không hoạt động độc lập Ví dụ: quốc gia, chợ búa,… B) Tính thành ngữ:
Theo cách hiểu thông thường, một tổ hợp được coi là có tính thành ngữ khi ý nghĩa của nó là một cái gì mới, khác với tổng số ý nghĩa của những bộ phận tạo thành
Vì các khái niệm nghĩa và ý nghĩa chưa được làm sáng tỏ cho nên có thể sử sụng yếu
tố tương đương khi dịch để định nghĩa tính thành ngữ
Một tổ hợp được coi là có tính thành ngữ nếu trong đó có ít nhất một từ khi dịch toàn
bộ tổ hượp người ta phải dịch từ ấy bằng một yếu tố mà yếu tố đó chỉ tương đương với
từ ấy khi từ ấy xuất hiện đồng thời với tất cả các yếu tố còn lại của tổ hợp (trong trật tự nhất định).Thêm vào đó, từ này có thể được gặp cả khi không có các yếu tố còn lại Trong định nghĩa trên, có ba nhân tố cần chú ý:
trong tổ hợp thành ngữ tính phải có ít nhất một từ có khả năng dịch duy nhất, tức là khả năng dịch chỉ có thể có được khi tồn tại đồng thời một hoặc một số từ nào đó Ví dụ:
Остаться с носом “không còn lại cái gì cả” (bị đánh lừa) ở đây, нос “cái mũi” nhận
được cách dịch duy nhất là “không cái gì cả” khi chỉ tồn tại đồng thời với các từ
Остаться và с
Mẹ tròn con vuông có nghĩa là “người phụ nữ ở cữ và con đều bình yên mạnh khỏe” Vuông và tròn chỉ có nghĩa là “bình yên”, “mạnh khỏe” khi kết hợp với các từ mẹ và con
1) Trong tổ hợp thành ngữ tính, từ có cách dịch duy nhất chỉ có được cách dịch đó khi nó xuất hiện đồng thời với các yếu tố còn lại Điều kiện này là cần thiết để tách tổ hợp thành ngữ tính ra khỏi những đơn vị phức tạp hơn mà tổ hợp đó là một thành phần
Ví dụ: Phải thực hiện kỉ luật sắt không phải tổ hợp thành ngữ tính bởi vì từ sắt có cách dịch duy nhất ngay cả khi vắng mặt các từ phải thực hiện Chỉ kỉ luật sắt mới là tổ hợp thành ngữ tính vì sắt có cách dịch duy nhất khi xuất hiện kỉ luật Tương tự, từ như trong như nước đổ lá khoai, như nước đổ đầu vịt không nằm trong tổ hợp thành ngữ tính
2) Từ có cách dịch duy nhất nằm trong tổ hợp thành ngữ tính phải được gặp ở ngoài tổ hợp đó, và khi ấy nó có cách dịch khác Điều kiện này cho phép phân biệt tổ hợp thành ngữ tính với những tổ hợp không có tính thành ngữ nhưng lại có tính cố định rất cao
Trang 1921
Trong tiếng Việt, cụm từ lửa có tính thành ngữ vì lửa trong kết hợp với cò, chỉ một loại
cò có lông màu đỏ Trong những cách dùng khác, lửa lại có những ý nghĩa khác: bếp đỏ lửa, lửa lòng,… những tổ hợp như bồ hóng, bù nhìn, ái quốc, nông nghiệp,… tuy có tính
cố định nhưng không có tính thành ngữ
V/ Phân loại ngữ
Theo quan niệm đã trình bày, tính cố định và tính thành ngữ là những thuộc tính hoàn toàn độc lập Tổ hợp có thể có tính cố định mà không có tính thành ngữ, hoặc ngược lại
Dựa vào hai thuộc tính này, tùy theo đặc điểm của từng ngôn ngữ cụ thể mà người
ta chia ra các kiểu ngữ khác nhau trong các ngôn ngữ Trước hết, đó là các nhóm ngữ cú hay còn gọi là các cụm từ cố định Các nhóm ngữ cú được hình thành trong lịch sử phát triển của một ngôn ngữ Mỗi nhóm ngữ cú là một tổ hợp từ, trong đó từng từ riêng lẻ thường đã mất đi ý nghĩa vốn có của nó Nghĩa của nhóm ngữ cú là nghĩa chung cho toàn
bộ tổ hợp, chứ không phải là nghĩa của các từ cộng lại Vì vậy, để có thể hiểu được và sử dụng được các nhóm ngữ cú, ta thường phải ghi nhớ chúng như là những chỉnh thể, cùng với nghĩa chung cho toàn bộ nhóm và khi sử dụng, ta không thể tuỳ tiện thay đổi tổ chức của chúng Nói cách khác, nhóm ngữ cú có kết cấu chặt chẽ và ý nghĩa hoàn chỉnh Nghĩa của nhóm ngữ cú có thể tương đương với nghĩa của một từ, vì vậy ta có thể dùng chúng như những từ bình thường Tuy nhiên, cũng có những nhóm ngữ cú mà cấu trúc và ý nghĩa rất giống với những nhóm từ tự do, nhưng đã được cố định hóa và được cộng đồng
sử dụng như là những đơn vị có sẵn Như vậy, các nhóm ngữ cú là những đơn vị ngôn ngữ được tạo ra và duy trì trong cộng đồng ngôn ngữ như là những đơn vị có sẵn, do vậy chúng không mất đi sau một hoạt động giao tiếp ngôn ngữ Mọi thành viên trong cộng đồng đều phải ghi nhớ chúng như ghi nhớ các từ bình thường
Trong các nhóm ngữ cú, người ta thường phân biệt hai loại:
a/ Thành ngữ
Đó là những tổ hợp từ có tính ổn định cao về tổ chức hình thức và nghĩa Thành ngữ được tạo ra theo nhiều cách, nhưng thường có một đặc điểm chung là các từ tạo nên thành ngữ đã mất hẳn tính độc lập của chúng, vì thế ta thường không thể giải thích được
lý do tại sao chúng được kết hợp với nhau, và không thể suy ra nghĩa của thành ngữ bằng cách tìm hiểu nghĩa của các từ hợp thành Chẳng hạn, thành ngữ “mạt cưa, mướp đắng”
có nghĩa là: ‘tay đáo để lại gặp tay đáo để khác,; nghĩa đó không thể suy ra từ nghĩa của các từ mạt cưa và mướp đắng, vốn là tên gọi của hai sự vật không có liên quan gì với nhau và lại càng không có liên quan gì với nghĩa của thành ngữ Chính vì vậy, khi sử dụng một thành ngữ, người ta thường không để ý đến nghĩa của các từ cấu tạo nên nó mà chỉ nghĩ đến ý nghĩa chung của cả tổ hợp mà thôi Và cũng chính vì không giải thích được lý do cấu tạo của thành ngữ mà người ta không thể tùy tiện thay đổi cấu tạo của chúng Những tổ hợp từ như: mẹ tròn con vuông; lọt mắt xanh; nằm gai nếm mật, v.v là những thành ngữ
Trang 2022
b/ Quán ngữ
Đó là những lối nói do sử dụng lâu ngày mà quen dần và trở lên ổn định về tổ chức hình thức và nghĩa Khác với thành ngữ, trong quán ngữ, các từ vẫn còn giữ được tính độc lập tương đối của chúng, vì thế thường ta có thể suy ra nghĩa của quán ngữ bằng cách tìm hiểu ý nghĩa của các từ hợp thành Nói chung, ta đều có thể giải thích lý do cấu tạo của quán ngữ Chẳng hạn, quán ngữ “đẹp như tiên” là quán ngữ so sánh Dựa vào ý nghĩa của các từ trong quán ngữ này, ta có thể hiểu ngay được ý nghĩa của nó Do hiểu được ý nghĩa cấu tạo của quán ngữ nên đôi khi, ta có thể thay đổi chút ít thành phần cấu tạo của chúng Chẳng hạn, ta có thể mở rộng quán ngữ trên thêm một chút thành “đẹp như tiên sa”, hay quán ngữ “khỏe như voi” có thể thay bằng “khoẻ như trâu” Tất cả những lối nói như: nói có bàn thờ, khôn nhà dại chợ, lừ đừ như từ vào đền, khoẻ như voi, v.v đều là những quán ngữ Như vậy, có thể thấy rằng mối quan hệ giữa các từ tạo thành quán ngữ không vững chắc như trong thành ngữ, do đó nhiều khi các quán ngữ được sử dụng giống như các cụm từ tự do
c/ Ngữ cố định
Trong nói viết hằng ngày, bên cạnh đơn vị cơ bản là từ, người ta còn dùng ngữ (hay cụm từ) cố định Ngữ cố định là một loại đơn vị từ vựng được hình thành do sự ghép lại của vài từ, có đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa ổn định, tồn tại với tư cách một đơn vị
mang tính sẵn có như từ Thí dụ: anh hùng rơm, nuôi ong tay áo, vắt chanh bỏ vỏ trong tiếng Việt; to have on, to join battle, to get wind of trong tiếng Anh v.v Những đơn vị
ấy tuy do vài từ ghép lại nhưng lại có những đặc điểm giống như từ Chúng là những đơn
vị có sẵn trong ngôn ngữ, hình thành trong quá trình giao tiếp từ rất lâu đời, có tính xã hội, mang tính cố định, bắt buộc và được coi là đơn vị tương đương với từ Khi cần sử dụng trong giao tiếp, người ta chỉ việc lựa chọn và tái sử dụng chứ không phải lâm thời ghép các âm lại theo cách riêng của cá nhân
* Sự khác nhau giữa ngữ cố định và từ ghép
- Về mặt tính chất của các thành tố: Ngữ cố định là đơn vị do nhiều từ kết hợp lại, tuy được kết hợp với nhau một cách chặt chẽ nhưng mỗi thành tố của ngữ cố định vẫn hiện rõ bản chất từ của chúng Còn từ ghép là đơn vị hoàn chỉnh có cấu tạo nội bộ, gồm một hay nhiều hình vị Ởí các từ ghép, hai hình vị căn tố (có nguồn gốc từ đơn) mang đặc điểm thành tố cấu tạo từ rất rõ, nhiều khi nghĩa của chúng bị mờ nhòe hẳn đi, không còn
tư cách một từ độc lập nữa, nó liên kết chặt hay phụ thuộc vào yếu tố đi kèm Thử so sánh: call-boy, call-box / to call the roll (gọi tên, điểm danh); xanh lè / ếch ngồi đáy giếng
- Về mặt cấu tạo: Cấu tạo của từ đơn giản gồm ghép hay láy hình vị Cấu tạo của ngữ cố định phức tạp hơn nhiều Nó là kết quả của sự vận dụng tổng hợp những quan
hệ cú pháp của từng ngôn ngữ Thí dụ, trong tiếng Việt, Gà trống nuôi con có quan hệ chủ vị; Nuôi con lại có quan hệ chính phụ; quan hệ chủ vị và chính phụ "chồng" lên nhau Trong Chân yếu tay mềm: chân yếu và tay mềm đều có quan hệ chủ vị Các quan
Trang 2123
hệ chủ vị này kế tiếp nhau theo quan hệ song song Trong tiếng Anh, mess of pottage
(miếng đỉnh chung, bả vật chất), to salt down money (để dành tiền) có kết cấu chính phụ
- Về mặt nghĩa, nghĩa của từ có chức năng định danh sự vật, hành động, tính chất rất rõ còn ngữ cố định thường có nghĩa bóng, có hàm ý bên cạnh nghĩa từ vựng của
từ Thử so sánh: may mắn / chuột sa hũ nếp, khoe khoang / múa rìu qua mắt thợ, sự cùng đường / chuột chạy cùng sào
d Sự khác nhau giữa cụm từ cố định và cụm từ tự do
- Về bản chất, cụm từ cố định là đơn vị ngôn ngữ, mang tính sẵn có, cố định, bắt buộc Còn cụm từ tự do là một tổ hợp hay kết cấu được lâm thời tạo ra trong quá trình giao tiếp
- Về nguồn gốc, cụm từ cố định là sản phẩm của tập thể, có tính xã hội còn cụm
từ tự do là sản phẩm của cá nhân
- Về ý nghĩa, nghĩa của cụm từ cố định, đặc biệt là các thành ngữ thường là
một chỉnh thể, thường vượt xa hay khác biệt so với nghĩa của thành tố cấu tạo Thí dụ:
Tiếng Anh : to play first fiddle: đóng vai trò chủ chốt (nghĩa từng từ: chơi cây vĩ cầm số một) The fish story: chuyện cường điệu, phóng đại (nghĩa từng từ: chuyện cá)
To show the white feather: hèn nhát (nghĩa từng từ: phơi bày cái lông trắng)
Tiếng Pháp : Donner sa langue au chat: không dám đoán (nghĩa từng từ: cho mèo ngôn ngữ của nó) Entre chien et loup: chạng vạng (nghĩa từng từ: giữa con chó và con sói)
Tiếng Việt : Ếch ngồi đáy giếng: sự thiển cận Buồn ngủ gặp chiếu manh: sự may mắn (nghĩa đen: buồn ngủ và có được chiếc chiếu để ngủ)
Còn nghĩa của cụm từ tự do là hợp nghĩa của các thành tố Người ta dễ dàng giải thích nghĩa của cụm từ tự do bằng cách giải thích tuần tự nghĩa của các thành tố
* Phân loại ngữ cố định Tùy theo tiêu chí phân loại, có các hệ thống phân loại cụm từ cố định khác nhau
1) Dựa vào tính cố định và mức độ hòa hợp nghĩa của các từ trong cụm
từ, nhà ngôn ngữ học Pháp Chalers Bally chia ngữ cố định trong tiếng Pháp ra làm ba loại :
- Ngữ cố định thông dụng (les groupements usuels)
- Ngữ cố định tổ hợp (les séries phraséologiques)
- Ngữ cố định tổng hợp (les unites phraséologiques)
Về sau, viện sĩ Liên Xô Vinogradov đã theo cách ấy để chia ngữ cố định tiếng Nga ra làm
ba loại mà ta có thể áp dụng chung cho các ngôn ngữ biến hình:
Trang 2224
- Ngữ vị dung hợp: các ngữ cố định có độ gắn bó về nghĩa cao nhất, không thể giải thích nghĩa của cụm từ dựa vào nghĩa đen của các thành tố Ðây là trường hợp của các thành ngữ như to show the white feather (hèn nhát); a fish out of water (lạ nước lạ cái)
- Ngữ vị tổng hợp: các ngữ cố định có mức độ gắn bó ý nghĩa thấp hơn loại trên và nghĩa của nó cơ bản dựa trên sự hợp nghĩa của các thành tố Thí dụ:
Tiếng Anh: as a rule (thường, nói chung), make up ones mind (quyết định)
Tiếng Pháp: sang blue (máu xanh) nghĩa bóng là dòng dõi quí tộc
- Ngữ vị tổ hợp: các ngữ cố định có mức độ gắn bó ý nghĩa của các từ ở mức độ
thấp nhất Nghĩa của nó có thể suy ra dễ dàng từ nghĩa của các thành tố Thường chỉ có một bộ phận nhỏ được dùng ở nghĩa bóng Thí dụ:
Tiếng Anh: In other words (nói cách khác), quite a few (nhiều)
Tiếng Pháp: Libre comme lair (tự do như không khí)
Dựa vào cách phân loại này, các tác giả Việt nam chia ngữ cố định tiếng Việt ra làm ba loại:
- Thành ngữ: Tương tự với ngữ cố định dung hợp đã nói ở trên Thí dụ: Ăn cá bỏ lờ, há miệng mắc quai, vắt chanh bỏ vỏ
- Quán ngữ: Tương tự ngữ cố định tổng hợp Thí dụ: Nói tóm lại; nói cách khác; trước hết, sau đó, một mặt thì, mặt khác thì, của đáng tội, nói nào ngay
- Ngữ cố định định danh: Tương tự ngữ cố định tổ hợp, chúng thường được cấu tạo để định danh cho các sự vật Thí dụ: Anh hùng rơm, chân mày lá liễu, mắt lá răm, tóc rễ tre
2) Dựa vào cấu tạo ngữ pháp của ngữ cố định
Ða số ngữ cố định của các ngôn ngữ được tổ chức theo cấu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ ấy Rất ít ngữ cố định được tổ chức ngoài quy luật trên Theo cấu tạo ngữ pháp,
có thể chia ngữ cố định ra làm hai loại:
- Ngữ cố định có kết cấu cụm từ:
Loại có quan hệ song song:
Tiếng Việt: Lên xe xuống ngựa, đỏ mặt tía tai, màn trời chiếu đất
Tiếng Anh: The ins and outs (những chỗ ngoằn ngoèo)
Stocks and stones (những người khô khan không có tình cảm)
Neither fish, flesh nor good red herring (nửa nạc nửa mỡ)
Tiếng Pháp: Le pour et le contre (lợi hại, phải trái)
Au diable vauvert hoặc Au diable au vert (xa lắc xa lơ)
-Loại có quan hệ chính phụ :
Trang 2325
Tiếng Việt: Anh hùng rơm, gởi trứng cho ác, rán sành ra mỡ
Tiếng Anh: Jack of all trades (người khéo tay)
To make mountains out of molehill (bé xé ra to) Make hay while the sun shines (nắm thời cơ thuận lợi) Tiếng Pháp: Brave à trois poils (anh hùng rơm)
Forger de toutes pièces (hoàn toàn bịa đặt)
Homme de paille (người vô giá trị, bù nhìn)
- Ngữ cố định có kết cấu câu (có thể câu đơn hoặc câu phức)
Tiếng Việt: Cá lớn nuốt cá bé, trứng treo đầu gậy
Tiếng Anh: One's heart is in the right place (có ý đồ tốt)
Enough is as good as a feast (ít mà tinh)
Tiếng Pháp: L'homme propose et Dieu dispose (Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên)
3) Dựa vào nguồn gốc: Chia ngữ cố định ra làm hai loại:
- Ngữ cố định thuần: Ngữ cố định được hình thành từ chính ngôn ngữ dân tộc
và trong quá trình phát triển của dân tộc Thí dụ:
Tiếng Việt: Nợ như chúa Chổm, mẹ tròn con vuông, đi guốc trong bụng
Tiếng Anh: The blue devils: sự bi ai (nghĩa đen: những con quỉ xanh)
Tiếng Pháp: Colère bleue: cơn thịnh nộ (nghĩa đen: nỗi giận màu xanh)
Guerre froide: chiến tranh lạnh
- Ngữ cố định vay mượn: Ngữ cố định xuất hiện bằng con đường vay mượn hoặc dịch từ tiếng nước ngoài do sự giao lưu giữa các dân tộc
Tếng Anh: April fish vay mượn poisson d'avril của tiếng Pháp
Tiếng Việt: “Hòn đá thử vàng”, “như chó với mèo” vay mượn từ “pierre de
touche”, “vivre comme chien et chat” của Pháp “Có một không hai”,” lá ngọc cành vàng”, “cưỡi ngựa xem hoa” vay mượn từ “độc nhất vô nhị”, ”kim chi ngọc diệp”, “tẩu
mã khán hoa” của Trung Quốc
Ngữ cố định là nhánh phụ nhưng góp phần quan trọng vào việc làm giàu kho từ vựng của dân tộc
Trang 2426
VI/ NGHĨA CỦA TỪ
Từ là đơn vị có tính hai mặt trong ngôn ngữ: mặt nội dung và mặt hình thức Mặt nội dung chính là nghĩa của từ
Để trả lời câu hỏi chính "Nghĩa của từ là gì?", trước hết ta phải trở lại với bản chất tín hiệu của từ Từ là tín hiệu, nó phải "nói lên", phải đại diện cho, phải được người sử dụng quy chiếu về một cái gì đó
Khi một người nghe hoặc nói một từ nào đó, mà anh ta quy chiếu, gắn vào đúng sự vật có tên gọi là từ đó như cả cộng đồng xã hội vẫn gọi; đồng thời, ít nhiều anh ta cũng biết được những đặc trưng cơ bản nhất của sự vật đó, và anh ta sử dụng từ đó trong giao tiếp đúng với các mẹo luật mà ngôn ngữ có từ đó cho phép; ta nói rằng anh ta đã hiểu nghĩa của
từ đó
Ví dụ: Một người Việt hoặc không phải là người Việt, nói hoặc nghe một từ, như CÂY chẳng hạn, mà anh ta có thể:
Quy chiếu, gắn được từ "cây"vào mọi cái cây bất kì trong thực tại đời sống;
Ít nhiều cũng biết được đại khái như: cây là loài thực vật mà phần thân, lá đã phân biệt rõ, ví dụ như: cây mía, cây tre,
Dùng từ "cây" trong giao tiếp, phát ngôn, đúng với quy tắc ngữ pháp tiếng Việt
Ta nói được rằng: Anh ta hiểu nghĩa của từ CÂY trong tiếng Việt
Cho tới nay, đa số các nhà nghiên cứu đều quan niệm nghĩa của từ là những liên hệ Tuy nhiên, đó không phải là những liên hệ logic tất yếu, mà là những liên hệ phản ánh, mang tính quy ước, được xây dựng bởi những cộng đồng người bản ngữ
Mỗi khi học nghĩa của một từ, cúng ta đều học bằng cách liên hội từ với những cái
mà nó chỉ ra (trước hết là sự vật, hiện tượng, hành động, hoặc thuộc tính, mà từ đó làm tên gọi cho nó) Mặt khác, nghĩa của từ cùng được học thông qua hoặc liên quan với vô vàn tình huống giao tiếp ngôn ngữ mà từ đó được sử dụng
Thuở nhỏ, ta thấy một cái cây bất kì chẳng hạn, ta hỏi đó là cái gì và được trả lời đó
là là cái cây Dần dần, nay với cây này, mai với cây khác, ta liên hội được từ CÂY của
tiếng Việt với chúng Thế rồi, bước tiếp theo nữa, ta dùng được từ "cây" trong các phát
ngôn như trồng cây, chặt cây, tưới cây, cây đổ, cây cau, cây hoa, và tiến tới hiểu cây là
loài thực vật, có thân, rễ, lá, hoặc hoa, quả, Vậy là ta đã hiểu được nghĩa của từ CÂY Đến đây, có thể phát biểu vắn tắt lại như sau: Nói chung, nghĩa của từ là những liên
hệ được xác lập trong nhận thức của chúng ta giữa những cái mà nó (từ) chỉ ra (những cái
mà nó làm tín hiệu cho)
Trang 25
27
Khái niệm về ý nghĩa của từ
1 Nghĩa của từ là bản thể Gồm có các ý kiến sau:
- Nghĩa của từ là đối tượng
- Nghĩa của từ là những hiện tượng tâm lí (như biểu tượng, khái niệm, sự phản ánh)
- Nghĩa của từ là chức năng
- Nghĩa của từ là sự phản ánh đối với hiện thực
2 Nghĩa của từ là quan hệ: Theo khuynh hướng này có các ý kiến đáng chú ý sau:
- Nghĩa của từ là quan hệ giữa tín hiệu và đối tượng
- Nghĩa của từ là quan hệ giữa tín hiệu, khái niệm và đối tượng
Như vậy, có thể hiểu về ý nghĩa của từ như sau: Nghĩa của từ là nội dung tinh thần
mà từ biểu hiện, nó được hình thành do sự kết hợp và tác động của nhiều nhân tố Trong
số đó có những nhân tố nằm ngoài ngôn ngữ và những nhân tố nằm trong ngôn ngữ Nhân
tố ngoài ngôn ngữ như: sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, tư duy và người sử dụng Nhân tố trong ngôn ngữ như: chức năng tín hiệu học, hệ thống (cấu trúc) của ngôn ngữ
Trong các bài đọc văn bản, ở phần tiếp sau văn bản được trích hoặc nguyên văn, thường có phần chú thích Chủ yếu các chú thích là nhằm giảng nghĩa của các từ lạ, từ khó
Ví dụ:
- tập quán: thói quen của một cộng đồng (địa phương, dân tộc, v.v ) được hình thành
từ lâu trong đời sống, được mọi người làm theo
- lẫm liệt: hùng dũng, oai nghiêm
- nao núng: lung lay, không vững lòng tin ở mình nữa
Cấu tạo của mỗi chú thích trên gồm hai bộ phận: phần từ cần chú thích và phần nghĩa của từ được chú thích (sau dấu hai chấm)
Trong ba trường hợp chú thích trên, nghĩa của từ được giải thích theo hai kiểu:
- Giải thích bằng khái niệm mà từ biểu thị (tập quán);
- Giải thích bằng các từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ được giải thích (lẫm liệt, nao núng)
Đây cũng là hai cách thông thường để nắm được nghĩa của từ
Trang 2628
VII/ Phân biệt nghĩa và sở chỉ
Bản thân từ ngữ không chỉ cái gì hết
Ví dụ: Từ “cá” trong từ điển, hay trong “cá là loài sống dưới nước” không hề có sở chỉ
Nhưng nếu trong một trường hợp cụ thể nào đó, chẳng hạn như chúng ta đang ngắm
cá dưới một cái ao, có người bảo “Cá to quá”, thì ngay lúc đó người nói và người nghe đều
biết đó là con cá nào Vậy thì trong hoàn cảnh đó, từ “cá” là từ có sở chỉ
-Nghĩa sở chỉ / Ý nghĩa biểu vật của từ: Ý nghĩa biểu vật còn được gọi là ý nghĩa
sự vật hoặc ý nghĩa sở chỉ Đây là thành phần ý nghĩa liên quan đến chức năng biểu thị sự
vật/hiện tượng của từ Ý nghĩa này phản ánh bản thân các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan hoặc đặc trưng, tính chất… của chúng
Tuy nhiên, đối tượng mà từ biểu thị lại không phải là một sự vật hay hiện tượng cụ thể, đơn lẻ nào của thực tế khách quan mà là một sự vật hay hiện tượng mang tính khái quát có thể đại diện cho các sự vật hay hiện tượng cùng loại
Có thể nói: ý nghĩa biểu vật là hình ảnh chung nhất của tất cả các sự vật, hiện tượng cùng loại mà từ có thể gọi tên hay gợi ra Hoặc cũng có thể nói: Sự tương ứng giữa từ và sự vật hay hiện tượng là sự tương ứng mang tính tổng loại (toàn loại) chứ không phải sự tương ứng theo kiểu một – một
Điều này cũng đúng với cả những trường hợp mà ý nghĩa biểu vật của từ là một
sự vật duy nhất thuộc loại, ví dụ như trường hợp các từ mặt trời, mặt trăng hay thượng
đế chẳng hạn, bởi lẽ ngay cả trong các trường hợp này, từ cũng loại bỏ mọi biểu hiện
riêng biệt của sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, chỉ giữ lại những gì chung nhất, tức là những cái có tính chất tổng loại
Ví dụ: từ ‘mặt trăng’ chỉ biểu thị một mặt trăng chung chung, mà trong thực tế có thể ứng với ‘trăng non’, ‘trăng rằm’, ‘trăng mùa hạ’, ‘trăng mùa thu’, v.v…