Ngoài ra, pháp luật còn quy định cho một số chủ thể khác cũng có thẩm quyền ban hành vănbản pháp luật như: Người đứng đầu các cơ quan nhà nước, thủ trưởng một số đơn vịtrực thuộc các cơ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI PHÂN HIỆU TẠI TP HCM
KHOA: PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH
TÊN ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRONG VĂN BẢN
PHÁP LUẬT HIỆN NAY Ở VIỆT NAM TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: Xây dựng văn bản pháp luật
Mã phách: ……….
Trang 2TP Hồ Chí Minh – 2022
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài tiểu luận này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Ban Giám hiệu Trường Đại Học Nội vụ Hà Nội phân hiệu tại Thành phố HồChí Minh vì đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất với hệ thống thư viện hiện đại,
đa dạng các loại sách, tài liệu thuận lợi cho việc tìm kiếm, tra cứu và nghiêncứu thông tin
Xin cảm ơn giảng viên bộ môn đã giảng dạy tận tình, chi tiết, cung cấp nhữngkiến thức quan trọng, bổ ích để em có đủ kiến thức và vận dụng chúng vào bàitiểu luận này
Do chưa có nhiều kinh nghiệm làm đề tài cũng như những hạn chế về kiếnthức, trong bài tiểu luận này chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót.Rất mong nhận được sự nhận xét, ý kiến đóng góp, phê bình từ phía Thầy (Cô)
để bài tiểu luận này được hoàn thiện hơn
Lời cuối cùng, em xin kính chúc Thầy (Cô) nhiều sức khỏe, thành công vàhạnh phúc
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC Trang bìa
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài 5
NỘI DUNG 6
Chương 1: Cơ sở lý luận về ngôn ngữ trong văn bản pháp luật 6
1.1 Văn bản pháp luật 6
1.2 Ngôn ngữ 7
1.2.1 Khái niệm 7
1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản pháp luật 9
1.3 So Sánh ngôn ngữ trong văn bản pháp luật với ngôn ngữ của các loại văn bản khác. 13
1.3.1 Điểm giống nhau 13
1.3.2 Điểm khác nhau 14
Chương 2: Thực trạng sử dụng ngôn ngữ trong văn bản pháp luật hiện nay ở Việt Nam 16
2.1 Thực trạng 16
2.2 Một số lỗi ngôn ngữ thường gặp trong văn bản pháp luật 19
2.3 Hậu quả 21
2.4 Giải pháp 22
KẾT LUẬN 25
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung, được nhà nước đặt ra và bảođảm thực hiện Văn bản pháp luật là công cụ vô cùng quan trọng trong hoạtđộng quản lý nhà nước và có tác động to lớn đến đời sống xã hội Vì vai trò tolớn như vậy nên các văn bản pháp luật được xây dựng với những yêu cầu chặtchẽ về cả nội dung lẫn hình thức Ngôn ngữ trong văn bản là phương tiện hàngđầu để thể hiện ý chí của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền ban hành văn bản
đó Thông qua ngôn ngữ, chủ thể ban hành văn bản thể hiện ý chí của mình vàngười đọc văn bản tiếp nhận, thực hiện những hành vi cần thiết, phù hợp vớivăn bản đã nhận được, đáp ứng yêu cầu của chủ thể ban hành
Vì ngôn ngữ có vai trò quan trọng nên khi xây dựng văn bản pháp luật khôngthể không quan tâm tới vấn đề ngôn ngữ Trình độ sử dụng ngôn ngữ củangười ban hành soạn thảo văn bản ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc tới chấtlượng của văn bản Nhằm tạo ra những văn bản luật gọn gàng, rõ ràng, dễ hiểu,
dễ thi hành thi việc sử dụng ngôn ngữ trong quá trình xây dựng văn bản là yêucầu rất quan trọng đối với người soạn thảo Tuy nhiên hiện nay còn nhiều vănbản sai phạm liên quan đến ngôn ngữ gây hiểu lầm, truyền tải không đúngthông tin đến người tiếp nhận Vì vậy, em chọn nghiên cứu đề tài “Đánh giáthực trạng sử dụng ngôn ngữ trong văn bản pháp luật hiện nay ở Việt Nam.”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu thực trạng sử dụng ngôn ngữ trong vănbản pháp luật hiện nay ở Việt Nam
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
4
Trang 5+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận về ngôn ngữ trong văn bản pháp luật.
+ Nghiên cứu thực trạng sử dụng ngôn ngữ trong văn bản pháp luật hiện nay.+ Đề xuất giải pháp việc sử dụng ngôn ngữ trong văn bản pháp luật được hiệu quả hiện nay và sắp tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng sử dụng ngôn ngữ trong văn bản pháp luật hiện nay ở Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian nghiên cứu: Đất nước Việt Nam
+ Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2018 đến năm 2021
+ Khách thể nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trên thực trạng ngôn ngữ trong văn bản pháp luật hiện nay ở Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, kháiquát vấn đề lý luận trong các tài liệu tham khảo có liên quan đến việc sử dụng ngônngữ trong văn bản pháp luật
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động, phương pháp nghiên cứu chuyên sâu
5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu ngôn ngữ trong văn bản pháp luật hiện nay ở Việt Nam giúphiểu rõ về việc sử dụng ngôn ngữ vào văn bản pháp luật Qua đó ta có cái nhìntổng thể về ngôn ngữ trong pháp luật cũng như cách vận dụng nó khi soạn thảovăn bản Từ việc nghiên cứu về đề tài này, ta thấy được nguyên nhân dẫn đếnsai phạm khi soạn thảo văn bản Qua đó, ta đưa ra giải pháp khắc phục tìnhtrạng này
Trang 6NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận về ngôn ngữ trong văn bản pháp luật
1.1 Văn bản pháp luật
Văn bản pháp luật là văn bản do cơ quan có thẩm quyền ban hành, theo trình
tự, thủ tục, hình thức đã được quy định trước đó, nhằm thể hiện ý chí của chủthể ban hành và từ văn bản này đạt được mục đích quản lý đặt ra
* Đặc điểm của văn bản pháp luật
- Do những chủ thể có thẩm quyền ban hành
Ở Viêt Nam những chủ thể có thẩm quyền của cơ quan nhà nước bao gồm: Các
cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp Các cơ quan nhà nước chỉ được ban hành vănbản pháp luật trong phạm vi, lĩnh vực do mình quản lý mà pháp luật quy định Ngoài
ra, pháp luật còn quy định cho một số chủ thể khác cũng có thẩm quyền ban hành vănbản pháp luật như: Người đứng đầu các cơ quan nhà nước, thủ trưởng một số đơn vịtrực thuộc các cơ quan nhà nước,…
- Được ban hành theo trình tự, thủ tục nhất định
Văn bản pháp luật được ban hành theo thủ tục, trình tự theo quyđịnh của pháp luật như Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật,Luật khiếu nại, tố cáo,…Với mỗi văn bản pháp luật cụ thể thì có
Trang 7TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com
Trang 8nhưng nhìn chung đều bao gồm những hoạt động mang tính chuyên môn,nghiệp vụ có vai trò trợ giúp cho người soạn thảo, tạo cơ chế trong việc phốihợp, kiểm tra giám sát của những cơ quan có thẩm quyền đối với việc banhành văn bản pháp luật.
- Chứa đựng ý chí của chủ thể
Nội dung của văn bản pháp luật chứa đựng ý chí của chủ thể ban hành Ý chíđược biểu hiện qua hai hình thức đó là qua các quy phạm pháp luật thì baogồm cấm, cho phép, bắt buộc hoặc qua những mệnh lệnh của chủ thể là người
có thẩm quyền
- Mang tính bắt buộc và được nhà nước đảm bảo thực hiện
Nhà nước có thể áp dụng nhiều biện pháp khác nhau như: tuyên truyền, giáodục hoặc cưỡng chế Nếu các tổ chức, cá nhân có liên quan không thực hiệnhoặc thực hiện không đúng các nội dung của văn bản pháp luật thì phải chịutrách nhiệm pháp lý trước nhà nước
1.2 Ngôn ngữ
1.2.1 Khái niệm
Ngôn ngữ là phương tiện quan trọng hàng đầu để thể hiện ý chí của cấp cóthẩm quyền Thông qua ngôn ngữ, chủ thể ban hành văn bản thể hiện ý chí củamình và qua đó người đọc văn bản tiếp nhận, thực hiện những hành vi cầnthiết, phù hợp với văn bản đã nhận được, đáp ứng yêu cầu của chủ thể banhành
Vì ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng nên khi xây dựng văn bản pháp luật Cóthế nói, trình độ sử dụng ngôn ngữ của người soạn thảo văn bản có ảnh hưởngtrực tiếp và sâu sắc tới chất lượng của văn bản Nhằm mục đích tạo ra nhữngvăn bản pháp luật gọn gàng, rõ nghĩa, dễ hiểu và dễ thi hành thì việc sử dụngcác đơn vị ngôn ngữ trong quá trình xây dựng văn bản là một yêu cầu rất quantrọng đối với người soạn thảo
Trang 9Hiểu một cách khái quát nhất, ngôn ngữ trong văn bản pháp luật là hệ thốngnhững từ được kết hợp theo quy tắc trong tiếng Việt, được Nhà nước sử dụng
đế thể hiện nội dung các văn bản pháp luật Là hình thức pháp lý đặc thù củaquyết định quản lý nhà nước, văn bản pháp luật phải được thể hiện bằng ngônngữ viết
Sử dụng ngôn ngữ viết, nhà quản lý có thể lựa chọn các từ ngữ có tính chínhxác cao; lập các câu có kết cấu ngữ pháp chặt chẽ, hoàn chỉnh, nhờ đó có thểtrình bày cụ thể, rõ ràng ý chí của mình và tạo điều kiện thuận lợi cho đốitượng thi hành văn bản nắm bắt được đúng đắn, đầy đủ nội dung của văn bảnpháp luật Đồng thời, cách thức thể hiện này cũng giúp các cơ quan nhà nướcthuận lợi trong việc sao gửi, nghiên cứu, lưu trữ thông tin nhằm phục vụ hoạtđộng quản lý của mình
Văn bản pháp luật phải được viết bằng tiếng Việt, phải tuân theo những quytắc chung của tiếng Việt Sử dụng tiếng Việt để soạn thảo các văn bản phápluật không chỉ là yêu cầu mang tính pháp lý mà còn là vấn đề khoa học, vìtrong một quốc gia đa dân tộc và mỗi dân tộc lại có ngôn ngữ riêng như ở ViệtNam, tiếng Việt là tiếng được đại đa số người dân trên mọi miền đất nước biếtđến Tiếng Việt được quy định là quốc ngữ và được đưa vào giảng dạy tronggiáo dục, vì vậy nó mang tính thông dụng, phổ biến Văn bản pháp luật đượcsoạn thảo bằng tiếng Việt thì mới có thể phổ biến tới nhiều người và nhiềungười cùng hiểu được nội dung của văn bản, nhờ đó hiệu quả thực hiện vănbản cũng cao hơn
Hiện nay, pháp luật đã có quy định về việc sử dụng tiếng Việt để soạn thảomột số loại văn bản pháp luật Với nhóm văn bản quy phạm pháp luật, LuậtBan hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định: Ngôn ngữ trongvăn bản quy phạm pháp luật là tiếng Việt (Khoản 1 Điều 8 Luật Ban hành vănbản quy phạm pháp luật năm 2015) Hình thức và kĩ thuật trình bày văn bảnquy phạm pháp luật của Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch
Trang 10nước cũng quy định: Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản là tiếng Việt Đồng thời,trong nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Banhành văn bản quy phạm pháp luật, thông tư hướng dẫn về thể thức và kĩ thuậttrình bày văn bản đều có quy định: Phông chữ sử dụng để trình bày văn bảnphải là các phông chữ tiếng Việt (Phụ lục I Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngàỵ05/3/2020 của Chính phủ quy định về công tác văn thư; Điều 69 Nghị định số34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều
và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật) Như vậy,
để soạn thảo các văn bản pháp luật trên máy vi tính, người soạn thảo chỉ đượclựa chọn ngôn ngữ duy nhất là tiếng Việt hoặc Nghị quyết số351/2017/UBTVQH14 ngày 14/3/2017 của ủy ban Thường vụ Quốc hội quyđịnh cụ thể
Văn bản pháp luật là tiếng nói chính thức của cơ quan công quyền, đại diệncho Nhà nước Vì vậy, ngôn ngữ trong văn bản pháp luật mang phong cáchhành chính Yêu cầu của phong cách hành chính đòi hỏi ngôn ngữ trong vănbản pháp luật phải trang trọng, điển hình và mang tính khuôn mẫu, được Nhànước sử dụng chính thức Để diễn đạt các chủ trương, chính sách, các mệnhlệnh cụ thể phục vụ hoạt động công quyền, Nhà nước đặt ra những yêu cầunhất định đối với hệ thống ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản Chínhnhững yêu cầu đó đã tạo ra sự đặc thù của ngôn ngữ văn bản pháp luật, làmcho nó không hoàn toàn giống ngôn ngữ thông thường mặc dù nó xuất phát từtiếng Việt Có thể hiểu, ngôn ngữ sử dụng trong văn bản pháp luật là một bộphận của tiếng Việt nhưng phải đạt được độ chuẩn mực cao hơn so với tiếngViệt thông dụng
1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản pháp luật
- Bảo đảm tính nghiêm túc, khách quan là việc sử dụng ngôn ngữ trong văn bảnphải trang trọng, lịch sự, phi cá tính; vừa thể hiện rõ sự uy nghiêm của
Trang 11pháp luật đồng thời thể hiện sự tôn trọng đối với các đối tượng chịu sự tác
động của văn bản
+ Ban hành văn bản là hình thức pháp lý quan trọng để các chủ thể quản lý thựchiện chức năng, nhiệm vụ của mình trong quá trình tiến hành hoạt động quản lý Vănbản pháp luật không phải tiếng nói riêng của cá nhân nào mặc dù các văn bản có thểgiao cho một hoặc một số cá nhân soạn thảo Văn bản pháp luật thể hiện ý chí của một
cơ quan, tổ chức, nhân danh Nhà nước nhằm giải quyết các việc công nên ngôn ngữtrong văn bản phải bảo đảm tính nghiêm túc, khách quan Điều này thể hiện đượcquyền uy của chủ thể quản lý và tính văn minh, lịch sự của Nhà nước xã hội chủnghĩa Nếu ngôn ngữ trong văn bản pháp luật thiếu tính nghiêm túc sẽ ảnh hưởng lớnđến sự trang nghiêm, uy quyền của người ban hành văn bản Sự thiếu nghiêm túc củangôn ngữ văn bản pháp luật còn tạo ra tâm lý coi thường Nhà nước, coi thường phápluật, đồng thời ảnh hưởng tới tính chính xác của văn bản Ngược lại, nếu ngôn ngữđược sử dụng trong văn bản pháp luật bảo đảm tính nghiêm túc, lịch sự sẽ tạo ra sựthiện chí và sự tự giác thực hiện ở người tiếp thu văn bản, nhờ đó pháp luật được tôntrọng
+ Yêu cầu bảo đảm tính nghiêm túc, khách quan được biểu hiện ở tất cả các đơn
vị ngôn ngữ trong văn bản Việc sử dụng các từ khẩu ngữ, tiếng lóng, từ thô tục, thểhiện thái độ thiếu nhã nhặn, châm biếm, miệt thị hoặc các từ ngữ bộc lộ tình cảm,quan điểm cá nhân của người soạn thảo không phù hợp với văn phong hành chính -công vụ Văn bản pháp luật cũng cần tránh lối hành văn tả cảnh, văn vần hay cáchdiễn đạt hình tượng với những biện pháp tu từ như trong văn chương; không dùng cáckiểu câu cảm thán, nghi vấn Điều này ảnh hưởng lớn tới tính chính xác về mặt nghĩacủa từ cũng như không bảo đảm tính nghiêm túc, lịch sự của văn bản quản lý nhànước Văn bản pháp luật cần sử dụng lối hành văn nghị luận khách quan, nghiêm túc
10
Trang 12- Bảo đảm tính chính xác, rõ ràng là các đơn vị ngôn ngữ được sử dụng để truyềnđạt thông tin trong văn bản phải bảo đảm thể hiện đầy đủ, đúng đắn ý đồ của nhà quản
lý để các nội dung trong văn bản được mọi đối tượng hiểu giống nhau, không chophép có nhiều cách hiểu và cách giải thích khác nhau Tính chính xác của ngôn ngữvăn bản pháp luật giúp cho việc thể hiện ý chí của Nhà nước được rõ ràng, tạo ra chongười tiếp nhận văn bản một cách hiểu chung, thống nhất về nội dung của văn bản.+ Nếu ngôn ngữ trong văn bản pháp luật được sử dụng thiếu chính xác có thểlàm cho văn bản tối nghĩa, dẫn đến tình trạng người tiếp nhận văn bản không hiểu, dovậy không biết được mình cần phải làm gì và làm như thế nào để đáp ứng yêu cầu củavăn bản Sự thiếu chính xác trong việc dùng từ, sự lủng củng, thiếu mạch lạc trongviệc diễn đạt câu,…trong văn bản pháp luật có thể tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau vềcùng một quy định; dẫn đến việc giải thích, áp dụng không thống nhất, ảnh hưởng đếnhiệu lực của văn bản và hiệu quả quản lý nhà nước Việc sử dụng ngôn ngữ khôngchính xác khi soạn thảo văn bản pháp luật có thể tạo ra “kẽ hở” để các văn bản này bịlợi dụng Có thể nói, không có lĩnh vực nào của đời sống xã hội mà việc sử dụng ngônngữ thiếu chính xác, diễn đạt thiếu mạch lạc, sự không ăn khóp giữa ngôn ngữ và ýtưởng lại có thể gây ra hậu quả trực tiếp và tai hại như trong lĩnh vực hành chính -pháp luật Chính vì thế, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã quyđịnh: “Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật phải chính xác, phổthông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu” (Khoản 1 Điều 8 Luật Ban hành văn bảnquy phạm pháp luật năm 2015)
- Để bảo đảm tính rõ ràng, chính xác của ngôn ngữ cần tránh sử dụng các từnhiều nghĩa hoặc nghĩa không xác định, nên dùng các từ đơn nghĩa Mỗi từ trong vănbản pháp luật phải thể hiện chính xác nội dung cần truyền đạt và chỉ được hiểu theomột nghĩa duy nhất, không làm phát sinh nhiều cách hiểu Cách viết câu, lập đoạncũng phải bảo đảm sự ngắn gọn, rõ ràng, diễn đạt
11
Trang 13mạch lạc, dễ hiểu, sử dụng lối trình bày trực tiếp; tránh việc dùng các từ thừa hay lối nói vòng, ẩn dụ,…
- Bảo đảm tính phổ thông, thống nhất là ngôn ngữ được sử dụng thường xuyên trên phạm vi toàn quốc
+ Văn bản pháp luật được ban hành để tác động đến các tầng lớp nhân dân trong
xã hội Trong khi đó, trình độ học vấn và nhận thức pháp luật giữa các vùng miền vàdân tộc có sự khác nhau Vì vậy, tính phổ thông của ngôn ngữ trong văn bản pháp luật
sẽ giúp cho mọi người dễ dàng tiếp nhận được thông tin trong văn bản
+ Văn bản pháp luật được ban hành để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phátsinh trong cuộc sống hàng ngày của nhân dân, vì vậy ngôn ngữ của văn bản phải gầngũi với ngôn ngữ thông dụng trong nhân dân Chỉ có bám sát ngôn ngữ phổ thông thìpháp luật mới có thể có tính chất đại chúng, dễ hiểu để mọi người dân đều có thể nắmbắt đầy đủ, đúng đắn nội dung văn bản, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thựchiện văn bản theo đúng yêu cầu của nhà quản lý
+ Ngôn ngữ văn bản pháp luật phải có tính thống nhất Việc sử dụng ngôn ngữthông dụng trong văn bản pháp luật ở chừng mực nhất định đã mang lại tính thốngnhất cho ngôn ngữ văn bản Bên cạnh đó, yêu cầu về tính thống nhất của ngôn ngữcòn đòi hỏi các từ, thuật ngữ phải được sử dụng thống nhất trong từng văn bản riêng
rẽ cũng như trong toàn bộ hệ thống văn bản pháp luật và trên phạm vi toàn quốc Đó
là điều kiện cần thiết để giúp cho mọi người có thể hiểu và thực hiện pháp luật thốngnhất Ngôn ngữ văn bản không thống nhất thì nội dung văn bản cũng không được hiểuthống nhất và tất nhiên văn bản pháp luật cũng sẽ được thực hiện theo những cáchkhác nhau
+ Để ngôn ngữ văn bản pháp luật bảo đảm tính thống nhất và thông dụng cầntránh sử dụng các từ ngữ địa phương, từ cổ; không sử dụng các thuật ngữ
12
Trang 14chuyên ngành hay từ nước ngoài trong những trường hợp không cần thiết; ưutiên sử dụng các từ ngữ quen thuộc, phù hợp vói thời đại, dễ hiểu với các đốitượng chịu sự tác động của văn bản Đồng thời, cần chú ý sử dụng các từ, thuậtngữ cho có sự thống nhất trong cùng một văn bản và trong cả hệ thống văn bảnpháp luật, không nên dùng nhiều từ khác nhau để chỉ một khái niệm trongcùng một văn bản; cùng một thuật ngữ được sử dụng trong các văn bản phápluật khác nhau phải được hiểu theo một nghĩa giống nhau Mặt khác, khi trìnhbày nội dung văn bản pháp luật cũng cần chú ý diễn đạt đơn giản, phù hợp với
tư duy thông thường của người đọc Điều này bảo đảm cho văn bản pháp luật
có một kết cấu chặt chẽ, thống nhất khiển người đọc dễ hiểu, dễ nhớ, dễ tiếpthu và như vậy đã đáp ứng được yêu cầu về tính phổ thông
1.3 So Sánh ngôn ngữ trong văn bản pháp luật với ngôn ngữ của các loại văn bản khác.
1.3.1 Điểm giống nhau
- Ngôn ngữ trong văn bản pháp luật cũng như các loại văn bản khác đều là một
bộ phận của ngôn ngữ tiếng Việt nhằm mục đích truyền đạt thông tin Khác với giaotiếp hàng ngày thông qua ngôn ngữ là lời nói, đối với mọi loại văn bản, ngôn ngữ viếtluôn là phương tiện để người viết truyền đạt những điều muốn nói với người đọc
- Mục đích của ngôn ngữ trong mọi loại văn bản đều nhằm truyền đạt thông tin
mà người viết muốn đem đến cho người nghe Với ngôn ngữ trong văn bản pháp luật,
đó là những thông tin về những quy phạm pháp luật do chủ thể có thẩm quyền đặt ra,được nhà nước thừa nhận và đảm bảo thực hiện Với các văn bản báo chí thì nhằmtruyền đạt cho người nghe những thông tin mới nhất của từng ngày, từng tháng củađời sống trên khắp mọi nơi hay đơn giản chỉ là một tờ đơn xin phép nghỉ học thì mụcđích của người viết cũng chỉ muốn thông báo lí do phải nghỉ học và mong muốn được
sự cho phép của chủ thể có thẩm quyền,…nhưng dù loại văn bản nào thì ngôn ngữ đều
là một bộ
13