Bốn câu tiếp theo là tiếng lòng của người cán bộ về xuôi : "Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay" T
Trang 1“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
UBND QUẬN TÂN PHÚ - TP HỒ CHÍ MINH Trung Tâm GDNN-GDTX TÂN PHÚ
I KHÁI QUÁT VHVN TỪ CMTT NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1975:
1 Vài nét về hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hoá:
- CMT8 thành công đã mở kỉ nguyên độc lập: tạo nên nền VH vận động và phát triển dưới sự lãnhđạo của Đảng Cộng sản, hình thành quan niệm nhà văn kiểu mới: nhà văn – chiến sĩ
- Hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ kéo dài đã tác động sâu sắc đến đờisống vật chất và tinh thần toàn dân tộc, trong đó có văn học nghệ thuật, tạo nên ở văn học giai đoạnnày có những đặc điểm và tính chất riêng của một nền văn học hình thành và phát triển trong hoàncảnh chiến tranh lâu dài và vô cùng ác liệt
- Nền kinh tế nghèo nàn và chậm phát triển Về giao lưu văn hoá, từ 1945 – 1975, nước ta chủ yếutiếp xúc và chịu ảnh hưởng của văn hoá các nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô, Trung Quốc)
2 Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu của văn học Việt Nam giai đoạn 1975:
1945-a Chặng đường từ 1945 đến 1954:
* Nội dung chính: Phản ánh cuộc kháng chiến chống Pháp, gắn bó sâu sắc với đời sống và cách
mạng Khám phá sức mạnh và những phẩm chất tốt đẹp của quần chúng nhân dân Niềm tự hào dântộc và niềm tin vào tương lai chiến thắng
b Chặng đường từ 1955 đến 1964:
* Nội dung chính: Ca ngợi hình ảnh con người lao động Ca ngợi những thay đổi của đất nước và
con người trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, thể hiện tình cảm sâu nặng với miền Nam trong nỗi đauchia cắt
c Chặng đường từ 1965 đến 1975:
* Nội dung chính: Toàn bộ nền VH được huy động vào cuộc chiến đấu, tập trung khai thác đề tài
kháng chiến chống Mĩ Chủ đề bao trùm là ca ngợi tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng CM
3 Những thành tựu và hạn chế của văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975:
a.Thành tựu:
-Văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 thực hiện xuất sắc nhiệm vụ lịch sử tuyên truyền,
cổ vũ tinh thần chiến đấu, hi sinh của nhân dân
-Văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 đã tiếp nối và phát huy những truyền thống tưtưởng lớn của văn học dân tộc, bao gồm truyền thống yêu nước và truyền thống nhân đạo
-Văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 phát triển cân đối, toàn diện về mặt thể loại Trong
đó thơ trữ tình và truyện ngắn đạt nhiều thành tựu hơn; kí cũng có một số tác phẩm có chất lượng
b Hạn chế:
- VHVN 1945 -1975 còn nhiều tác phẩm miêu tả cuộc sống, con người một cách đơn giản, phiếndiện; cá tính, phong cách nhà văn được phát huy mạnh mẽ; yêu cầu về phẩm chất nghệ thuật của tácphẩm nhiều khi bị hạ thấp; phê bình văn học ít chú ý đến những khám phá về nghệ thuật
4 Những những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975:
a Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hoá, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước.
- Văn học phục vụ kháng chiến, phản ánh từng chặng đường lịch sử Nền VH mới theo mô hình
“Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận” cùng với kiểu nhà văn mới : nhà văn – chiến sĩ.
Trang 2“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
- Hiện thực cách mạng và nội dung yêu nước, yêu CNXH là đặc điểm nổi bật của văn học giai đoạn1945-1975 VH tập trung vào đề tài : Tổ quốc & Chủ nghĩa xã hội
Văn học như một tấm gương phản chiếu những vấn đề lớn lao, trọng đại nhất của đất nước và
cách mạng
b Nền văn học hướng về đại chúng:
- Đại chúng vừa là đối tượng phản ánh, đối tượng phục vụ vừa là nguồn cung cấp, bổ sung lựclượng sáng tác cho văn học Cách mạng làm thay đổi hẳn cách nhìn của người nghệ sỹ đối với nhândân, đồng thời hình thành ở họ một quan niệm mới về đất nước: Đất nước của nhân dân, và ngườianh hùng xuất thân từ quần chúng nhân dân
- Nội dung: VH quan tâm đến đời sống của nhân dân lao động, nói lên nỗi bất hạnh của những
người lao động nghèo khổ bị áp bức, bóc lột trong XH cũ cũng như niềm vui, niềm tự hào của họ vềcuộc đời mới
- Hình thức: Phần lớn là những tác phẩm ngắn gọn, nội dung dễ hiểu, chủ đề rõ ràng, thường tìm
đến hình thức nghệ thuât quen thuộc với văn hoá và văn học truyền thống, ngôn ngữ bình dị, trongsáng, dễ hiểu
c Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.
- VHVN giai đoạn 1945 – 1975 chủ yếu phản ánh đời sống của cả dân tộc trong một thời kì đầy hàohùng Do vậy, khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn là đặc điểm nổi bật của văn học VN giaiđoạn 1945- 1975
- Khuynh hướng sử thi là những bài ca ca ngợi phẩm chất anh hùng của cộng đồng, dân tộc thông qua những đại diện ưu tú nhất, tiêu biểu nhất Khuynh hướng sử thi trong văn học từ 1945- 1975
chủ yếu được thể hiện ở những phương diện sau: Văn học đề cập đến số phận chung của cộng đồng, của dân tộc; phản ánh những vấn đề cơ bản nhất, có ý nghĩa sống còn của đất nước Nhân vật chính thường là những con người đại diện cho tinh hoa và khí phách, phẩm chất và ý chí của dân tộc, tiêu biểu cho lý tưởng của cả dân tộc, cộng đồng hơn là lợi ích, khát vọng cá nhân Con người chủ yếu được khám phá ở bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, ở lẽ sống lớn và tình cảm lớn Lời văn thường mang giọng điệu ngợi ca, trang trọng và đẹp một cách tráng lệ hào hùng.
- Cảm hứng lãng mạn là cảm hứng khẳng định cái tôi đầy tình cảm, cảm xúc và hướng tới lí tưởng.Cảm hứng lãng mạn trong văn học từ 1945- 1975 chủ yếu được thể hiện trong những phương diện
sau: Văn học khẳng định lý tưởng của cuộc sống mới và vẻ đẹp của con người mới Ca ngợi chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, thể hiện niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc, của đất nước.
II VÀI NÉT KHÁI QUÁT VHVN TỪ NĂM 1975 ĐẾN HẾT TK XX:
1 Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hoá:
- Kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi, lịch sử dân tộc ta mở ra một thời kì mới - độc lập, tự do
và thống nhất đất nước Tuy nhiên, do hậu quả của chiến tranh, đất nước ta gặp nhiều khó khăn,đặc biệt là về kinh tế Từ 1975 đến 1985: đất nước ta lại gặp những khó khăn và thử thách mới
- Từ 1986: Đảng đề xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện
Sự nghiệp đổi mới thúc đẩy nền văn học cũng đổi mới để phù hợp với nguyện vọng của nhà văn
và người đọc cũng như quy luật phát triển khách quan của văn học
2- Những chuyển biến và một số thành quả bước đầu của văn học Việt Nam từ 1975 đến hết
3 Những nét đổi mới của VHVN từ 1975 đến hết THẾ KỶ XX.
a Đổi mới về nội dung:
- Trước 1975 VH thiên về ngợi ca, cổ vũ, hướng tới con người đại chúng, đại diện tiêu biểu chocông đồng dân tộc
Trang 3“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
- Sau 1975 VH vận động theo hướng dân chủ hóa, mang tính nhân bản và nhân văn, hướng tới conngười cá thể Nhân vật VH là nhưng con người đời thường được nhìn nhận ở tính nhân loại vàphương diện tự nhiên, ở nhu cầu manhg tính bản năng, phương diện tâm linh Các tác phẩm “HồnTrương Ba, da hàng thịt”, “Chiếc thuyền ngoài xa”, “Một người Hà Nội”, đã đem đến cho ngườiđọc cái nhìn mới về đời sống con người đương thời
b Đổi mới về nghệ thuật:
- Trước 1975 VH thiên về khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
- Sau 1975 VH thiên về cảm hứng thế sự, quan tâm đến con người cá thể Vì thế bút pháp mạnh mẽhướng nội, khai thác không gian đời tư, thời gian tâm lí Cá tính sáng tạo của nhà văn được pháthuy, hình thành những giọng điệu văn chương mới lạ, nhưng lối miêu tả, trần thuật mang tính khámphá “Đàn ghita của Lorca, Ai đã đặt tên cho dòng sông?, đã đem đến những cảm nhận mới mẽ
4 Những đặc điểm cơ bản của Văn học Việt Nam từ sau 1975 đến hết thế kỉ XX :
- Nền văn học giai đoạn này vận động theo hướng dân chủ hóa, mang tính nhân bản và nhân văn sâu sắc Văn học phát triển đa dạng hơn về đề tài, chủ đề; phong phú hơn và mới mẻ hơn thủ pháp nghệ thuật; cá tính sáng tạo của nhà văn được phát huy…
- Nền văn học giai đoạn này đã khám phá con người trong những mối quan hệ đa dạng và phức tạp,
thể hiện con người ở nhiều phương diện của đời sống, kể cả đời sống tâm linh Cái mới của văn học
giai đoạn này là tính chất hướng nội, đi vào hành trình tìm kiếm bên trong, quan tâm nhiều hơn tới
số phận cá nhân trong những hoàn cảnh phức tạp, đời thường
- Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu của quá trình đổi mới, những mặt tích cực và những tìm tòi
đúng hướng, cũng nảy sinh những khuynh hướng tiêu cực, những biểu hiện quá đà, thiếu lành mạnh…Văn học có xu hướng nói nhiều tới mặt trái của xã hội, ít nhiều có khuynh hướng bạo lực…
I Vài nét về tiểu sử HỒ CHÍ MINH:
- Sinh ngày 19/05/1890 trong một gia đình nhà nho yêu nước Quê tỉnh Nghệ An Cha là cụ Phóbảng Nguyễn Sinh Sắc, Mẹ là cụ bà Hoàng Thị Loan Thời trẻ người học chữ Hán ở nhà và học tạitrường Quốc học Huế Có thời gian dạy học ở trường Dục Thanh (Phan Thiết)
- Năm 1911: Người ra nước ngoài tìm đường cứu nước 1923 - 1941: Chủ yếu hoạt động ở Liên Xô,Trung Quốc và Thái Lan, tham gia thành lập nhiều tổ chức cách mạng: Việt Nam thanh niên cáchmạng đồng chí hội (1925) Chủ trì hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản trong nước tại HươngCảng
- Năm 1941: Về nước thành lập Đảng cộng sản Việt Nam Ngày 13 – 8 – 1942, Người lên đườngsang TQ để tranh thủ sự viện trợ của quốc tế Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giữ vàgiam cầm trong 14 tháng Sau khi ra tù, Người về nước, tiếp tục lãnh đạo CM, tiến tới giành thắnglợi trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945
- Ngày 2 – 9 – 1945: Người thay mặt chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đọc bảnTuyên ngôn độc lập Sau cuộc tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946: Người được bầu làm chủ tịch nướcViệt Nam dân chủ cộng hòa Từ đấy, Người luôn đảm nhận những chức vụ cao nhất của Đảng vàNhà nước, lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống Pháp và Mĩ
- Năm 1990: kỉ niệm 100 năm ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổ chức giáo dục, khoa học và
văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) suy tôn là “Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hóa lớn”
Sự nghiệp chính là sự nghiệp cách mạng, nhưng người cũng để lại một sự nghiệp văn học to lớn
Trang 4“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
II Sự nghiệp văn học:
1 Quan điểm sáng tác:
a/ HCM coi văn nghệ là vũ khí chiến đấu lợi hại phụng sự cho sự nghiệp cách mạng
HCM xem văn nghệ là một hoạt động tinh thần phong phú và phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệpcách mạng ; nhà văn là chiến sĩ trên mặt trận văn hoá tư tưởng, góp phần đấu tranh cho sự phát triển
xã hội Quan điểm này thể hiện rõ trong hai câu thơ: “Nay ở trong thơ nên có thép – Nhà thơ cũng phải biết xung phong” (Cảm tưởng đọc “Thiên gia Thi”) Về sau, trong Thư gửi các hoạ sĩ nhân dịp triển lãm hội hoạ 1951, Người lại khẳng định: “Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận Anh chị
em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”.
b/ HCM luôn coi trọng tính chân thực và tính dân tộc của văn chương
Tính chân thực được coi là thước đo giá trị văn chương nghệ thuật Người yêu cầu văn nghệ sĩ
phải “miêu tả cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn” những đề tài hiện thực phong phú của cách mạng Người nhắc nhở giới nghệ sĩ “nên chú ý phát huy cốt cách dân tộc” và đề cao sự sáng tạo,
“chớ gò bó họ vào khuôn, làm mất vẻ sáng tạo”.
c/ Khi cầm bút, HCM luôn xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung
a Văn chính luận: Có khối lượng lớn và mẫu mực Văn phong hùng hồn, lập luận chặt chẽ, lí lẽ
đanh thép, bằng chứng đầy thuyết phục Viết ra với mục đích đấu tranh chính trị, tiến công trực diện
kẻ thù, thức tỉnh và giác ngộ quần chúng, thể hiện nhiệm vụ cách mạng của dân tộc qua các chặngđường lịch sử Lên án những chính sách tàn bạo và tội ác của thực dân Pháp đối với những nước
thuộc địa, kêu gọi những người nô lệ bị áp bức liên hiệp lại, đoàn kết đấu tranh
- Một số tác phẩm tiêu biểu: “Bản án chế độ thực dân Pháp”, “Tuyên ngôn Độc lập”, “Lời kêu gọi
toàn quốc kháng chiến”…
b Truyện và kí: Được sáng tác chủ yếu từ khoảng năm 1922 đến 1925, các tác phẩm của Người đều ngắn gọn, súc tích, giàu tính hiện đại, thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào
phúng vừa sắc bén, thâm thuý của phương Đông, vừa hài hước hóm hỉnh của phương Tây Viết ravới mục đích tố cáo tội ác dã man, bản chất tàn bạo, xảo trá của bọn thực dân và phong kiến tay saiđối với nhân dân lao động các nước thuộc địa Đồng thời đề cao những tấm gương yêu nước và
cách mạng Một số tác phẩm tiêu biểu: “Vi hành”, “Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu”,
“Lời than vãn của bà Trưng Trắc”, “Nhật kí chìm tàu”…
c Thơ ca: Đây là lĩnh vực nổi bật trong sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh Với sự kết hợp hài
hòa giữa bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại, hình tượng thơ luôn vận động, hướng về sự sống,ánh sáng và tương lai, thơ của người thể hiện một tâm hồn nghệ sĩ tinh tế, tài hoa, một tấm gươngnghị lực phi thường và nhân cách cao đẹp của một chiến sĩ cách mạng vĩ đại Thơ của Người được
in trong các tập: “Nhật kí trong tù”, “Thơ Hồ Chí Minh”, “Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh”.
3 Phong cách nghệ thuật:
Phong cách nghệ thuật của HCM phong phú, đa dạng, độc đáo, hấp dẫn, kết hợp nhuần nhuyễn
giữa chính trị và văn học, tư tưởng và nghệ thuật, truyền thống và hiện đại :
a Văn chính luận: Ngắn gọn súc tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng đầy thuyết
phục, giàu tính luận chiến và đa dạng về bút pháp
b Truyện – kí: Hiện đại, thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén Đó
là tiếng cười nhẹ nhàng mà thâm thúy, thể hiện chất trí tuệ sắc sảo
Trang 5“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
c Thơ ca: Phong cách hết sức đa dạng, đạt chuẩn mực cao về nghệ thuật Những bài thơ nhằm
mục đích tuyên truyền cách mạng lời lẽ thường mộc mạc, giản dị, mang màu sắc dân gian hiện đại,
dễ thuộc, dễ nhớ Thơ nghệ thuật của Người có sự kết hợp hài hoà giữa bút pháp cổ điển và hiệnđại, được viết theo lối cổ thi hàm súc uyên thâm
III Kết luận :
- Thơ văn của Bác gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, trở thành vũ khí đắc lực chonhiệm vụ tuyên truyền, cổ vũ nhân dân chiến đấu và xây dựng Văn thơ HCM thể hiện sâu sắc tấmlòng yêu thương & tâm hồn cao cả của Người , là tiếng nói đấu tranh , niềm lạc quan , tin tưởng ,mang giá trị và bài học tinh thần phong phú , thể hiện sâu sắc tư tưởng, tình cảm và tâm hồn cao cảcủa Người
- Bác thực sự có nhiều tài năng trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật
PHẦN HAI : TÁC PHẨM “TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP”
I GIỚI THIỆU CHUNG:
1 Hoàn cảnh sáng tác:
- Thế giới: Chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc (Hồng quân Liên Xô tấn công vào sào huyệt
của phát xít Đức, Nhật đầu hàng Đồng minh)
- Trong nước: Cả nước nổi dậy giành chính quyền thắng lợi Ngày 19-8-1945: Cách mạng tháng
Tám thắng lợi , chính quyền ở Hà Nội về tay nhân dân Ngày 26 tháng 8 năm 1945: Chủ tịch HồChí Minh từ chiến khu Việt Bắc về tới Hà Nội Tại căn nhà số 48, phố Hàng Ngang, Người soạn
thảo bản Tuyên ngôn độc lập Ngày 2 tháng 9 năm 1945: Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội.
- HCM viết và đọc bản TNĐL khi đế quốc thực dân đang chuẩn bị chiếm lại nước ta Dưới danhnghĩa quân Đồng minh vào giải giáp vũ khí quân đội Nhật; Quân Quốc dân Đảng tiến vào từ phíaBắc; quân đội Anh tiến vào từ phía Nam; thực dân Pháp theo quân đồng minh tuyên bố : Đông
Dương là đất “bảo hộ” của Pháp bị Nhật chiếm, nay Nhật đã đầu hàng, vậy Đông Dương phải thuộc
* Ý nghĩa lịch sử : Đánh dấu thắng lợi vĩ đại của một dân tộc đã chiến thắng thực dân, phát xít, lật
đổ chế độ phong kiến, mở ra kỉ nguyên mới độc lập ,tự do, lập nên chế độ dân chủ cộng hòa Bản
tuyên ngôn vừa giải quyết được nhiệm vụ độc lập cho dân tộc vừa giải quyết được nhiệm vụ dânchủ cho nhân dân
* Đối tượng: Tất cả đồng bào Việt Nam và Nhân dân thế giới Các lực lượng ngoại bang nhân danh
đồng minh diệt phát xít Nhật (Pháp, Mĩ , Anh, Trung Quốc…)
3 Giá trị lịch sử, giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật của “Tuyên ngôn Độc lập”.
*Giá trị lịch sử: Xét ở góc độ lịch sử, có thể coi “Tuyên ngôn độc lập” là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn: là lời tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta (Khép lại 1000 năm
chế độ quân chủ, 80 năm chế độ thực dân) và mở ra một kỉ nguyên mới - kỉ nguyên độc lập, tự dotrên đất nước ta
*Giá trị tư tưởng: Xét trong mối quan hệ với các trào lưu tư tưởng lớn của nhân loại ở thế kỉ XX,
có thể coi Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm kết tinh lí tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc và tinh
thần yêu chuộng độc lập tự do Cả hai phẩm chất này của tác phẩm là đóng góp riêng của tác giả vàcũng là của dân tộc ta vào một trong những trào lưu tư tưởng cao đẹp, vừa mang tầm vóc quốc tế,
Trang 6“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
vừa mang ý nghĩa nhân đạo của nhân loại trong thế kỉ XX Đây là lí do vì sao Tổ chức Giáo dục,Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc lại bình chọn Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dântộc
*Giá trị nghệ thuật: Xét ở bình diện văn chương, Tuyên ngôn Độc lập là một áng văn chính luận
mẫu mực, ngắn gọn súc tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, lời lẽ hùng hồn; bằng chứng xácthực, giàu sức thuyết phục, ngôn ngữ gợi cảm, hùng hồn, nêu cao tinh thần yêu nước ý chí bảo vệđộc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam
4 Bố cục: 3 phần.
a) Đoạn 1 (từ đầu đến không ai chối cãi được): Nêu nguyên lí chung của Tuyên ngôn Độc lập b) Đoạn 2 (tiếp theo đến từ tay Pháp): Tố cáo tội ác của thực dân Pháp và khẳng định thực tế lịchsử: nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước VN Dân chủ Cộng hoà
c) Đoạn 3 (còn lại): Lời tuyên ngôn và những tuyên bố về ý chí bảo vệ nền độc lập, tự do của dântộc VN
Bố cục thể hiện sự lập luận chặt chẽ: nêu nguyên lý chung làm cơ sở cho lập luận, đưa ra nhữngthực tế để chứng minh để từ đó đi đến kết luận
5 Tóm tắt ngắn gọn văn bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh.
Bản Tuyên ngôn mở đầu bằng hai câu trích dẫn từ “Tuyên ngôn Độc lập” năm 1776 củanước Mỹ và “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” của Cách mạng Pháp năm 1791 để khẳng
định quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, và xem “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” Tiếp đó, bản Tuyên ngôn lên án các tội ác của thực dân Pháp đối với dân tộc Việt Nam trong
hơn 80 năm thống trị Đó là những tội ác trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế làm cho “dân ta càngcực khổ, nghèo nàn”, nước ta ngày càng xơ xác, tiêu điều Đặc biệt, Tuyên ngôn lên án tội ác của
Pháp trong thời gian chiến tranh thế giới II, chúng đã “bán nước ta hai lần cho Nhật” lại giết hại
những người yêu nước Việt Nam đứng về phe Đồng minh đánh Nhật Sau khi lên án các tội ác củabọn thực dân cướp nước, bản Tuyên ngôn nêu cao cuộc đấu tranh chính nghĩa và thắng lợi của nhândân ta “đã đánh đổ các xiềng xích của thực dân gần 100 năm nay để xây dựng nên nước Việt Namđộc lập”, lại “đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ cộnghoà”.Cuối cùng,Tuyên ngôn kết thúc bằng lời tuyên bố trịnh trọng về nền độc lập tự do của nước
Việt Nam về mặt pháp lý cũng như trên thực tế và quyết tâm của nhân dân Việt Nam “đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do,độc lập ấy”
6 Giá trị tác phẩm :
a Nghệ thuật: Tuyên ngôn độc lập là một áng văn chính luận mẫu mực lập luận chặt chẽ, lí lẽ
đanh thép, chứng cứ xác thực, ngôn ngữ hùng hồn.
b Nội dung,ý nghĩa:
- Tuyên ngôn độc lập là văn kiện lịch sử tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về việc chấm dứt chế độ thực dân và phong kiến ở nước ta, đánh dấu kỉ nguyên độc lập tự do của nước
VN mới.
- Tuyên ngôn độc lập vừa tố cáo mạnh mẽ tội ác của bọn thực dân Pháp, ngăn chặn âm mưu tái chiếm nước ta của các thế lực thù địch và các phe nhóm cơ hội quốc tế vừa bộc lộ tình cảm yêu nước thương dân và khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng của tác giả và tòan dân tộc.
II ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN “TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP” :
1 Phần mở đầu (từ đầu đến “không ai chối cãi được”): Nêu nguyên lí chung của bản Tuyên ngôn độc lập (Cơ sở lí luận của bản tuyên ngôn)
Nguyên lí chung về quyền bình đẳng, tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của con người và các dân tộc.
* Điểm đặc biệt: trích dẫn hai bản tuyên ngôn:
– Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ:
+ “Tất cả mọi …mưu cầu hạnh phúc.” → nêu nguyên lí chung về quyền lợi của con người
+ “Suy rộng ra, câu ấy… có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.” → từ quyền lợi củacon người, Bác nâng lên thành quyền lợi của các dân tộc.(trong đó có Việt Nam)
Trang 7“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
– Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1791
+ “Người ta sinh ra tự …bình đẳng về quyền lợi.”→ xoáy sâu vào quyền bình đẳng của con người
⇒ Từ quyền bình đẳng, tự do của con người, Hồ Chí Minh suy rộng ra về quyền bình đẳng, tự do ,độc lập của các dân tộc, trong đó có Việt Nam Bác khẳng định dứt khoát “Đó là những lẽ phảikhông ai chối cãi được.”
* Ý nghĩa:
– Hồ Chí Minh tôn trọng và sử dụng hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ làm cơ sở lí luận, bởi đó lànhững lí lẽ đã dược tất cả mọi người thừa nhân, đồng thời đề cao những giá trị tư tưởng nhân đạo vàvăn minh nhân loại
– Có tính chiến thuật sắc bén, khéo léo, tạo tiền đề, cơ sở pháp lí cho bản Tuyên ngôn độc lập rađời Dùng phép “gậy ông đập lưng ông” bằng cách sử dụng lời lẽ của người Pháp để nói về họnhằm mở cuộc tranh luận ngầm với họ, mạnh mẽ buộc tội Pháp và ngăn chặn âm mưu tái xâm lượccủa chúng
– Đặt ngang hàng cuộc cách mạng và giá trị bản tuyên ngôn của nước ta với hai cường quốc, thểhiện lòng tự hào, tự tôn dân tộc
– Tạo tiền đề lập luận cho mệnh đề tiếp theo
Nhận xét:
+ Từ quyền dân tộc trong hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ, Hồ chí minh mở rộng ra thành quyềndân tộc: “Suy rộng ra…quyền tự do” Điều này cho thấy sự vận dụng khéo léo, sáng tạo và cách lậpluận chặt chẽ của tác giả
+ Với lời lẽ sắc bén, lập luận chặt chẽ, sáng tạo, khéo léo, ngôn ngữ trang trọng, hùng hồn, Người
đã xác lập cơ sở pháp lý của bản Tuyên Ngôn, nêu cao chính nghĩa và đặt ra vấn đề cốt yếu là: độclập dân tộc
⇒ Bằng lập luận chặt chẽ, chứng cứ xác thực, Hồ chí Minh đã khẳng định quyền bình đẳng, tự docủa mỗi dân tộc trong đó có dân tộc Việt Nam làm nguyên lí chung cho bản tuyên ngôn
2 Phần thân bài (tiếp đó đến “phải được độc lập”): Tố cáo tội áo của giặc và khẳng định cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta (cơ sở thực tiễn của bản tuyên ngôn)
a Tố cáo tội ác của thực dân Pháp và khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam.
– Tố cáo tội ác tàn bạo của thực dân Pháp trên mọi mặt đời sống khi cai trị nước ta: chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội (liệt kê hàng loạt dẫn chứng đanh thép, hùng hồn về tội ác của Pháp), phủ nhậnhoàn toàn thái độ của Pháp, đã phản bội lại lời lẽ của cha ông
– Vạch rõ bản chất “khai hóa” của thực dân Pháp: thực dân Pháp đã thi hành những chính sách độc
ác, dã man trên đất nước ta trên tất cả mọi lĩnh vực từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội
– Vạch trần thực chất công cuộc “bảo hộ” nước ta của thực dân Pháp: Pháp quỳ gối đầu hàng mởcửa nước ta rước Nhật, trong vòng 5 năm, hai lần bán nước ta cho Nhật
– Chỉ rõ luận điệu xảo trá, vạch rõ tội ác của giặc: đầu hàng Nhật, khủng bố Việt Minh, giết tù chínhtrị của ta
* Bằng chứng:
– Về chính trị:
+ “Chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào
+ Chúng thi hành những luật pháp dã man Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc đểngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta”
+ “Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nướcthương nòi của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.”
Trang 8“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
+ “…thi hành chính sách ngu dân Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suynhược.”
→ Với biện pháp nghệ thuật liệt kê, phép lặp cú pháp, nhà văn đã vạch rõ âm mưu thâm độc, chínhsách tàn bạo của thực dân Pháp
– Tội ác trong 5 năm (1940-1945)
+ Phản bội Đồng minh, không liên minh cùng Việt Minh để chống Nhật, thậm chí thẳng tay khủng
bố, giết nốt tù chính trị của ta ở Yên Bái, Cao Bằng
→ bác bỏ luận điệu giả dối “bảo hộ” và lên án tội ác dã man, đê tiện, hèn nhát của thực dân Pháp.Bản tuyên ngôn đã khẳng định thực tế lịch sử: nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền, lập nên nướcViệt Nam dân chủ cộng hoà
⇒ Với ngôn ngữ chính luận sắc sảo, lời lẽ đanh thép, bằng chứng xác thực, lập luận chặt chẽ, giọngvăn hùng hồn, mạnh mẽ, kết hợp với các biện pháp nghệ thuật liệt kê, phép lặp cú pháp, nhà văn đãvạch trần bản chất xảo quyệt, tàn bạo, man rợ của thực dân Pháp và khơi dậy lòng phẫn nộ, gây xúcđộng hàng triệu đồng bào
b Thái độ lập trường của nhân dân ta về cuộc đấu tranh chính nghĩa.
– Nhân dân Việt Nam đã đứng về phe đồng minh, chống phát xít Nhật Quân và dân ta đã nhiều lầnkêu gọi người Pháp cùng chống Nhật nhưng bị từ chối, khi Pháp thua chạy, đồng bào ta vẫn khoanhồng và giúp đỡ họ
– Nhân dân Việt Nam cướp chính quyền từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp
– Dân ta đánh đổ các xiềng xích phong kiến, thực dân, phát xít
* Kết quả:
+ Thoát li quan hệ với Pháp, xóa bỏ hiệp ước Pháp đã kí, xóa bỏ mọi đặc quyền của Pháp
+ Kêu gọi nhân dân Việt Nam đoàn kết chống lại âm mưu của Pháp
+ Tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế: kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận độc lập tự do của ViệtNam
+ Nhân dân ta anh dũng chống phát xít, phải được tự do độc lập
⇒ Khẳng định, đề cao tinh thần xả thân giữ nước, thành quả cách mạng của nhân dân ta Chúng tahoàn toàn xứng đáng với nền độc lập có được bởi chính máu xương của mình
3 Phần 3 (còn lại): Lời tuyên bố độc lập và ý chí bảo vệ chủ quyền của dân tộc.
Tuyên bố độc lập
– “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập.”
→vừa tuyên bố vừa khẳng định một cách mạnh mẽ về: quyền độc lập dân tộc của nước Việt Nam.– “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết … giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.” → bày tỏ quyết tâm bảo
vệ quyền độc lập, tự do ấy của toàn dân tộc
⇒ Lời khẳng định nền độc lập nhắn gọn, đanh thép, trang trọng và đầy sức thuyết phục: “Nước ViệtNam có quyền… nước tự do, độc lập” thể hiện ý chí kiên quyết bảo vệ nền độc lập, tự do cho dântộc
5 Ý nghĩa văn bản:
– Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá tuyên bố trước quốc dân, đồng bào và thế giới
về quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam và khẳng định quyết tâm bảo về nền độc lập tự do ấy.– Kết tinh lí tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc và tinh thần yêu chuộng độc lạp, tự do
– Là một áng văn chính luận mẫu mực
III Tổng kết:
1 Giá trị nội dung:
– Tuyên ngôn độc lập là văn kiện lịch sử tuyên bố trước quốc dân, đồng bào và thế giới về việcchấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta, đánh dấu kỉ nguyên độc lập, tự do của nước ViệtNam mới
Trang 9“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
– Bản Tuyên ngôn vừa tố cáo mạnh mẽ tội ác của thực dân Pháp, ngăn chặn âm mưu tái chiếm nước
ta của các thế lực thù địch và các phe nhóm có hội quốc tế, vừa bộc lộ tình cảm yêu nước, thươngdân và khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng của tác giả
Văn bản: TÂY TIẾN - QUANG DŨNG
I GIỚI THIỆU CHUNG:
- Năm 2001, được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
- Tác phẩm: Rừng biển quê hương (Tập thơ, văn in chung với Trần Lê Văn, 1957); Đường lên Châu Thuận (Truyện kí, 1964); Rừng về xuôi (Truyện kí, 1968); Nhà đồi (Truyện kí, 1970); Mây đầu ô
- Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, trí thức (nhưQuang Dũng), chiến đấu trong những hoàn cảnh rất gian khổ, vô cùng thiếu thốn về vật chất, bệnhsốt rét hoành hành dữ dội Tuy vậy, họ vẫn phơi phới tinh thần lạc quan và chiến đấu dũng cảm.Quang Dũng là đại đội trưởng của đơn vị Đoàn quân Tây Tiến sau một thời gian hoạt động ở Làotrở về Hoà Bình thành lập trung đoàn 52
- Cuối năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác Tại đại hội thi đua toàn quân ở Phù LưuChanh, nhớ về đơn vị cũ, Quang Dũng viết bài thơ này, bài thơ lúc đầu có tên “NHỚ TÂY TIẾN”,
sau đó được in lại và đổi tên là “TÂY TIẾN”, in trong tập “Mây đầu ô”(1986) Bài thơ tiêu biểu
cho phong cách thơ Quang Dũng
b Bố cục: 4 đoạn.
-Mạch cảm xúc chủ đạo của bài thơ: Mở đầu là nỗi nhớ về Tây Tiến, tiếp theo những kỉ niệm của
nhà thơ về Tây Tiến và kết thúc là lời khẳng định mãi mãi gắn bó với Tây Tiến
a) Đoạn 1: Nổi nhớ về những cuộc hành quân gian khổ của người lính Tây Tiến và cảnh thiên nhiênmiền Tây Bắc hùng vĩ, hoang sơ và dữ dội
b) Đoạn 2: Nổi nhớ về những kỉ niệm đẹp ấm áp tình quân dân trong đêm liên hoan và cảnh sôngnước miền Tây Bắc thơ mộng
c) Đoạn 3: Nổi nhớ về người lính Tây Tiến lãng mạn và sự hi sinh bi tráng
d) Đoạn 4: Lời thề mãi gắn bó với Tây Tiến và miền Tây Bắc
c Chủ đề: Qua bài thơ, với cảm hứng lãng mạn và ngòi bút tài hoa, Quang Dũng ngợi ca vẻ đẹp
hùng vĩ và trữ tình, dữ dội mà mĩ lệ của thiên nhiên núi rừng miền Tây Bắc của Tổ quốc, đặc biệt
Trang 10“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
khắc vào thời gian một bức tượng đài bất tử về người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, đậmchất bi tráng
II TÌM HIỂU BÀI THƠ :
Quang Dũng viết “Tây Tiến” vào năm 1948, tại Phù Lưu Chanh, một làng ven con sông Đáy hiền hòa Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ: nhớ đồng đội thân yêu, nhớ đoàn binh Tây Tiến, nhớ bản mường và núi rừng miền Tây, nhớ kỉ niệm đẹp một thời trận mạc… Nói về nỗi nhớ ấy, bài thơ
đã ghi lại hào khí lãng mạn của tuổi trẻ Việt Nam, của “bao chiến sĩ anh hùng” trong buổi đầukháng chiến chống Pháp vô cùng gian khổ mà vinh quang
“Tây Tiến” là phiên hiệu của một đơn vị bộ đội hoạt động tại biên giới Việt – Lào, miền Tây tỉnhThanh Hóa và Hòa Bình Quang Dũng là một cán bộ đại đội của “đoàn binh không mọc tóc” ấy, đãtừng vào sinh ra tử với đồng đội thân yêu
1 Đoạn thơ: (Sông Mã thơm nếp xôi)
- Ở đoạn thơ thứ nhất, bức tranh thiên nhiên miền Tây lần lượt hiện ra qua những khung cảnh củađịa bàn hoạt động, những chặng đường hành quân của đoàn quân Tây Tiến Hình ảnh đoàn quânTây Tiến cũng thấp thoáng hiện lên trên nền cảnh thiên nhiên ấy
- Cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ là một nỗi nhớ da diết, bao trùm lên cả không gian và thờigian:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng, không kìm nén nổi, nhà thơ đã thốt lên thành tiếng gọi Hai chữ “chơivơi” như vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hoá nỗi nhớ, khơi nguồn cho cảnh núi cao,dốc sâu, vực thẳm, rừng dày, liên tiếp xuất hiện ở những câu thơ sau:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Khổ thơ này là một bằng chứng trong thơ có hoạ (“thi trung hữu hoạ”) Chỉ bằng bốn câu thơ,Quang Dũng đã vẽ ra một bức tranh hoành tráng diễn tả rất đạt sự hiểm trở và dữ dội, hoang vu vàheo hút của núi rừng miền Tây- địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến Hai câu thơ đầu, những
từ ngữ giàu giá trị tạo hình khúc khuỷu, thăm thẳm, cồn mây, súng ngửi trời đã diễn tả thật đắc địa
sự hiểm trở, trùng điệp và độ cao ngất trời của núi đèo miền Tây Hai chữ “ngửi trời” được dùng rấthồn nhiên và cũng rất táo bạo, vừa ngộ nghĩnh, vừa có chất tinh nghịch của người lính Núi caotưởng chừng chạm mây, mây nổi thành cồn “heo hút” Người lính trèo lên những ngọn núi caodường như đang đi trong mây, mũi súng chạm tới đỉnh trời Câu thơ thứ ba như bẻ đôi, diễn tả dốcnúi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm Đọccâu thứ tư, có thể hình dung cảnh người lính tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ngang
ra xa qua một không gian mịt mùng sương rừng, mưa núi, thấy thấp thoáng những ngôi nhà nhưđang bồng bềnh trôi giữa biên khơi
Bốn câu thơ này phối hợp với nhau, tạo nên một âm hưởng đặc biệt Sau ba câu thơ được vẽ bằngnhững nét gân guốc, câu thứ tư được vẽ bằng một nét rất mềm mại (câu thơ toàn thanh bằng) Quyluật này cũng giống như cách sử dụng những gam màu trong hội hoạ: giữa những gam màu nóng,tác giả sử dụng những gam màu lạnh làm dịu lại cả khổ thơ
Sự trùng điệp của núi đèo miền Tây trong bài thơ Tây Tiếnlàm gợi nhớ đến mấy câu thơ trongChinh phụ ngâm: “Hình khe thế núi gần xa,- Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao” Còn sự hoang vu vàhiểm trở của nó gợi nhớ tới câu thơ trong bài Đường Thục khó (Thục đạo nan) của Lí Bạch:
“Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh” (Thục đạo chi nan, nan vu thướng thanh thiên)
Trang 11“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
Vẻ hoang dại, dữ dội, chứa đầy bí mật ghê gớm của núi rừng miền Tây được nhà thơ tiếp tục khaithác Nó không chỉ được mở ra theo chiều không gian mà còn được khám phá ở chiều thời gian,luôn là mối đe doạ khủng khiếp đối với con người:
Cảnh núi rừng miền Tây hoang sơ và hiểm trở, qua ngòi bút Quang Dũng, hiện lên với đủ cả núicao, vực sâu, dốc thẳm, mưa rừng, sương núi, thác gầm, cọp dữ, Những tên đất lạ: Sài Khao,Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch , những hình ảnh giàu giá trị tạo hình, những câu thơ nhiềuvần trắc đọc lên nghe vất vả, nhọc nhằn, được xoa dịu bằng những câu có nhiều vần bằng ở cuốimỗi khổ thơ, đã phối hợp với nhau thật ăn ý, làm hiện hình lên thế giới khác thường vừa đa dạngvừa độc đáo của núi rừng miền Tây Tổ quốc
Đoạn thơ kết thúc đột ngột bằng hai câu thơ:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
Cảnh tượng thật đầm ấm Sau bao nhiêu gian khổ băng rừng, vượt núi, lội suối, trèo đèo, nhữngngười lính tạm dừng chân, được nghỉ ngơi ở một bản làng nào đó, quây quần bên những nồi cơmđang bốc khói Khói cơm nghi ngút và hương thơm lúa nếp ngày mùa xua tan vẻ mệt mỏi trêngương mặt những người lính, khiến họ tươi tỉnh hẳn lên.Hai câu thơ này tạo nên một cảm giác êmdịu, ấm áp, chuẩn bị tâm thế cho người đọc bước sang đoạn thơ thứ hai
2 Đoạn thơ: “Doanh trại hoa đong đưa”: Qua ngòi bút tài hoa của Quang Dũng, thiên nhiên
và con người miền Tây hiện ra với vẻ đẹp mĩ lệ, thơ mộng, trữ tình.
- Đoạn thơ thứ hai mở ra một thế giới khác của miền Tây Cảnh núi rừng hoang vu, hiểm trở, dữ dộilùi dần rồi khuất hẳn để bất ngờ hiện ra vẻ mĩ lệ, thơ mộng, duyên dáng của miền Tây Những nét
vẽ bạo, khoẻ, gân guốc ở đoạn thơ đầu đến đoạn này được thay bằng những nét mềm mại, uyểnchuyển, tinh tế Sự tinh tế, tài hoa của Quang Dũng cũng được bộc lộ rõ nhất trong đoạn thơ này.Hồn thơ lãng mạn của Quang Dũng bị hấp dẫn trước những vẻ đẹp mang màu sắc bí ẩn của conngười và cảnh vật nơi xứ lạ, phương xa Cảnh âý, người ấy hiện lên trong một khoảng thời gian làmnổi lên rõ nhất vẻ lung linh, huyền ảo của nó: cảnh một đêm liên hoan lửa đuốc bập bùng và cảnhmột buổi chiều sương phủ trên sông nước mênh mang Cảnh một đêm liên hoan văn nghệ củanhững người lính Tây Tiến có đồng bào địa phương đến góp vui được miêu tả bằng những chi tiếtrất thực mà cũng rất thơ mộng:
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Cả doanh trại bừng sáng, tưng bừng, sôi nổi hẳn lên khi đêm văn nghệ bắt đầu Trong ánh sáng lunglinh của lửa đuốc, trong âm thanh réo rắt của tiếng khèn, cả cảnh vật, cả con người đều như ngảnghiêng, bốc men say, ngất ngây, rạo rực Hai chữ “kìa em” thể hiện một cái nhìn vừa ngỡ ngàng,ngạc nhiên, vừa mê say, vui sướng Nhân vật trung tâm, linh hồn của đêm văn nghệ là những cô gáinơi núi rừng miền Tây bất ngờ hiện ra trong những bộ xiêm áo lộng lẫy (“xiêm áo tự bao giờ”), vừa
e thẹn, vừa tình tứ (“nàng e ấp”) trong một vũ điệu đậm màu sắc xứ lạ (“man điệu”) đã thu hút cảhồn vía những chàng trai Tây Tiến
- Nếu cảnh một đêm liên hoan đem đến cho người đọc không khí mê say, ngây ngất, thì cảnh sôngnước miền Tây lại gợi lên được cảm giác mênh mông, mờ ảo:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Không gian dòng sông trong một buổi chiều giăng mắc một màu sương Sông nước, bến bờ lặng tờ,hoang dại như thời tiền sử Trên dòng sông đậm màu sắc cổ tích, huyền thoại ấy, nổi bật lên dánghình mềm mại, uyển chuyển của cô gái Thái trên chiếc thuyền độc mộc Và như hoà hợp với conngười, những bông hoa rừng cũng đong đưa làm duyên trên dòng nước lũ Ngòi bút của Quang
Trang 12“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
Dũng không tả mà chỉ gợi Cảnh vật thiên nhiên xứ sở qua ngòi bút của ông như có hồn phảng phấttrong gió (“Có thấy hồn lau nẻo bến bờ”) Ông không chỉ lầm hiển hiện lên trước mắt người đọc vẻđẹp của thiên nhiên mà còn gợi lên cái phần thiêng liêng của cảnh vật
Đọc đoạn thơ này, ta như lạc vào thế giới của cái đẹp, thế giới của cõi mơ, của âm nhạc Bốn câuthơ đầu ngân nga như tiếng hát, như nhạc điệu cất lên từ tâm hồn ngây ngất, say mê của nhữngngười lính Tây Tiến Hơn ở đâu hết, trong đoạn thơ này, chất thơ và chất nhạc hoà quyện với nhauđến mức khó mà tách biệt Với ý nghĩa đó, Xuân Diệu có lí khi cho rằng đọc bài thơ Tây Tiến, ta cócảm tưởng như ngậm âm nhạc trong miệng
3 Đoạn thơ: “Tây Tiến khúc độc hành”:
- Trên cái nền hùng vĩ, hiểm trở, dữ dội của núi rừng (đoạn 1) và duyên dáng, thơ mộng, mĩ lệ (ở
đoạn 2), đến đoạn thứ ba, hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến xuất hiện với vẻ đẹp lẫm liệt, kiêu hùng, hào hoa, lãng mạn và đậm chất bi tráng:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Quang Dũng đã chọn lọc, đã tinh lọc những nét tiêu biểu nhất của những người lính Tây Tiến để tạcnên bức tượng đài tập thể khái quát được gương mặt chung của cả đoàn quân Cái bi và cái hùng làhai chất liệu chủ yếu hoà quyện, xâm nhập vào nhau tạo nên vẻ đẹp bi tráng- thần thái chung củabức tượng đài
- Thơ ca thời kì kháng chiến khi viết về người lính thường nói đến căn bệnh sốt rét hiểm nghèo
Chính Hữu trong bài Đồng chí đã trực tiếp miêu tả căn bênh ấy: “Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh,- Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi” Còn Tố Hữu, khi vẽ chân dung anh vệ quốc quân trong bài Cá nước với những hình ảnh thật cụ thể: “Giọt mồ hôi rơi,- Trên má anh vàng nghệ” cũng
không quên ảnh hưởng của thứ bệnh quái ác đó Quang Dũng trong Tây Tiến không hề che giấunhững gian khổ, khó khăn, những căn bệnh hiểm nghèo và sự hi sinh lớn lao của người lính Chỉ cóđiều, tất cả những cái đó, qua ngòi bút của ông, không được miêu tả một cách trần trụi mà qua mộtcái nhìn đạm màu sắc lãng mạn Những cái đầu không mọc tóc của người lính Tây Tiến đâu phải làhình ảnh li kì, sản phẩm của trí tưởng tượng xa rời thực tế của nhà thơ, mà chứa đựng một sự thựcnghiệt ngã Những người lính Tây Tiến, người thì cạo trọc đầu để thuận tiện khi đánh nhau giáp lá
cà với địch, người thì bị sốt rét đến rụng tóc, trọc đầu Cái vẻ xanh xao vì đói khát, vì sốt rét củanhững người lính, qua cái nhìn của Quang Dũng vẫn toát lên vẻ oai phong, dữ dằn của những con
hổ nơi rừng thiêng Sự oai phong lẫm liệt ấy còn được thể hiện qua ánh mắt giận dữ (“mắt trừng gửimộng”) của họ Những người lính Tây Tiến, qua ngòi bút của Quang Dũng không phải là nhữngngười khổng lồ không tim Cái nhìn nhiều chiều của Quang Dũng đã giúp ông nhìn thấy xuyên quacái vẻ oai hùng, dữ dằn bề ngoài của họ là những tâm hồn, những trái tim rạo rực, khát khao yêuđương (“Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”) Như vậy, trong khổ thơ này, Quang Dũng đã tạc nênbức tượng đài tập thể những người lính Tây Tiến không chỉ bằng những đường nét khắc hoạ dáng
vẻ bên ngoài mà còn thể hiện được cả thế giới tâm hồn bên trong đầy mộng mơ của họ
- Ngòi bút của Quang Dũng, khi dựng lên hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến, không hềnhấn chìm người đọc vào cái bi thương, bi luỵ Cảm hứng của ông mỗi khi chìm vào bi thương lạiđược nâng đỡ bằng đôi cánh của lí tưởng, của tinh thần lãng mạn Chính vì vậy mà cái bi thươngđược gợi lên qua hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới lạnh lẽo, xa xôi,một mặt, đã được giảm nhẹ đi nhiều nhờ những từ Hán Việt cổ kính, trang trọng: “Rải rác biêncương mồ viễn xứ”; mặt khác, chính cái bi thương ấy cũng lại bị mờ đi trước lí tưởng quên mình,
xả thân vì Tổ quốc của những người lính Tây Tiến (“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”) Hìnhtượng người lính Tây Tiến có vẻ tiều tuỵ, tàn tạ trong hình hài nhưng lại chói ngời vẻ đẹp lí tưởng,mang dáng dấp của những tráng sĩ thuở xưa, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng Sự thật bi thảm: nhữngngười lính Tây Tiến gục ngã bên đường không có đến cả manh chiếu để che thân, qua cái nhìn của
Trang 13“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
Quang Dũng, lại được bọc trong những tấm “áo bào” sang trọng Cái bi thương ấy vợi đi nhờ cáchnói giảm (“anh về đất”), và rồi bị át hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông Mã:
Áo bào thay chiếu anh về đất
Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.
- Cái tinh thần “một đi không trở lại” (“nhất khứ bất phục hoàn”) thấm nhuần trong tư tưởng và tìnhcảm của cả đoàn quân Tây Tiến Tâm hồn, tình cảm của những người lính Tây Tiến gắn bó máu thịtvới những ngày, những nơi mà đoàn quân Tây Tiến đã đi qua “Tây Tiến mùa xuân ấy” đã thànhthời điểm một đi không trở lại Lịch sử dân tộc sẽ không bao giờ lặp lại cái thời mơ mộng, lãngmạn, hào hùng đến nhường ấy trong một hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, khốc liệt đến như vậy
III TỔNG KẾT:
1 Nghệ thuật:
+ Cảm hứng lãng mạn và ngòi bút tài hoa, âm hưởng hào hùng, tinh thần bi tráng Hình ảnh đadạng, phong phú, giàu tính sáng tạo, đậm sắc thái thẩm mĩ ( Thiên nhiên vừa nghiệt ngã vừa thơmộng; con người vừa hào hùng vừa hào hoa; cảnh vừa cụ thể vừa khái quát, vừa xa vừa gần…)
+ Ngôn ngữ thơ nhiều sắc thái, giàu chất tạo hình , nhiều kết hợp từ ngữ độc đáo mới mẻ, sử dụng địa danh ấn tượng Giọng điệu khi tha thiết bồi hồi, khi hồn nhiên vui tươi, khi trang trọng cổ kính,
khi lại man mác bâng khuâng…
2 Nội dung:
- Quang Dũng đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến trên cái nền cảnh thiên nhiênnúi rừng miền Tây hùng vĩ, dữ dội và mĩ lệ Hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn,đậm chất bi tráng sẽ còn có sức hấp dẫn lâu dài đối với người đọc
- Thành công trong việc xây dựng hình tượng bi tráng về người lính với vẻ đẹp hào hùng và hào
hoa, thể hiện tình cảm sâu nặng của nhà thơ với đơn vị Tây Tiến, với cảnh vật và con người miềnTây Bắc một thời gắn bó
- Bài thơ ghi lại một chặng đường anh hùng của một đơn vị anh hùng Đó cũng là tinh thần chungcủa quân dân ta thời kì đầu chống Pháp
Ghi nhớ : Với cảm hứng lãng mạn và ngòi bút tài hoa, Quang Dũng đã khắc họa thành công
hình tượng người lính Tây Tiến trên cái nền cảnh thiên nhiên núi rừng miền Tây hùng vĩ, dữ dội và mĩ lệ Hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạng, đậm chất bi tráng sẽ còn
có sức hấp dẫn lâu dài đối với người đọc.
Trang 14“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
VIỆT BẮC-TỐ HỮU
I KIẾN THỨC CƠ BẢN :
PHẦN MỘT: TÁC GIẢ TỐ HỮU
1 Vài nét về tiểu sử Tố Hữu :
- Tố Hữu (1920 - 2002), tên thật là Nguyễn Kim Thành., quê ở Thừa Thiên - Huế
- Cuộc đời chia làm ba giai đoạn:
+ Thời thơ ấu:
o Xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo
o Cha và mẹ sớm đã truyền cho ông tình yêu với văn học
o Biết làm thơ Đường từ lúc 10 tuổi
Chính gia đình và quê hương đã góp phần hình thành hồn thơ Tố Hữu
+ Thời thanh niên:
o Năm 1938, ông được kết nạp Đảng và từ đó dâng đời mình cho CM
o Năm 1939, bị bắt và bị giam qua nhiều nhà tù ở miền Trung và Tây Nguyên
o Năm 1942, Tố Hữu vượt ngục, ra Thanh Hoá, tiếp tục hoạt động
o Cách mạng tháng Tám: lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Huế
+ Thời kỳ sau CM tháng Tám:
o Trong chiến chống Pháp: đặc trách văn hoá văn nghệ ở cơ quan trung ương Đảng
o Kháng chiến chống Pháp và Mĩ: Tố Hữu liên tục giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máylãnh đạo của Đảng và Nhà nước
- Ông được nhà nước phong tặng giải thưởng HCM về văn học nghệ thuật đợt 1 năm 1996.
2 Đường cách mạng, đường thơ TỐ HỮU:
*Nhận xét chung: Những chặng đường thơ Tố Hữu gắn bó và phản ánh chân thực những chặng
đường CM của dân tộc , những chặng đường vận động trong tư tưởng quan điểm và bản lĩnh nghệthuật của nhà thơ
*Những chặng đường thơ Tố Hữu:
1 Từ ấy (1937-1946): Là chặng đường 10 năm làm thơ và hoạt động sôi nổi từ giác ngộ qua thử thách đến trưởng thành của người thanh niên CM
- “Từ ấy” gồm 3 phần :
a Máu lửa (1937 - 1939): Sáng tác trong thời kì Mặt trận dân chủ.
- Nội dung:
+ Cảm thông với thân phận những người nghèo khổ
+ Khơi dậy ở họ lòng căm thù, ý chí đấu tranh và niềm tin vào tương lai
b Xiềng xích (1939-1942): Sáng tác trong các nhà lao ở Trung Bộ và Tây Nguyên.
- Nội dung:
+ Tâm tư của một người chiến sĩ trẻ tuổi tha thiết yêu đời và khát khao tự do và hành động
+ Ý chí kiên cường đấu tranh của người chiến sĩ CM ngay trong nhà tù thực dân
c Giải phóng (1942 - 1946): Sáng tác từ khi vượt ngục cho đến thời kì giải phóng dân tộc
- Nội dung:
+ Ngợi ca thắng lợi của CM, và độc lập tự do của đất nước
+ Khẳng định niềm tin vào chế độ mới
Những bài thơ tiêu biểu: Từ ấy, Tâm tư trong tù, Bà má Hậu Giang,…
-Nghệ thuật: Tập thơ thể hiện giọng điệu lôi cuốn nồng nhiệt, chất lãng mạn trong trẻo, tâm hồn nhạy cảm… của tác giả.
2.“Việt Bắc” (1947 – 1954) : Tập thơ được sáng tác trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp.
- Nội dung: Tập thơ là bản hùng ca về cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ mà anh hùng Ca
ngợi những con người kháng chiến: Đảng và Bác Hồ, anh vệ quốc quân, bà mẹ nông dân, chị phụ
nữ, em liên lạc… Nhiều tình cảm sâu đậm được thể hiện: tình quân dân, miền xuôi và miền ngược,tình yêu đất nước, tình cảm quốc tế vô sản,…
Trang 15“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
- Nghệ thuật: Tác phẩm mang đậm màu sắc dân tộc và tính đại chúng, cảm hứng sử thi và khuynh
hướng khái quát
- Tác phẩm tiêu biểu: Việt Bắc, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Phá đường,….
3.“Gió lộng” (1955 – 1961): Ra đời khi miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả nước tiếp tục cuộc đấu tranh thống nhất Tổ quốc.
- Nội dung : Ca ngợi công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, thể hiện tình cảm thiết tha
với miền Nam và ý chí đấu tranh thống nhất đất nước…
- Nghệ thuật : Tiếp tục cảm hứng lịch sử và khuynh hướng khái quát, tràn đầy cảm hứng lãng mạn,
phơi phới lạc quan và thắm thiết ân tình
- Tác phẩm tiêu biểu : Mẹ Tơm, Bài ca xuân 61, Ba mươi năm đời ta có Đảng,…
4 “Ra trận” (1962 – 1971), “Máu và hoa” (1972 – 1977) : Hai tập thơ này được tác giả viết trong những năm cuộc kháng chiến chống Mỹ quyết liệt cho đến ngày toàn thắng.
- Nội dung: Ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cổ vũ cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước ở
hai miền Nam Bắc, biểu hiện niềm tự hào, niềm vui khi giành được chiến thắng
- Nghệ thuật: Mang đậm chất chính luận – thời sự, tính khái quát tổng hợp…
- Tác phẩm tiêu biểu: Bài ca Xuân 68, Kính gởi cụ Nguyễn Du, Theo chân Bác, Nước non ngàn
dặm,…
5 “Một tiếng đờn” (1992) và “Ta với ta” (1999):
- Nội dung : Hai tập thơ là những chiêm nghiệm về cuộc đời và con người với nhiều cảm xúc suy
tư Niềm tin vào lí tưởng và con đường cách mạng, tin vào chữ nhân luôn toả sáng ở mỗi hồn
người
- Nghệ thuật: Giọng thơ trầm lắng, đượm chất suy tư.
3 Phong cách thơ Tố Hữu:
a Về nội dung : Thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình chính trị sâu sắc.
- Trong việc biểu hiện tâm hồn, thơ Tố Hữu luôn hướng tới cái ta chung với lẽ sống lớn, tình cảmlớn,niềm vui lớn của con người cách mạng,của cả dân tộc
- Trong việc miêu tả đời sống, thơ Tố Hữu mang đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn, coi những
sự kiện chính trị lớn của đất nước là đối tượng chủ yếu, luôn đề cập tới những vấn đề có ý nghĩa
lịch sử và có tính chất tòan dân -> Những điều đó được thể hiện qua giọng thơ mang tính chất tâm tình rất tự nhiên, đằm thắm , chân thành
b.Về nghệ thuật :Thơ Tố Hữu mang tính dân tộc rất đậm đà.
- Về thể thơ : Tố Hữu có tiếp thu những tinh hoa của phong trào Thơ mới,vận dụng thành công
những thể lọai thơ dân tộc, đặc biệt là thể thơ lục bát, thất ngôn
- Về ngôn ngữ : Thơ Tố Hữu thường dùng những từ ngữ cách nói dân gian quen thuộc với dân tộc,
phát huy cao độ tính nhạc phong phú của tiếng Việt, sử dụng tài tình các từ láy, các thanh điệu, cácvần thơ,…
4 KẾT LUẬN: Thơ Tố Hữu là bằng chứng sinh động về sự kết hợp hài hoà hai yếu tố cách mạng
và dân tộc trong sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo thi ca
PHẦN HAI: TÁC PHẨM “VIỆT BẮC”
1.Giới thiệu về Việt Bắc - Hoàn cảnh ra đời:
- Việt Bắc là vùng địa lý - chiến khu bao gồm 6 tỉnh, được gọi tắt là:
Cao-Bắc-Lạng-Thái-Tuyên-Hà Trong 9 năm kháng chiến, Việt Bắc là chiến khu, là thủ đô của Chính phủ kháng chiến và HồChủ tịch Việt Bắc không chỉ là cái nôi của Cách mạng Việt Nam trong những năm tiền khởi nghĩa,
mà còn là căn cứ địa vững chắc, là đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp Đồng bào Việt Bắc
đã cưu mang che chở cho Đảng, cho Chính phủ, cho bộ đội từ những ngày gian khổ cho đến ngàytoàn thắng vẻ vang
- Việt Bắc là quê hương cách mạng, là căn cứ địa vững chắc của cuộc kháng chiến, nơi đã che chởđùm bọc cho Đảng, Chính Phủ, bộ đội trong suốt những năm kháng chiến chống Pháp gian khổ
Trang 16“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
- Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi Tháng 7-1954 hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, hịabình lập lại, miền Bắc được giải phĩng và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới Một trang sử mớicủa dân tộc được mở ra
- Tháng 10 năm 1954, các cơ quan trung ương của Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lạithủ đơ, những người kháng chiến từ căn cứ miền núi về lại miền xuơi Cuộc chia tay lịch sử ấy đem
lại cảm hứng cho Tố Hữu viết bài Việt Bắc Tác phẩm nằm trong tập “Việt Bắc”(1947-1954), là
đỉnh cao của sự nghiệp thơ ca Tố Hữu và thành tựu xuất sắc của nền thơ ca kháng chiến chốngPháp
2 Vị trí đoạn trích và bài “Việt Bắc”:
Đoạn trích thuộc phần đầu bài thơ Bài thơ “Việt Bắc” gồm 2 phần:
- Phần 1: Tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến.(90 câu đầu)
- Phần 2: Gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước và ca ngợi cơng ơn của Đảng, Bác Hồ đối với dântộc.(60 câu cịn lại)
Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát gồm 150 dịng thơ (câu thơ) Cấu trúc theo hình thức đối đápcủa lối hát giao duyên trong dân ca giữa “mình” với “ta” ( Sách Ngữ Văn 12 chỉ trích học 90 dịngthơ )
3 Bố cục đoạn trích : 2 phần
+ 8 câu đầu: Lời hỏi đáp thứ nhất giữa đồng bào Việt Bắc và cán bộ cách mạng
+ 82 câu cịn lại: Lời hỏi đáp thứ hai giữa đồng bào Việt Bắc và cán bộ cách mạng
( Lời nhắn gửi của người ở lại và lời đáp của người ra đi.Tất cả đều thể hiện ân tình sâu nặng vớiViệt Bắc)
4 Chủ đề: VB là khúc tình ca về cách mạng, về kháng chiến mà cội nguồn sâu xa là tình yêu đất
nước, niềm tự hào về sức mạnh của nhân dân, là truyền thống ân nghĩa, đạo lý thuỷ chung của dân tộc.
5 Kết cấu : Diễn biến tâm trạng được tổ chức theo lối đối đáp giao duyên trong ca dao - dân ca:
bên hỏi, bên đáp, người bày tỏ, người hơ ứng Hỏi và đáp đều mở ra bao nhiêu kỷ niệm về cáchmạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng, bao nỗi niềm nhớ thương Thực ra, bên ngồi là đốiđáp, cịn bên trong là lời độc thoại, là biểu hiện tâm tư tình cảm của chính nhà thơ, của những ngườitham gia kháng chiến
II ĐỌC-HIỂU VĂN BẢN:
Tố Hữu là một trong những lá cờ đầu của văn học cách mạng Việt Nam Những chặng đường thơ Tố Hữu gắn bĩ và phản ánh chân thực những chặng đường CM của dân tộc Thơ ơng mang tính chất trữ tình chính trị sâu sắc và tính dân tộc rất đậm đà “Việt Bắc” là tác phẩm tiêu biểu thể hiện phong cách thơ Tố Hữu.
Phần 1: (Tám câu đầu) Những phút giây đầu tiên của buổi chia tay đầy bâng khuâng, lưu luyến giữa kẻ ở người đi.
Bốn câu đầu là lời Việt Bắc tỏ bày với người cán bộ chiến sĩ khi chia tay:
"Mình về mình cĩ nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình cĩ nhớ khơng
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sơng nhớ nguồn?"
- Bốn câu đầu là lời ướm hỏi của người ở lại Câu hỏi ngọt ngào, khéo léo “mười lăm năm” cách
mạng gian khổ hào hùng, cảnh và người VB gắn bĩ nghĩa tình với những người kháng chiến; đồngthời khẳng định tấm lịng thủy chung của mình
+ Nghĩa tình của kẻ ở- người về được biểu hiện qua các đại từ mình - ta quen thuộc trong thơ ca dân gian gắn liền với tình yêu đơi lứa, cách xưng hơ mình - ta tạo nên sự thân mật, gần gũi Điệp từ
“nhớ”, láy đi, láy lại cùng với lời nhắn nhủ “mình cĩ nhớ ta”, “mình cĩ nhớ khơng” vang lên daydứt khơn nguơi
+ Các từ “thiết tha”, “mặn nồng” thể hiện bao ân tình gắn bĩ.
Trang 17“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
Điệp từ "nhớ" luyến láy trong cấu trúc câu hỏi tu từ đồng dạng, tràn đầy thương nhớ Cách xưng
hô "mình - ta" mộc mạc, thân gần gợi liên tưởng ca dao: "Mình về ta chẳng cho về - Ta nắm vạt áo,
ta đề bài thơ" "15 năm" là chi tiết thực chỉ độ dài thời gian từ năm 1940 thời kháng Nhật và tiếptheo là phong trào Việt Minh, đồng thời cũng là chi tiết gợi cảm - nói lên chiều dài gắn bó thươngnhớ vô vàn Câu thơ mang dáng dấp một câu Kiều - Mười lăm năm bằng thời gian Kim - Kiều xacách thương nhớ mong đợi hướng về nhau (Những là rày ước mai ao - Mười lăm năm ấy biết baonhiêu tình) Cảm xúc đậm đà chất dân gian, đậm đà chất Kiều Âm điệu ngọt ngào, giọng thơ nồng
ấm, tình cảm do vậy dạt dào thiết tha Việt Bắc hỏi về: "Mình về mình có nhớ không - Nhìn cây nhớnúi, nhìn sông nhớ nguồn?" Câu hỏi chất chứa tình cảm lưu luyến, bao hàm lời dặn dò kín đáo:đừng quên cội nguồn Việt Bắc - cội nguồn cách mạng
Bốn câu tiếp theo là tiếng lòng của người cán bộ về xuôi :
"Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay"
Tuy không trả lời trực tiếp câu hỏi của người ở lại nhưng tâm trạng bâng khuâng, bồn chồn, cùng
với cử chỉ “cầm tay nhau” xúc động bồi hồi đã nói lên tình cảm : chưa xa đã nhớ, sự bịn rịn luyến
lưu của người cán bộ với cảnh và người Việt Bắc
+ Hình ảnh “áo chàm” (nghệ thuật hoán dụ) có giá trị khắc họa bản sắc trang phục của đồng bào
Việt Bắc nhưng sâu xa hơn lại để nói rằng ngày chia tay cán bộ kháng chiến về xuôi cả nhân dânViệt Bắc đều hiện diện
+ Câu thơ bỏ lửng “cầm tay…” diễn tả thái độ nghẹn ngào không nói lên lời của người cán bộ giã
từ Việt Bắc về xuôi
- "Bâng khuâng, bồn chồn" là hai từ láy gợi cảm, diễn tả trạng thái tâm lí tình cảm buồn vui, luyếntiếc, nhớ thương, chờ mong lẫn lộn cùng một lúc Mười lăm năm Việt Bắc cưu mang người cán bộchiến sĩ, mười lăm năm gian khổ có nhau, mười lăm năm đầy những kỉ niệm chiến đấu, giờ phảichia tay rời xa để làm nhiệm vụ mới về tiếp quản tại thủ đô Hà Nội (10-1954), biết mang theo điều
gì, biết lưu lại hình ảnh nào, tâm trạng của người về do vậy không tránh khỏi là nỗi niềm bângkhuâng khó tả
- "Áo chàm đưa buổi phân li" là một ẩn dụ, màu áo chàm, màu áo xanh đen đặc trưng của ngườimiền núi Việt Bắc - tác giả hướng nỗi nhớ Việt Bắc qua hình ảnh cụ thể "áo chàm", chiếc áo, màu
áo bình dị, đơn sơ, mộc mạc của vùng quê nghèo thượng du đồi núi nhưng sâu nặng nghĩa tình, đãgóp phần không nhỏ vào sự nghiệp kháng chiến cứu nước
- Câu thơ "Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay " đầy tính chất biểu cảm - biết nói gì không phảikhông có điều để giải bày mà chính vì có quá nhiều điều muốn nói không biết phải nói điều gì Badấu chấm lửng đặt cuối câu là một dấu lặng trên khuôn nhạc để tình cảm ngân dài, sâu lắng
Phần 2: (Tám mươi hai câu sau) Những kỉ niệm về Việt Bắc hiện lên trong hoài niệm.
1) Tâm tình của Việt Bắc:
Mười hai câu tiếp theo đoạn trích, là lời tâm tình của Việt Bắc về những kỉ niệm chiến khu gian khổ:
"Mình đi, có nhớ những ngày/ Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù /Mình về, có nhớ chiến khu /Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?/ Mình về, rừng núi nhớ ai/ Trám bùi để rụng măng mai để già/ Mình đi, có nhớ những nhà/ Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son/ Mình về, có nhớ núi non /Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh/ Mình đi, mình có nhớ mình/ Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa"
+ Nhớ thiên nhiên khắc nghiệt: “mưa nguồn, suối lũ,
+ Nhớ cuộc sống “những mây cùng mù” nhưng nghĩa tình “Mình về rừng núi nhớ ai… để già” chiến khu gian khổ nhưng căm thù giặc sâu sắc: bát cơm chấm muối, mối thù nặng vai.
+ Nhớ những năm đầu kháng Nhật với những địa danh lịch sử: Tân Trào, Hồng Thái mái đình cây đa.
Trang 18“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
Câu thơ “Mình đi mình có nhớ mình”: nhớ mình - tức nhớ người ở lại nhưng cũng như là nhắc nhở
chính mình hãy nhớ về quá khứ
Điệp từ "nhớ" lập đi lập lại nhiều sắc thái ý nghĩa: nhớ là nỗi nhớ, ghi nhớ, nhắc nhở Hàng loạtnhững câu hỏi tu từ bày tỏ tình cảm tha thiết đậm đà của Việt Bắc Tình cảm lưu luyến của ngườiđưa tiễn, gửi đi nỗi nhớ mong, gài lại niềm thương theo cách:
"Thuyền về có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền"
Việt Bắc nhắc người cán bộ chiến sĩ đừng quên những năm tháng gian lao vất vả, hoạt động chiến
đấu trong điều kiện trang bị tiếp tế còn thô sơ, thiếu thốn Hãy nhớ thiên nhiên khắc nghiệt: “mưa nguồn, suối lũ” và cuộc sống chiến khu gian khổ“những mây cùng mù” nhưng nghĩa tình và căm
thù giặc sâu sắc
"Mình về có nhớ chiến khu / Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?"
"Miếng cơm chấm muối" là chi tiết thực, phản ánh cuộc sống kháng chiến gian khổ Và cáchnói "mối thù nặng vai" nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ chống thực dân cướp nước, đè nặng vai dân tộcta
Cảm xúc thương nhớ xa vắng thả vào không gian rừng núi, gợi nỗi niềm dào dạt:
"Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già”
Hình ảnh "Trám bùi để rụng, măng mai để già" gợi nỗi buồn thiếu vắng - "Trám rụng - mănggià" không ai thu hái Nỗi ngùi nhớ bức bối như thúc vào lòng kẻ ở lại
Tiễn người về sau chiến thắng và chính trên cái nền của sự chiến thắng đó, đã làm cho nỗibuồn nhớ trở nên trong sáng Việt Bắc vẫn "một dạ khăng khăng đợi thuyền", đồng thời nhắc nhởkhéo léo tấm "lòng son" của người cán bộ chiến sĩ Xin đừng quên thời kỳ "kháng Nhật thuở cònViệt Minh", đừng quên cội nguồn cách mạng trong những năm đầu kháng Nhật với những địa danh
lịch sử: “Tân Trào, Hồng Thái mái đình cây đa”, đừng quên để chăm lo giữ gìn sự nghiệp cách mạng "Mình đi, mình có nhớ mình / Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”
Tóm lại, đoạn thơ trên là nỗi lòng thương nhớ, là lời tâm tình của Việt Bắc Đoạn thơ trêntiêu biểu sắc thái phong cách Tố Hữu, giọng điệu thơ ngọt ngào truyền cảm, mang đậm phong vị cadao dân gian, đề cập đến con người và cuộc sống kháng chiến Thông qua hình tượng Việt Bắc, tácgiả ca ngợi phẩm chất cách mạng cao đẹp của quân dân ta, khẳng định nghĩa tình thuỷ chung sonsắt của người cán bộ, chiến sĩ đối với Việt Bắc
2) Tâm tình người ra đi:
* Bảy mươi câu đáp: mượn lời đáp của người về xuôi, nhà thơ bộc lộ nối nhớ da diết với Việt Bắc;
qua đó dựng lên hình ảnh chiến khu trong kháng chiến anh hùng và tình nghĩa thủy chung
a Khẳng định nghĩa tình thủy chung son sắt (Bốn câu đầu đoạn)
Đón hết những lời ân tình ân nghĩa của Việt Bắc , bây giờ người về mới mở lời Lời người về cũngchí tình chí nghĩa:
"Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh,
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu "
- "Ta với mình, mình với ta" Hai đại từ Ta - Mình cứ xoắn xuýt, quấn quýt thật là nồng nàn Ýnghĩa lại không rạch ròi để rồi nhập lại làm một Cách ngắt nhịp 3/3, mình - ta lặp lại th ể
h iệ n sự gắn bó,
không thể chia cắt.Vận dụng sáng tạo ca dao (Mình với ta tuy hai mà một/ Ta với mình tuy một
mà hai)
> mượn tình cảm lứa đôi để diễn tả tình cảm cách mạng khăng khít bền chặt
- Khẳng định: lòng ta - sau trước - mặn mà- đinh ninh > nhịp 2/2/2/2, kết hợp với 2 từ láy> là lờikhẳng định chắc nịch
- "Mình đi, mình lại nhớ mình" Diễn ra ngôn ngữ của tình yêu là "Anh đi anh lại nhớ em"
Trang 19“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
• Chữ "lại": thanh trắc ở âm vực trầm nhất > câu trả lời vừa là lời khẳng định, vừa là một nguyện thề thiêng liêng với người ở lại, với chính mình
• Gắn với câu hỏi "Mình đi mình có nhớ mình" > Sự vận dụng sáng tạocấu trúc ca dao (Thuyền v
ề cónhớ bến chăng/ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền): không chỉ có một vế đơn độc
vế hỏi vừa như nêu băn khoăn, vừa khẳng định lòng thuỷ chung của bến đợi mà còn có vế đáp đểnói rõ sự chung thuỷ sắt son của người ra đi
Cách so sánh, cách đo đếm đậm màu sắc dân gian: Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấynhiêu diễn tả được nghĩa tình cách mạng là vô hạn tận, như suối nguồn không bao giờ vơi cạn
> khẳng định lòng thủy chung son sắt với cách mạng, với quê hương kháng chiến của người cán bộ
vê xuôi.Nỗi nhớ của người đi thật là dào dạt, nghĩa tình của người đi đối với Việt Bắc thật là bất tận
"Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu"
b Hiện thực Việt Bắc trong hồi tưởng:
Sau khi khẳng định tấm lòng trước sau không thay đổi, để xua tan những hoài nghi của người ở lại , người về xuôi phải nói những lời nồng thắm thể hiện qua nỗi nhớ về một Việt Bắc ắp đầy kỉ niệm:
Hình ảnh chiến khu càng sống động bao nhiêu càng cho thấy nỗi nhớ, tình cảm kẻ đi với ngườiở tư
ơi mới bấy nhiêu Cảnh sắc thiên nhiên, cuộc sống sinh hoạt, kỉ niệm kháng chiến lần lượt hiệnhình nổi sắc
Nhớ gì như nhớ người yêu
Chày đêm nện cối đều đều suối xa
Thiên nhiên và cảnh núi rừng Việt Bắc hiện lên đa dạng trong nhiều khoảng thời gian và không gian
khác nhau
B1 Nỗi nhớ cảnh Việt Bắc thanh bình:
- Cảnh vật núi rừng Việc Bắc hiện lên với vẻ đẹp vừa hiện thực vừa mơ mộng:
“Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy”.
- Nỗi nhớ VB được so sánh với nhớ người yêu: Nỗi nhớ mãnh liệt và da diết Hình ảnh so sánh nhưnhớ người yêu thể hiện sự gắn bó tha thiết trong tình cảm Cách so sánh này mới lạ sáng tạo, chỉ với "nhưnhớ người yêu" mà người đọc có thể thấy hết được tình cảm của người ra đi Tác giả thể hiện nỗi nhớthiên nhiên nên thơ, trữ tình của Việt Bắc như nhớ một con người và đó là người yêu – tình yêu Cáitài hoa của tác giả là diễn tả nỗi nhớ thiên nhiên Việt Bắc của người ra đi như nỗi nhớ trong tìnhcảm cao quý nhất của con người
- Từ nỗi nhớ như nhớ người yêu, Việt Bắc hiện lên với những nét đẹp rất riêng: Trăng đầu núi, nắng
lưng nương cùng những tên gọi, địa danh cụ thể gợi cảm, nên thơ Điệp từ “nhớ từng” lặp đi lặp lại
làm cho nỗi nhớ thêm da diết Thiên nhiên Việt Bắc như hiện hữu trước mắt với Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê thật gần gũi thân quen Những bản làng ẩn hiện trong sương khói Ánh lửa hồng trong
đêm khuya Những tên núi, tên rừng, tên sông, tên suối quen thuộc, thân yêu
- Hình ảnh gợi cảm đầy thi vị: bản khói cùng sương, bếp lửa, trăng lên đầu núi, rừng nứa bờtre, Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê gợi nhớ những nét nhớ nhung tưởng như nhẹ nhàng mà lại hóatha thiết, mãnh liệt
ð Cảnh đẹp có phần hoang sơ nhưng không hiu quạnh mà thơ mộng ấm áp Nỗi nhớ Việc Bắc
được so sánh,liệt kê, điệp từ “nhớ” được đặt ở đầu câu: Nỗi nhớ thật da diết, mãnh liệt, cháy
bỏng Nỗi nhớ bao trùm khắp cả không gian và thời gian
B2 Nỗi nhớ về nghĩa tình của con người VB đối với cuộc kháng chiến: Những ngày khó khăn gian khổ nhưng đậm đà tình nghĩa (Ta đi…suối xa.)
Trang 20“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
- Tuy nhiên, da diết và đậm sâu hơn cả vẫn là nỗi nhớ về con người, về ân tình Việt Bắc:
+ Nhớ Việt Bắc là nhớ đến tấm lòng giàu tình nghĩa, gắn bó với cách mạng cùng mối thù nặng vai,cùng chia sẻ đắng cay ngọt bùi “Thương nhau … đắp cùng” Hình ảnh tượng trưng: "Chia củ sắnlùi, bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng" kết hợp với cách dùng từ cùng nghĩa "chia, sẻ, cùng" diễn tảđược mối tình cảm "chia ngọt sẻ bùi" giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ cách mạng Biết bao tìnhnghĩa sâu nặng trong "củ sắn", "bát cơm", "chăn sui" mà người cán bộ cách mạng đã chịu ơn ViệtBắc Đây là một hình ảnh đậm đà tình giai cấp
+ Nhớ Việt Bắc là nhớ người mẹ Việt Bắc nghèo khổ cơ cực nhưng đậm đà tấm lòng son : “Nhớ
người mẹ … bắp ngô” Hình ảnh chọn lọc: Người mẹ nắng cháy lưng gợi người đọc liên tưởng
đến sự tần tảo chắt chiu, cần cù lao động của bà mẹ chiến sĩ trong kháng chiến đã đùm bọc, cưumang chiến sĩ, cán bộ cách mạng Đó là hình ảnh tiêu biểu cho cái đẹp, cái ân tình trong cuộc sốngkháng chiến không thể phai nhòa trong kí ức của người về xuôi
- Cảnh sinh hoạt trong kháng chiến vui tươi, lạc quan dù còn nhiều gian khổ thiếu thốn: “Nhớ sao lớp học … núi đèo”
- Cuộc sống của đồng bào Việt Bắc tuy gian khổ, vất vả nhưng trong kí ức vẫn thanh bình, đẹp đẽ,
êm ả bình dị với tiếng mõ, tiếng chày hòa trong tiếng suối xa xa: “Nhớ sao tiếng mõ …suối xa”
=> Đoạn thơ đủ sức gợi ra thật rõ nét và thấm thía khung cảnh bản làng, tình người, tình quân dâncủa chiến khu những năm kháng Pháp với tất cả những dáng nét, âm thanh, không khí, tâm tình.Những câu thơ cất lên nghe sao trìu mến, nói về mẹ, về trẻ thơ, về người thương yêu dấu…
ð Con người Việt Bắc nghèo khổ, cần cù, thủy chung và sâu nặng ân tình
B3 Nỗi nhớ bức tranh tứ bình về thiên nhiên, con người Việt Bắc với bốn mùa Xuân Hạ Thu – Đông: “ Ta về … thuỷ chung”
-Đoạn này được xem là đặc sắc nhất Việt Bắc 10 câu lục bát thu gọn cả sắc màu 4 mùa, cả âm thanhcuộc sống, cả thiên nhiên con ngư ời Việt Bắc
Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng ng ười
Tố Hữu lựa chọn thật đắt hình ảnh đối xứng : hoa - người Hoa là vẻ đẹp tinh tuý nhất của thiênnhiên, kết tinh từ h ương đất sắc trời, t ương xứng với con ng ười là hoa của đất Bởi vậy đoạn thơ
đư ợc cấu tạo: câu lục nói đến thiên nhiên, câu bát nói tới con ngư ời Nói đến hoa hiển hiện hình ng
ười, nói đến người lại lấp lóa bóng hoa Vẻ đẹp của thiên nhiên và con người hòa quyện với nhau tỏa
sáng bức tranh thơ Bốn cặp lục bát tạo thành bộ tứ bình đặc sắc
+ Trước hết đó là nỗi nhớ mùa đông Việt Bắc - cái mùa đông thuở gặp gỡ ban đầu, đến hôm nayvẫn sáng bừng trong kí ức
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Câu thơ truyền thẳng đến người đọc cảm nhận về một màu xanh lặng lẽ, trầm tĩnh của rừng già Cáimàu xanh ngằn ngặt đầy sức sống ngay giữa mùa đông tháng giá Cái màu xanh chứa chất bao sứcmạnh bí ẩn "Nơi thiêng liêng rừng núi hóa anh hùng" Màu xanh núi rừng Việt Bắc:
Rừng giăng thành lũy thép dày
Rừng che bộ đội rừng vây quân thù
Trên cái nền xanh ấy nở bừng bông hoa chuối đỏ tươi, thắp sáng cả cánh rừng đại ngàn làm ấm cảkhông gian, ấm cả lòng ngư ời Hai chữ "đỏ tươi" không chỉ là từ ngữ chỉ sắc màu, mà chứa đựng
cả một sự bừng thức, một khám phá ngỡ ngàng, một rung động rất thi nhân Có thể thấy cái màu đỏtrong câu thơ Tố Hữu như điểm sáng hội tụ sức mạnh tiềm tàng chốn rừng xanh đại ngàn, lấp lóamột niềm tin rất thật, rất đẹp Trên cái phông nền hùng vĩ và thơ mộng ấy, hình ảnh con người xuấthiện thật vững chãi, tự tin Đó là vẻ đẹp của con người làm chủ núi rừng, đứng trên đỉnh trời cùng
tỏa sáng với thiên nhiên, "Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng".
+ Cùng với sự chuyển mùa (mùa đông sang mùa xuân) là sự chuyển màu trong bức tranh thơ: Màuxanh trầm tĩnh của rừng già chuyển sang màu trắng tinh khôi của hoa mơ khi mùa xuân đến Cả không giansáng bừng lên sắc trắng của rừng mơ lúc sang xuân
Trang 21“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
“Ngày xuân mơ nở trắng rừng ”
Trắng cả không gian "trắng rừng", trắng cả thời gian "ngày xuân" Hình ảnh này khá quen thuộctrong thơ Tố Hữu, hình ảnh rừng mơ sắc trắng cũng đi vào trường ca Theo chân Bác gợi tả mùaxuân rất đặc tr ưng của Việt Bắc:
Ôi sáng xuân nay xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Cái sắc trắng tinh khôi bừng nở mỗi độ xuân về làm ngơ ngẩn ng ười ở, thẫn thờ kẻ đi Người đikhông thể không nhớ sắc trắng hoa mơ nơi xuân rừng Việt Bắc, và lại càng không thể không nhớđến con ng ười Việt Bắc, cần cù uyển chuyển trong vũ điệu nhịp nhàng của công việc lao động thầmlặng mà cần mẫn tài hoa: Nhớ ng ười đan nón chuốt từng sợi giang
Hai chữ "chuốt từng" gợi lên dáng vẻ cẩn trọng tài hoa, dường như bao yêu thương đợi chờ mongngóng đã gửi vào từng sợi nhớ, sợi thư ơng kết nên vành nón Cảnh thì mơ mộng, tình thì đ ợmnồng Hai câu thơ lưu giữ lại cả khí xuân, sắc xuân, tình xuân vậy Tài tình như thế thật hiếm thấy.+ Bức tranh thơ thứ 3 chuyển qua rừng phách - một loại cây rất thường gặp ở Việt Bắc hơn bất cứnơi đâu Chọn phách cho cảnh hè là sự lựa chọn đặc sắc, bởi trong rừng phách nghe tiếng ve ran,ngắm sắc phấn vàng giữa những hàng cây cao vút, ta như cảm thấy sự hiện diện rõ rệt của mùa hè.Thơ viết mùa hè hay xưa nay hiếm, nên ta càng thêm quí câu thơ của Tố Hữu:
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Ở đây có sự chuyển đổi cảm giác rất thú vị: Tiếng ve kêu - ấn tượng của thính giác đã đem lại ấn tượng thị giác thật mạnh Sự chuyển mùa được biểu hiện qua sự chuyển màu trên thảo mộc cỏ cây:Những ngày cuối xuân, cả rừng phách còn là màu xanh, những nụ hoa còn náu kín trong kẽ lá, khitiếng ve đầu tiên của mùa hè cất lên, những nụ hoa nhất tề đồng loạt trổ bông, đồng loạt tung phấn,
cả rừng phách lai láng sắc vàng Chữ đổ đ ược dùng thật chính xác, tinh tế Nó vừa gợi sự biếnchuyển mau lẹ của sắc màu, vừa diễn tả tài tình từng đợt mư a hoa rừng phách khi có ngọn gióthoảng qua, vừa thể hiện chính xác khoảng khắc hè sang Tác giả sử dụng nghệ thuật âm thanh đểgọi dậy màu sắc, dùng không gian để miêu tả thời gian Bởi vậy cảnh thực mà vô cùng huyền ảo.Trên nền cảnh ấy, hình ảnh cô em gái hiện lên xiết bao thơ mộng, lãng mạn: "Cô em gái hái măngmột mình" nghe ngọt ngào thân th ơng trìu mến Nhớ về em, là nhớ cả một không gian đầy h ươngsắc Ng ười em gái trong công việc lao động hàng ngày giản dị: hái măng Vẻ đẹp lãng mạn thơ mộng
ấy còn đư ợc tô đậm ở hai chữ "một mình" nghe cứ xao xuyến lạ, như bộc lộ thầm kín niềm mến thươngcủa tác giả Nhớ về em, nhớ về một mùa hoa
+ Khép lại bộ tứ bình là cảnh mùa thu Đây là cảnh đêm thật phù hợp với khúc hát giao duyêntrong thời điểm chia tay giã bạn Hình ảnh ánh trăng dọi qua kẽ lá dệt lên mặt đất một thảm hoa
trăng lung linh huyền ảo
“Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
Dưới ánh trăng thu, tiếng hát ân tình càng làm cho cảnh thêm ấm áp tình ng ười Đại từ phiếm chỉ
"ai" đã gộp chung người hát đối đáp với mình làm một, tạo một hòa âm tâm hồn đầy bâng khuânglưu luyến giữa kẻ ở, người đi, giữa con ngư ời và thiên nhiên
Tóm lại, mỗi câu lục bát làm thành một bức tranh trong bộ tứ bình Mỗi bức tranh có vẻ đẹp riênghòa kết bên nhau tạo vẻ đẹp chung Đó là sự hài hòa giữa âm thanh, màu sắc Tiếng ve của mùa hè,tiếng hát của đêm thu, màu xanh của rừng già, sắc đỏ của hoa chuối, trắng tinh khôi của rừng mơ, vàngửng của hoa phách Trên cái nền thiên nhiên ấy, hình ảnh con người hiện lên thật bình dị, thơ mộng trongcông việc lao động hàng ngày Đoạn thơ mang nét đẹp cổ điển mà hiện đại: Vẻ đẹp cổ điển: Bức tranh
tứ bình hiện lên qua những nét gợi tả Vẻ đẹp hiện đại: Hình ảnh con người đã trở thành tâm điểm,tạo nên vẻ đẹp, sức sống của thiên nhiên
B4 Nỗi nhớ khung cảnh Việt Bắc hùng tráng trong kháng chiến anh hùng: (Hai mươi hai câu
tiếp)
“Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Trang 22“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
………
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”
- Khung cảnh Việt Bắc kháng chiến với những cảnh rộng lớn, những hoạt động tấp nập, sôi độngcủa cuộc kháng chiến được vẽ bằng bút pháp của những tráng ca Cảnh Việt Bắc đánh giặc đượcmiêu tả bằng những bức tranh rộng lớn, kì vĩ Rừng núi mênh mông hùng vĩ trở thành người đồnghành với con người, chở che cho bộ đội ta, cùng quân và dân ta đánh giặc Chiến khu là căn cứvững chắc, đầy nguy hiểm với quân thù
* Núi rừng VB là thành lũy đánh giặc:
Nghệ thuật nhân hóa, tiểu đối: núi rừng biết căm thù, biết đánh giặc, biết chở che -> Tố Hữu đi sâu
lí giải những cội nguồn đã làm nên chiến thắng: Đó không chỉ là sức mạnh của lòng căm thù:
“Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”, là sức mạnh của tình nghĩa thuỷ chung: “Mình đây ta
đó đắng cay ngọt bùi” mà còn là sức mạnh của tinh thần đoàn kết.
Khối đại đoàn kết toàn dân (“Đất trời ta cả chiến khu một lòng”), sự hoà quyện gắn bó giữa con
người với thiên nhiên (Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây): tất cả tạo thành hình ảnh một đất nước đứng lên tiêu diệt kẻ thù.
* Khung cảnh VB chiến đấu:
- Bức tranh Việt Bắc ra quân thật hùng vĩ :
Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung.
Quân đi điệp điệp trùng trùng.
Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.
Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước đi nát đá, muôn tàn lửa bay.
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.
+ Không khí chiến đấu sôi nổi hào hùng, khí thế hừng hực trào sôi Sức mạnh của quân ta làm rungchuyển cả trời đất Những hình ảnh không gian núi rừng rộng lớn, những âm thanh dồn dập qua các
từ láy (rầm rập, điệp điệp, trùng trùng), biện pháp so sánh (như là đất rung), lối nói thậm xưng cường điệu (bước chân nát đá), biện pháp đối lập (Nghìn đêm … >< … mai lên), những động từ (rấm rập, đất rung, lửa bay)
+ Hình ảnh người chiến sĩ được gợi lên qua chi tiết giàu chất tạo hình: “ Ánh sao đầu mũ bạn cùng
mũ nan”-> ánh sáng của sao dẫn đường, ánh sáng của niềm tin, của lí tưởng Hình ảnh đoàn dân
công: sức mạnh của quần chúng nhân dân thật hùng vĩ Thành ngữ “Chân cứng đá mềm” đã được
nâng lên thành một bước cao hơn “Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay” Chiến công tưng bừng
vang dội khắp nơi: Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên, đèo De, núi Hồng… Niềm vui chiến thắng chan
hoà bốn phương: Vui từ…vui về…vui lên…Nhịp điệu thơ sôi nổi, dồn dập xua tan vẻ âm u, hiu hắt
của núi rừng và khơi dậy sức sống của TN và con người, ấm hưởng hào hùng náo nức tạo thànhkhúc ca chiến thắng
Diễn tả được khí thế hào hùng của cuộc kháng chiến chống Pháp: không khí sôi động với nhiềulực lượng tham gia, những hoạt động tấp nập… thể hiện được sức mạnh của cả một dân tộc đứnglên chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc Dân tộc ấy vượt qua bao khó khăn, thử thách, hi sinh đểđem về những kì tích, chiến công gắn liền với những địa danh lịch sử
=> Đoạn thơ giàu chất sử thi và lãng mạn về khí thế kháng chiến và qua đó khắc hoạ dân tộc VN anh hùng trong kháng chiến, dù gian khổ nhưng nhất định thắng lợi.
c Vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến:( Mười sáu câu cuối)
- VB là quê hương cách mạng, nơi hội tụ niềm tin và hi vọng của mọi người
+ Việt Bắc là quê hương của cách mạng, là căn cứ địa vững chắc, là đầu não của cuộc kháng chiến,nơi hội tụ tình cảm, suy nghĩ, niềm tin và hi vọng của mọi người Việt Nam yêu nước
+ Việt Bắc là chiến khu kiên cường, nơi nuôi dưỡng bao sức mạnh đấu tranh, nơi khai sinh nhữngđịa danh mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc
Trang 23“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
- Trước những năm kháng chiến, VB với “ mưa nguồn … cùng mù” thì bây giờ là chiến khu kiêncường, nuôi dưỡng bao sức mạnh, nơi khai sinh những địa danh lịch sử dân tộc:
“ Mình về, còn nhớ núi non…
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.”
- “Ở đâu u ám quân thù, Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi
Ở đâu đau đớn giống nòi, Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.
Mười lăm năm ấy, ai quên Quê hương Cách mạng dựng nên cộng hoà”
+ Khẳng định Việt Bắc là nơi có “Cụ Hồ sáng soi”, có “Trung ương chính phủ luận bàn việc công”
+ Khẳng định niềm tin yêu của cả nước với Việt Bắc bằng những vần thơ mộc mạc, giản dị mà thắmthiết nghĩa tình
=> Cách thể hiện bằng những vần thơ mộc mạc, giản dị mà thắm thiết nghĩa tình
Đoạn thơ phác họa hình ảnh giản dị mà trang trọng của một cuộc họp Chính phủ trong hang núi màvẫn rực rỡ dưới ánh cờ đỏ sao vàng trong nắng trưa và kết thúc bằng sự thâu tóm hình ảnh Việt Bắcquê hương cách mạng, đầu não của cuộc kháng chiến, nơi đặt niềm tin tưởng và hy vọng của conngười Việt Nam từ mọi miền đất nước, đặc biệt là những nơi còn “u ám quân thù”
III TỔNG KẾT:
1.Nghệ thuật:
- Thể thơ lục bát truyền thống được vận dụng tài tình Giọng thơ tâm tình, ngọt ngào tha thiết, đậm
đà tính dân tộc (Cấu tứ ca dao với hai nhân vật trữ tình ta và mình)
- Sử dụng lối kết cấu đối đáp trong ca dao dân ca truyền thống, giàu nhạc điệu như những câu hát giao duyên Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, đậm sắc thái dân gian gần gũi với lời ăn tiếng nói của
nhân dân Sử dụng nhuần nhuyển phép trùng điệp của ngôn ngữ dân gian, những hình ảnh so sánh
ví von, gần với lời ăn tiếng nói của dân tộc
2 Nội dung:
- Việt Bắc là khúc hùng ca vừa là khúc tình ca về CM, về cuộc kháng chiến và con người kháng
chiến Bài thơ còn là lời nhắn nhủ của Tố Hữu : hãy nhớ mãi và phát huy truyền thống quý báu anh hùng bất khuất, ân nghĩa thủy chung của CM, của con người VN.
- Bài thơ viết về cuộc kháng chiến chống Pháp trường kì gian khổ nhưng rất đỗi anh hùng của dântộc, tái hiện rõ nét thiên nhiên và con người Việt Bắc, thể hiện tình cảm giữa người cán bộ và nhândân, một tình cảm cách mạng có tính cội nguồn là tình cảm yêu nước, ân tình thủy chung trongtruyền thống đạo lý dân tộc
Tóm lại, tiếng thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu đã mượn được hình thức cấu tứ giã bạn,
kết cấu theo lối đối đáp giao duyên và thể loại lục bát đậm đà tính dân tộc Nhờ vậy Tố Hữu đã thơhoá sự kiện chính trị một cách hiệu quả không ngờ Những câu thơ cân xứng trầm bổng, ngọt ngàovừa thể hiện được tình cảm đối với cách mạng, vừa nói được vấn đề rất to lớn của thời đại, vừachạm được vào chỗ sâu thẳm trong tâm hồn dân tộc: truyền thống ân nghĩa, thủy chung Việt Bắc đãđạt tới tính dân tộc, tính đại chúng Đó là sức sống trường tồn của bài thơ
ĐẤT NƯỚC
( Trích trường ca Mặt đường khát vọng - NGUYỄN KHOA ĐIỀM )
I GIỚI THIỆU CHUNG:
1 Tác giả:
- Nguyễn Khoa Điềm, sinh năm 1943, tại Thừa Thiên Huế Xuất thân trong gia đình trí thức có
truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng Năm 1964, tốt nghiệp khoa Văn trường Đại học sư
phạm Hà Nội và tham gia phong trào sinh viên học sinh ở Huế Sau đó trở về miền Nam tham giachiến đấu và hoạt động văn nghệ đến 1975 Hiện nay: nghỉ hưu ở Huế, tiếp tục làm thơ
Trang 24“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
- Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu cho thế hệ các nhà thơ trẻ trưởng
thành trong những năm kháng chiến chống Mĩ Thơ ông giàu chất suy tư, cảm xúc dồn nén, mang màu sắc trữ tình chính luận, thể hiện ý thức trách nhiệm của tuổi trẻ đối với đất nước trong cuộc chiến đấu chống Mỹ
- Năm 2000 ông được trao giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật
- Tác phẩm chính: Đất ngoại ô (Tập thơ, 1972), Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974), Ngôi nhà
có ngọn lửa ấm (thơ, 1986), Thơ Nguyễn Khoa Điềm (tuyển chọn, 1990), Cõi lặng (thơ, 2007)…
2 Tác phẩm:
a Xuất xứ - hoàn cảnh sáng tác:
- Đoạn trích “Đất Nước” nằm ở phần đầu chương V của trường ca “Mặt đường khát vọng”, thể
hiện tư tưởng cơ bản nhất của tác phẩm “Đất nước này là của nhân dân” Trường ca “Mặt đường khát vọng” đã được hoàn thành ở chiến khu Trị - Thiên 1971, xuất bản đầu năm 1974 Bản trường
ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng địch tạm chiếm ở miền Nam, nhận rõ bộ mặt xâmlược của Mỹ, hướng về nhân dân đất nước, ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình, đứng dậy xuốngđường đấu tranh hòa hợp với cuộc chiến đấu của dân tộc
- Đoạn trích được xem là đoạn thơ hay về đề tài quê hương đất nước của thơ ca Việt Nam hiện đại,thuộc thể loại: trường ca (có sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình)
b Bố cục đoạn trích : 2 phần
- Phần 1: Từ đầu đến Làm nên đất nước muôn đời: Những nét riêng trong cảm nhận về đất nước
của Nguyễn Khoa Điềm
- Phần 2: Còn lại: Tư tưởng “Đất nước của Nhân dân”
c Chủ đề: Bằng sự vận dụng đầy sáng tạo hình thức thơ trữ tình- chính trị, đoạn trích Đất Nước đã
quy tụ mọi cảm nhận, mọi cái nhìn và vốn liếng sách vở cũng như những trải nghiệm cá nhân củangười nghệ sĩ để làm nên một tuyên ngôn về tư tưởng, về nhận thức của cả một thế hệ nghệ sĩ, ấy là
tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân”
II ĐỌC-HIỂU VĂN BẢN:
1.Phần 1 : Từ đầu đến Làm nên đất nước muôn đời: Những nét riêng trong cảm nhận về đất
nước của Nguyễn Khoa Điềm
Nguyễn Khoa Điềm (1943) thuộc thế hệ nhà thơ chống Mỹ cứu nước.Đất nước, nhân dân, cáchmạng luôn là nguồn cảm hứng phong phú của thơ ông “Đất nước” là một đoạn trích thuộc chương
V trong bản trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm, sáng tác năm 1971, tạichiến trường Bình Trị Thiên
a Chín câu của đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do, hình ảnh thơ giàu sức liên tưởng…, nhà thơ giúp cho người đọc có những suy nghĩ, cảm nhận về cội nguồn và sự hình thành của Đất nước một cách sâu sắc:
“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
………
Đất Nước có từ ngày đó ”
Là những cảm nhận sâu sắc của nhà thơ về sự sinh thành và phát triển của Đất nướcqua nhữnghình tượng cụ thể, sinh động, gợi cảm sôi nổi và thiết tha
* Trước hết, ở hai câu thơ đầu của đoạn thơ, Tác giả đi tìm sự lý giải về sự sinh thành của đất
nước Đất nước có từ bao giờ ? Để trả lời cho câu hỏi này, nhà thơ đã viết :
“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi,
Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”
- Tham vọng tính tuổi của Đất nước của nhà thơ thật khó bởi chính cái “ngày xửa ngày xưa”
( thời gian nghệ thuật thường thấy trong truyện cổ tích) có tính phiếm chỉ, trừư tượng, không xác định Đó là thời gian huyền hồ, hư ảo, thời gian mang màu sắc huyền thoại Song chính ở “cái ngày
xửa ngày xưa” đó, nhà thơ đã giúp cho chúng ta nhận thức được :Đất Nước đã có từ rất lâu, rất xa,
từ bao giờ chẳng biết Chỉ biết rằng : khi ta cất tiếng khóc chào đời, thì Đất Nước đã hiện hữu
Trang 25“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
- Không dừng lại ở khát vọng đo đếm tuổi của đất nước, nhà thơ còn nỗ lực hình dung về khởi đầu và quá trình trưởng thành của đất nước :
“Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn,
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”
Phải chăng, khởi thủy của đất nước là văn hóa được kết tinh từ tâm hồn và tính cách anh hùng của con người Việt Nam Ở đây,hình ảnh “miếng trầu” đã là một hình tượng nghệ thuật giàu
tính thẩm mỹ từng xuất hiện trong các câu chuyện cổ tích,ca dao,tục ngữ.Bởi lẽ,“miếng trầu”là hiện
thân của tình yêu thương, lòng thủy chungcủa tâm hồn dân tộc.Từ truyền thuyết dân gian đến tác
phẩm thơ văn hiện đại, cây tre đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh tinh thần dân tộc quật cường
đánh giặc cứu nước và giữ nước
- Và còn nữa, trong quá trình trưởng thành, đất nước còn gắn liền với với đời sống văn hóa tâm linh, bằng phong tục tập quán lâu đời còn truyền lại và bằng chính cuộc sống lao động cần cù vất vả của nhân dân :
“Tóc mẹ búi sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên,
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần ,sàng…”
+ Đoạn thơ, bằng những ý thơ giàu sức liên tưởng , nhà thơ đã đưa người đọc trở về với những
nét đẹp văn hóa một thời của người phụ nữ Việt Nam bằng hình ảnh “tóc mẹ búi sau đầu”, gợi tả
một nét đẹp thuần phong mỹ tục của người Việt; và những câu ca dao xưa ca ngợi vẻ đẹp đậm tình
nặng nghĩa trong cuộc sống vợ chồng “cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”.
+ Không những vậy, hình ảnh thơ còn thể hiện sự cảm nhận về đất nước gắn với nền văn hóanông nghiệp lúa nước, lấy hạt gạo làm gia bản…
=> Có thể nói, đoạn thơ mở đầu trả lời cho câu hỏi về cội nguồn đất nước - một câu hỏi quen thuộc, giản dị bằng cách nói cũng rất giản dị, tự nhiên nhưng cũng rất mới lạ : nhà thơ không tạo
ra khỏang cách sử thi để chiêm ngưỡng và ca ngợi đất nước hoặc dùng những hình ảnh mĩ lệ , mang tính biểu tượng để cảm nhận và lý giải , mà dùng cách nói rất đỗi giản dị,tự nhiên với những gì gần gũi , thân thiết , bình dị nhất.
- Giọng thơ thâm trầm, trang nghiêm; cấu trúc thơ theo lối tăng cấp : Đất nước đã có; Đất Nước bắt đầu; Đất Nước lớn lên; Đất Nước có từ… giúp cho người đọc hình dung cả quá trình sinh ra,
lớn lên, trưởng thành của đất nước trong thời gian trường kỳ của con người Việt Nam qua bao thế
hệ Đặc biệt là cách nhà thơ viết hoa hai từ Đất Nước ( vốn là một danh từ chung) cũng đã giúp tacảm nhận tình yêu và sự trân trọng của nhà thơ khi nói về đất nước , quê hương của mình
- Tóm lại, chín câu thơ mở đầu cho đoạn trích “Đất Nước” đã thật sự để lại những ấn tượng và cảm
xúc sâu sắc cho người đọc về sự sinh thành và trưởng thành của đất nước Bởi lẽ, đoạn thơ đã giúp
cho tất cả mọi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, những ai mà còn có những nhận thức mơ hồ về đất nước
mình thật sự phải suy gẫm Bởi lẽ, đoạn thơ còn cho chúng ta hiểu được đất nước thật thân thương
và gần gũi biết nhường nào Từ đó đoạn thơ bồi dưỡng thêm cho chúng ta về tình yêu đất nước, quêhương mình và biến tình yêu ấy bằng thái độ, hành động dựng xây , bảo vệ đất nước
b Có thể nói, bằng giọng thơ sôi nổi thiết tha,hình ảnh thơ sinh động và gợi cảm…đoạn thơ sau trong “Đất Nước” có thể xem như là những định nghĩa về đất nước thật mới mẻ và độc đáo của nhà thơ :
“ Đất là nơi anh đến trường
……….
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ”.
- Nếu như chín câu thơ đầu của đoạn thơ là sự trả lời của nhà thơ cho câu hỏi : Đất nước có từ bao giờ? Thì ở 16 câu thơ này, nhà thơ tiếp tục bày tỏ sự cảm nhận của mình về đất nước để trả lời cho
câu hỏi : Đất nước là gì ?
- Câu hỏi đã được nhà thơ trả lời bằng cách nêu ra những định nghĩa về đất nước ở hai
phương diện : không gian địa lý và thời gian lịch sử
Trang 26“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
+ Trước hết, về không gian địa lý, đất nước là nơi sinh sống của mỗi người :
“ Đất là nơi anh đến trường,
Nước là nơi em tắm”.
+ Không những vậy , đất nước còn là nơi tình yêu lứa đôi nảy nở say đắm, thiết tha Đó là “ nơi
em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” Đất nước còn là núi sông, rừng bể,là“hòn núi bạc”,là
“nước biển khơi”.Và còn nữa, đất nước còn không gian sinh tồn của cộng đồng qua nhiều thế hệ với
“những ai đã khuất…những ai bây giờ…”
+ Cùng với cách cảm nhận về đất nước ở phương diện không gian địa lý, nhà thơ còn cảm
nhận đất nước ở phương diện thời gian lịch sử Ở phương diện này, đất nước có cả chiều sâu và
bề dày được nhận thức từ huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ, từ truyền thuyết Hùng Vương vàngày giỗ Tổ
* Đoạn thơ với cấu trúc ngôn ngữ “ Đất là…, Nước là…Đất Nước là…” , nhà thơ đã định nghĩa bằng cách tư duy “chiết tự” để giải thích, cắt nghĩa hai tiếng Đất Nước thiêng liêng bằng tinh thần luận lí chân xác.Nếu tách ra làm những thành tố ngôn ngữ độc lập thì Đất và Nước chỉ có ý nghĩa
là không gian sinh tồn về mặt vật chất của con người cá thể.Nhưng nếu hợp thành một danh từ thì
“Đất Nước” lại có ý nghĩa tinh thần thiêng liêng, chỉ không gian sinh sống của cả một cộng đồng
người như anh em một nhà
=> Tóm lại, bằng cách sử dụng sáng tạo các yếu tố ca dao, truyền thuyết dân gian nhà thơ đã
lý giải một cách sinh động , cụ thể cho câu hỏi : Đất nước là gì? Từ đó , hình ảnh đất nước hiện
lên qua đoạn thơ vừa gần gũi - cụ thể, vừa thiêng liêng- khái quát trên cả bề rộng không gian
địa lý mênh mông và thời gian lịch sử đằng đẵng của dân tộc
- Có thể nói, đoạn thơ là những định nghĩa đa dạng, phong phú về đất nước từ chiều sâu văn hóa
dân tộc, xuyên suốt chiều dài của thời gian lịch sử đến chiều rộng của không gian đất nước
- Nhà thơ cũng vận dụng rộng rãi các chất liệu văn hóa dân gian để cảm nhận và định nghĩa vềđất.Từ đó , đoạn thơ giúp cho chúng ta hiểu và gắn bó hơn với đất nước, quê hương mình bằng mộttình yêu và ý thức trách nhiệm sâu sắc
c Đoạn thơ sau đây là những lời nhắn nhủ tâm tình về sự gắn bó và trách nhiệm của mỗi người với đất nước :
“ Trong anh và em hôm nay,
Đều có một phần Đất Nước
………
Làm nên Đất Nước muôn đời”.
- Thật vậy, sau những cảm nhận mới mẻ và sâu sắc của nhà thơ về đất nước qua những phương diện
không gian- địa lý, thời gian- lịch sử,phong tục- văn hóa …, Nguyễn Khoa Điềm đã đi đến khẳngđịnh :
“ Trong anh và em hôm nay,
- Từ việc khẳng định: đất nước hóa thân và kết tinh trong cuộc sống của mỗi người, nhà thơ tiếp
tục nói về mối quan hệ gắn bó sâu sắc của mỗi người với đất nước bằng những dòng thơ giàu
chất chính luận :
“Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn, to lớn”.
- Với những cảm nhận tinh tế, mới mẻ về sự hòa quyện giữa cái riêng và cái chung, giữa tình yêu
và niềm tin, đồng thời kết hợp sử dụng các tính từ “hài hòa, nồng thắm”; “vẹn tròn, to lớn” đi liền
Trang 27“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
nhau; đặc biệt là kiểu câu cấu tạo theo hai cặp đối xứng về ngôn từ (“Khi /Khi; Đất Nước / Đất
Nước),nhà thơ muốn gửi đến cho người đọc bức thông điệp: đất nước là sự thống nhất hài hòa
giữa tình yêu đôi lứa với tình yêu Tổ quốc, giữa cá nhân với cộng đồng
-Không chỉ khẳng định mối quan hệ gắn bó giữa Đất nước và nhân dân, giữa tình yêu cá nhân với tình yêu lớn của đất nước; nhà thơ còn thể hiện niềm tin mãnh liệt vào tương lai tươi sáng của
đất nước :
“Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
- Khi đã hiểu hết ý nghĩa thiêng liêng của đất nước, nhà thơ muốn nhắn gửi với mọi người :
“ Em ơi em Đất nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời…”
=> Bằng giọng văn trữ tình kết hợp với chính luận; bằng cách sử dụng câu cầu khiến, điệp ngữ
“phải biết - phải biết” nhắc lại hai lần cùng các động từ mạnh “gắn bó, san sẻ, hóa thân” …nhà thơ
như nhắn nhủ mình, nhưng cũng là nhắn nhủ với mọi người ( nhất là thế hệ trẻ) về trách nhiệm thiêng liêng của mình với đất nước Cái hay là lời nhắn nhủ mang tính chính luận nhưng lại
không giáo huấn mà vẫn rất trữ tình, tha thiết như lời tự dặn mình - dặn người của nhà thơ
- Tóm lại, đây là một trong những đoạn thơ hay và sâu sắc trong “Đất Nước” của Nguyễn Khoa
Điềm Bởi lẽ, qua đoạn thơ, nhà thơ đã giúp cho chúng ta hiểu hơn về sự gắn bó giữa mỗi người vớiđất nước.Từ đó, ý thức hơn về trách nhiệm của mỗi người với đất nước quê hương
- Đồng thời, đoạn thơ cũng giúp ta thấy được vẻ đẹp trong phong cách thơ trữ tình- chính luận củanhà thơ
2.Phần 2 : Tư tưởng “Đất nước của Nhân dân”
a Đoạn thơ sau đây là sự khẳng định của nhà thơ về vai trò của nhân dân trong việc làm nên không gian địa lý - bức tranh văn hóa đất nước muôn màu muôn vẻ :
“ Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi vọng phu,
………
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”.
- Thật vậy, đây là 12 câu thơ mở đầu phần hai của đoạn thơ “Đất Nước” với nội dung ngợi ca,
khẳng định tư tưởng đất nước của nhân dân
- Trước hết, tác giả nêu ra một cách nhìn mới mẻ, có chiều sâu địa lý về những danh lam thắng
cảnh trên khắp các miền đất nước Nhà thơ đã kể, liêt kê một loạt kì quan thiên nhiên trải dài trên
lãnh thổ từ Bắc vào Nam như muốn phác thảo tấm bản đồ văn hóa đất nước Đây là những danh lamthắng cảnh do bàn tay tự nhiên kiến tạo nhưng từ bao đời nay, ông cha ta đã phủ cho nó tính cách,tâm hồn, lẽ sống của dân tộc Những ngọn núi, những dòng sông kia chỉ trở thành thắng cảnh khi nógắn liền với con người, được cảm thụ qua tâm hồn, qua lịch sử dân tộc
+ Trong thực tế, bao thế hệ người Việt đã tạc vào núi sông vẻ đẹp tâm hồn yêu thương thủy chung
để ta có những “núi Vọng Phu”, những “hòn Trống mái” như những biểu tượng văn hóa Hay vẻ đẹp lẽ sống anh hùng của dân tộc trong buổi đầu giữ nước để ta có những “ao đầm”…như những di
tích lịch sử về quá trình dựng nước và giữ nước hào hùng…
“ Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên
Con cóc, con gà quê hương cũng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh”
Trang 28“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
+ Thật sự, nếu không có những người vợ mòn mỏi chờ chồng cả thời chinh chiến thì không có
sự cảm nhận về núi Vọng Phu.Cũng như nếu không có truyền thuyết Hùng Vương dựng nước thì
không thể có sự cảm nhận nét hùng vĩ của núi đồi quanh đền Hùng.Nói cách khác, những núi Vọng
Phu, những hòn Trống Mái, những núi Bút, non Nghiên không còn là những cảnh thiên nhiên
thuần túy nữa, mà được cảm nhận thông qua những cảnh ngộ, số phận của nhân dân, được nhìn nhận như là những đóng góp của nhân dân, sự hóa thân của những con người không tên, không tuổi.
- Thiên nhiên đất nước, qua cái nhìn của Nguyễn Khoa Điềm, hiện lên như một phần tâm hồn, máuthịt của nhân dân Chính nhân dân đã tạo dựng nên đất nước này,đã đặt tên, ghi dấu vết cuộc đờimình lên mỗi ngọn núi, dòng sông, tấc đất này.Từ những hình ảnh, những cảnh vật, hiện tượng cụthể, nhà thơ đã “quy nạp” thành một khái quát sâu sắc:
“Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…”.
=> Với cấu trúc quy nạp ( đi từ liệt kê các hình ảnh, địa danh…đến khái quát mang tính triết
lý) , dường như nhà thơ không thể kể ra hết những danh lam thắng cảnh và những nét đẹp văn hóa
dân tộc vô cùng phong phú, đa dạng trên khắp đất nước.Nên cuối cùng, nhà thơ đã khẳng
định : trên không gian địa lý đất nước, mỗi địa danh đều là một địa chỉ văn hóa được làm nên bằng sự hóa thân của bao cuộc đời, bao tâm hồn người Việt.
- Tóm lại, đoạn thơ thể hiện được đặc điểm tiêu biểu của trường ca “Mặt đường khát vọng” củaNguyễn Khoa Điềm : chất chính luận hài hòa chất trữ tình, giọng thơ tự sự ; ngôn từ, hình ảnh đẹp,giàu sức liên tưởng Viết về đề tài đất nước - một đề tài quen thuộc, nhưng thơ Nguyễn Khoa Điềmvẫn mang những nét riêng, mới mẻ, sâu sắc Những nhận thức mới mẻ về vai trò của nhân dântrong việc làm nên vẻ đẹp của đất nước ở góc độ địa lý-văn hóa càng gợi lên lòng yêu nước, tinhthần trách nhiệm với đất nước cho mỗi người
b Sự khẳng định của nhà thơ về vai trò của nhân dân trong việc làm nên lịch sử và truyền thống dựng nước và giữ nước:
“ Em ơi em
Hãy nhìn rất xa
………
Có nội thù thì vùng lên đánh bại”.
- Thật vậy, sau khi đã khẳng định vai trò của nhân dân làm nên bức tranh địa lý- văn hóa muôn
màu muôn vẻ, nhà thơ tiếp tục baỳ tỏ những suy tư, nhận thức của mình về vai trò của nhân dân
trong việc làm ra lịch sử và truyền thống của đất nước.
+ Trước hết, nghĩ về bốn ngàn năm của đất nước, nhà thơ đã nhận thức được một sự thật đó là :
người làm nên lịch sử không chỉ là những anh hùng nổi tiếng mà còn là những con người vô danh bình dị.Thật sự trong bề dày bốn ngàn năm dựng nước, giữ nước, có biết bao thế hệ cha anh
dũng cảm, chiến đấu, hy sinh và trở thành anh hùng mà tên tuổi của họ “cả anh và em đều nhớ”:
“ Nhiều người đã trở thành anh hùng
Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ”
+ Nhưng cũng có hàng triệu , hàng triệu người cũng trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất
nước đã ngã xuống , họ đã “sống và chết, không ai nhớ mặt đặt tên”, nhưng tất cả, họ đều có công “ làm ra Đất Nước” Có thể nói, đây là một quan niệm mới mẻ về đất nước của nhà thơ.Và từ
quan niệm này, Nguyễn Khoa Điềm đã hết lời ca ngợi và tôn vinh lòng yêu nước của nhân dân :
“Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con
Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh…”.
+ Với tư tưởng “Đất Nước của nhân dân”, tác giả đã khẳng định tất cả những gì do nhân dân làm ra, những gì thuộc về nhân dân như “hạt lúa, ngọn lửa, giọng nói, tên xã tên làng”…cũng
Trang 29“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ như chính những con người vô danh bình dị đóđã góp phần giữ và truyền lại cho thế hệ sau mọi giá trị văn hóa, văn minh tinh thần và vật chất của đất nước Chính họ đã tạo dựng nền móng sự sống cho đất nước, cho nhân dân.Không những vậy, họ còn luôn sẵn sàng vùng lên chống ngoại xâm, đánh nội thù để giữ gìn sự sống đó và bảo vệ đất nước thân yêu của mình.
“Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái
Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại”.
Ở đây, nhận thức về đất nước và lòng yêu nước của nhà thơ đã gắn liền với lòng biết ơn
nhân dân, bởi nhân dân mới là những chủ thể đích thực làm ra đất nước và bảo vệ đất nước
- Tóm lại, với hình ảnh thơ giản dị, mộc mạc, giọng thơ vừa tự sự vừa trữ tình…đoạn thơ vừa
là lời tâm tình,vừa là lời nhắn nhủ của nhà thơ với tất cả mọi người phải nhận thức đúng vai trò tolớn của nhân dân trong việc làm nên truyền thống lịch sử, văn hóa của đất nước bằng chính lòngbiết ơn của mình
- Chủ đề về đất nước, quê hương không phải là một chủ đề mới lạ trong văn học Việt Nam.Bởi
lẽ, trước Nguyễn Khoa Điềm đã có nhiều bài thơ về đất nước của nhiều nhà thơ có tên tuổi…Nhưng,có thể nói “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm đã khẳng định được vai trò to lớn của nhândân với đất nước một cách dễ hiểu, dễ cảm, dễ nhớ và sâu sắc
- Đoạn thơ đã thức tỉnh được nhận thức của tuổi trẻ Miền Nam thời chống Mỹ và tuổi trẻ hômnay khi họ đang lún sâu vào lối sống ngoại lai Từ đó, đoạn thơ đã làm sống lại truyền thống yêunước hào hùng trong mỗi chúng ta
Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”
- Có thể nói, “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm là một khúc ca - sự nhận thức về nguồn gốc sâu
xa của nhà thơ về đất nước về trí tuệ, tâm hồn và ý chí của nhân dân.Để từ đó, nhà thơ khẳng định :Nhân dân chính là người – là chủ thể làm nên đất nước
Trước hết, câu thơ mở đầu đoạn thơ “ Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân” chính là sự thể
hiện cảm hứng chủ đạo bao trùm lên tòan đoạn trích và cả Chương V của bản trường ca “Mặt đường khát vọng” Đây chính là lời kết, là sự khái quát từ những gì đã được nhà thơ triển khai trên
cả chiều dài của trang thơ và trong cả chiều sâu của dòng cảm hứng trữ tình- chính luận
- Nhân dân sáng tạo ra mọi giá trị văn hóa như ca dao, thần thoại.Như vậy cũng chính là đã sáng tạo
ra đất nước Để khẳng định điều này, Nguyễn Khoa Điềm đã lấy ý từ ba câu ca dao có nội dung sâu
sắc để nói về ba phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhân dân :
“Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi”
Biết quý công cầnm vàng những ngày lặn lội
Biết trồng tre đợi ngày thành gậy
Đi trả thù mà không sợ dài lâu”.
+ Đó là vẻ đẹp giàu lòng yêu thương ân tình của người Việt đã bắt nguồn từ thời xa xưa với
những lời dân ca ngọt ngào “Yêu em từ thuở trong nôi,
Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru”
+ Và đó là vẻ đẹp của lối sống đậm nghĩa, vẹn tình, quý trọng tình nghĩa hơn cả vật chất ngàn
vàng Ở đây, ý thơ của nhà thơ được gợi lên từ chính những câu ca dao một thời đi vào đời sống tâmhồn của dân tộc :
“ Cầm vàng mà lội qua sông
Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng”
+ Và đó còn là sự thể hiện của truyền thống kiên cường, bất khuất của trong quá trình đấu tranh
chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta.Vẻ đẹp của truyền thống anh hùng ấy cũng được làm nên từnhững câu ca dao từng ca ngợi tinh thần quật khởi của dân tộc :
Trang 30“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
“ Thù này ắt hẳn cịn lâu
Trồng tre nên gậy , gặp đâu đánh què”
- Từ đĩ cĩ thể khẳng định: nhân dân đã làm ra văn hĩa, làm ra đất nước bằng chính tinh cách, lẽ
sống tâm hồn mình Cĩ thể nĩi, tuổi trẻ thế hệ Nguyễn Khoa Điềm đã nhận thức được một cách sâu
sắc Nhân dân là người làm nên lịch sử, làm ra văn hĩa đất nước bằng tất cả tình cảm trân trọng vàyêu thương Suy tư và nhận thức này của nhà thơ là tư tưởng nghệ thuật đã trở thành truyền thốngtrong văn học Việt Nam.Từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu …đã từng nĩi lênnhận thức về vai trị của nhân dân trong lịch sử.Đến các nhà thơ, nhà văn trong thời kì kháng chiếnchống Pháp, chống Mỹ , nhận thức ấy đã được nâng lên thành một tư tưởng cĩ tầm cao mới
- Bằng giọng thơ nhẹ nhàng, tha thiết, trang trọng; ý thơ giàu chất chính luận, ngơn ngữ thơ mộc mạc, cách sử dụng sáng tạo chất liệu văn hĩa, văn học dân gian…từ những suy tư cảm xúc của nhà thơ, đoạn thơ đã khắc sâu cho chúng ta những nhận thức sâu sắc và mới mẻ về đất nước nhân dân.
Từ đĩ, đoạn thơ bồi dưỡng thêm tình yêu Tổ quốc và niềm tự hào về con người Việt Nam cho mỗi
người, đặc biệt là thế hệ trẻ trong thời đại hơm nay
2 Nội dung :
- Đoạn trích thể hiện cảm nghĩ mới mẻ của tác giả về đất nước qua những vẻ đẹp được phát hiện ởchiều sâu trên nhiều bình diện : lịch sử, địa lí, văn hĩa,
- Đĩng gĩp riêng của đoạn trích là ở sự nhấn mạnh tư tưởng " Đất Nước của Nhân dân” Đất Nước
là sự hội tụ và kết tinh bao cơng sức và khát vọng của nhân dân Nhân dân là người làm ra đất nước
Nhìn chung, Đất nước là đề tài, cảm hứng chủ đạo của thơ ca kháng chiến chống Mĩ Mỗi
nhà thơ lại cĩ cảm nhận riêng về Đất nước nhưng tất cả đều xuất phát từ tấm lịng chung đĩ là tìnhyêu thiết tha với quê hương đất nước Từ thực tiễn của cuộc kháng chiến chống Mĩ, Nguyễn KhoaĐiềm nhận thức sâu sắc vai trị và sự đĩng gĩp to lớn, những hi sinh vơ vàn của nhân dân trong cuộcchiến tranh dài lâu và cực kì ác liệt này Tư tưởng đất nước của nhân dân từ trong văn học truyềnthống đã được Nguyễn Khoa Điềm phát triển đến đỉnh cao, mang tính dân chủ sâu sắc Chất liệu vănhĩa dân gian được nhà thơ sử dụng nhuần nhuyễn, biến ảo đầy sáng tạo chính là nét đặc sắc thẩm mĩthống nhất với tư tưởng “đất nước của nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại” của bài thơ Nhưvậy tác giả đã vượt qua tính thời sự của một thời để nĩi lên tiếng nĩi của muơn đời
Văn bản: SĨNG - Xuân Quỳnh
“Đến Xuân Quỳnh, thơ hiện đại Việt Nam mới cĩ một tiếng nĩi bày tỏ trực tiếp những khát khao tình yêu vừa hồn nhiên chân thực, vừa mãnh liệt sơi nổi của một trái tim phụ nữ”.
I GIỚI THIỆU CHUNG:
1.Tác giả:
- Xuân Quỳnh ( 1942-1988 ) tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, quê ở Hà Tây
- Xuất thân trong một gia đình cơng chức, mồ cơi mẹ từ nhỏ, sống với bà nội ở Hà Nội
- Là người phụ nữ đa tài: Từng làm diễn viên múa, làm báo, biên tậpviên nhà xuất bản, ủy viên Ban chấp hành Hội nhà văn ViệtNam
- Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ trẻ trưởng thành trong thời kì chống Mĩ Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lịng của một tâm hồn nhiều trắc ẩn, gắn bĩ thiết tha với con người ,với cuộc
Trang 31“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
đời , khao khát tình yêu và trân trọng hạnh phúc bình dị đời thường Thơ tình yêu là mảng đặc sắc và rất tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Quỳnh.
- 2001 Xuân Quỳnh được trao giải thưởng Nhà nước về Văn hoc nghệ thuật
- Tác phẩm chính: Tơ tằm - Chồi biếc(1963), Hoa dọc chiến hào(1968), Gió Lào cát trắng(1974),
Sân ga chiều em đi (1984), Hoa cỏ may (1989)… Truyện thơ: Truyện Lưu Nguyễn (1985)
2.Văn bản:
a Hoàn cảnh ra đời:
-Bài thơ “Sóng” được Xuân Quỳnh viết vào ngày 29/12/1967, trong chuyến đi công tác vùng biển Diêm Điền (Thái Bình) Trước khi Sóng ra đời, Xuân Quỳnh đã phải nếm trải những đổ vỡ trong
tình yêu Đây là bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách thơ Xuân
Quỳnh Tác phẩm được in trong tập “Hoa dọc chiến hào ” xuất bản năm 1968
b.Ý nghĩa hình tượng sóng :
- “Sóng” là hiện tượng ẩn dụ của tâm trạng người phụ nữ đang yêu Sóng là một sự hòa nhập và
phân thân của nhân vật trữ tình “ em” “Sóng” là “em” và “em” cũng là “Sóng” Hai hình tượng này
tuy hai mà một, có lúc tách đôi ra để soi chiếu cho nhau, có lúc lại hòa nhập vào nhau để tạo ra sựcộng hưởng Hai hình tượng ấy đan cài, quấn quýt với nhau như hình với bóng Nhà thơ đã sáng tạohình tượng sóng khá độc đáo nhằm thể hiện những cung bậc tình cảm và tâm trạng của người phụ
nữ đang yêu Cả bài thơ được kiến tạo bằng thể thơ 5 chữ với một âm hưởng đều đặn, luân phiênnhư nhịp vỗ của sóng
c Bố cục: 3 đoạn
Đoạn 1 ( Hai khổ đầu): Quy luật tự nhiên của Sóng biển, của Tình yêu trong em
Đoạn 2 (5 khổ giữa): Những biểu hiện (đặc điểm) của Sóng , của Em trong tình yêu
Đoạn 3 (2 khổ cuối ): Khát vọng tình yêu vĩnh cửu của Em
d Chủ đề: Bài thơ cho thấy trái tim người phụ nữ đang yêu soi mình vào sóng để thấy lòng mình,
nhờ sóng mang tâm trạng của mình đến với đại dương, cuộc đời và biển lớn tình yêu
II TÌM HIỂU BÀI THƠ :
Xuân Quỳnh là nhà thơ nữ tiêu biểu nhất của thơ ca Việt Nam hiện đại Người yêu thơ
mệnh danh chị là “Nữ hoàng của thi ca tình yêu” Thơ của chị là tiếng nói nhân hậu, thủy chung, giàu trực cảm và da diết khát vọng hạnh phúc đời thường Sóng là bài thơ được làm năm 1967 nhân chuyến đi thực tế ở biển Diêm Điền Bài thơ sau đó được in trong tập Hoa dọc chiến hào Sóng là
bài thơ tiêu biểu nhất cho phong cách thơ tình yêu của Xuân Quỳnh
Sóng là một hình tượng động, bất biến cũng như “tình yêu muôn thuở / Có bao giờ đứng yên” Vì
vậy cho nên sóng được các nhà thơ chọn làm thi liệu để biểu tượng cho tình yêu Nếu Xuân Diệu
mượn sóng để biểu tượng cho tình yêu của anh “Anh xin làm sóng biếc/ Hôn mãi cát vàng em/ Hôn thật khẽ thật êm/ Hôn êm đềm mãi mãi/ Đã hôn rồi hôn lại/ Cho đến nát cả trời/ Anh mới thôi dào dạt” Thì Xuân Quỳnh lại mượn sóng là biểu tượng cho những cung bậc tình cảm của người phụ nữ
trong tình yêu nhiều khao khát và biến động Hai hình tượng sóng và em luôn đi đôi sánh cặp vớinhau Sóng là em mà em cũng là sóng Sóng và em hòa quyện vào nhau, có lúc khiến ta không nhận
ra đâu là em đâu là sóng nhưng có lúc lại tách ra, soi chiếu vào nhau, tôn lên những vẻ đẹp vừa đadạng lại vừa phong phú
1 Hai khổ đầu: Quy luật tự nhiên của Sóng biển, của Tình yêu trong em
Hình tượng sóng trước hết được gợi ra từ âm hưởng dào dạt, nhịp nhàng của bài thơ Thể thơ nămchữ có tác dụng tạo ra những nhịp điệu của sóng Cả bài thơ là một đại dương, mỗi khổ thơ là mộtcon sóng lớn, mỗi câu thơ là một con sóng nhỏ Tất cả đã tạo nên một âm hưởng mênh mang, dàodạt của những con sóng lòng nhiều cung bậc:
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Trang 32“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
Hai câu thơ đầu với nghệ thuật đối: Dữ dội - dịu êm; Ồn ào - lặng lẽ đã làm hiện lên vẻ đẹp củanhững con sóng biển ngàn đời đối cực Những lúc biển động, bão tố phong ba thì biển dữ dội ồn àocòn những giây phút sóng gió đi qua biển lại hiền hòa trở về dịu êm lặng lẽ Xuân Quỳnh đã mượnnhịp sóng để thể hiện nhịp lòng của chính mình trong một tâm trạng bùng cháy ngọn lửa mãnh liệt
của tình yêu, không chịu yên định mà đầy biến động, khao khát “Vì tình yêu muôn thuở/ Có bao giờ đứng yên” Đúng như vậy, tình yêu của người con gái nào bao giờ yên định bởi có lúc họ yêu rất dữ dội, yêu mãnh liệt hết mình với những nhớ nhung “cả trong mơ còn thức”, đôi khi ghen
tuông giận hờn vô cớ:
Nếu phải cách xa nhau
Có những tình yêu không thể nói bằng lời
Chỉ hiểu nhau qua từng ánh mắt
Nhưng đó là tình yêu bền vững nhất
Bởi thứ ồn ào là thứ dễ lãng quên
(Đinh Thu Hiền)
Sóng của Xuân Quỳnh là tiếng nói của một tâm hồn thiếu nữ đang trong độ tuổi hai mươi, tiếng nóicủa một trái tim chân thành và đam mê, luôn rực cháy chất trẻ trung mãnh liệt, khao khát được sốnghết mình và yêu hết mình Vì thế cho nên:
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Ba hình ảnh sông, sóng, bể như là những chi tiết bổ sung cho nhau: sông và bể làm nên đời sóng,
sóng chỉ thực sự có đời sống riêng khi ra với biển khơi mênh mang thăm thẳm Mạch sóng mạnh
mẽ như bứt phá không gian chật hẹp để khát khao một không gian lớn lao Hành trình tìm ra tận bểchất chứa sức sống tiềm tàng, bền bỉ để vươn tới giá trị tuyệt đích của chính mình Sóng không camchịu một cuộc sống đời sông chật hẹp, tù túng nên nó làm cuộc hành trình ra biển khơi bao la đểthỏa sức vẫy vùng Tình yêu của Xuân Quỳnh cũng vậy, tình yêu của người phụ nữ cũng không thểđứng yên trong một tình yêu nhỏ hẹp mà phải vươn lên trên tất cả mọi sự nhỏ hẹp tầm thường đểđược sống với những tình yêu cao cả, rộng lớn, bao dung Đây là một quan niệm tình yêu tiến bộ và
mạnh mẽ của người phụ nữ thời đại Có thấy ngày xưa quan niệm tình yêu cổ hủ “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” để rồi bao cô gái đã phải cất lên lời than van ai oán:
Thân em như giếng giữa đàng
Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân
Hoặc:
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
Từ đó ta mới thấy hết được cái mới mẻ trong quan niệm tình yêu của Xuân Quỳnh: Người phụ nữchủ động tìm đến với tình yêu để được sống với chính mình
Tình yêu mãi mãi là khát vọng của tuổi trẻ, nó làm bồi hồi, xao xuyến rung động trái tim của lứađôi, của con trai con gái, của em và anh
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ
Từ “Ôi!” cảm thán như tiếng lòng thốt lên từ nỗi thổn thức của trái tim yêu Nghệ thuật đối lập
“ngày xưa” – “ngày sau” càng làm tôn thêm nét đáng yêu của sóng Sóng là thế muôn đời vẫn thế
Trang 33“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
vẫn dữ dội ồn ào vẫn dịu êm lặng lẽ như tình yêu tuổi trẻ có bao giờ đứng yên Bởi tình yêu tuổi trẻ
luôn khát vọng luôn khát khao và mơ ước Nó làm ta bồi hồi khát khao và nhung nhớ bởi “Làm sao sống được mà không yêu/ Không nhớ không thương một kẻ nào” hay “Bắt chim bướm thả vào vườn tình ái” (Xuân Diệu) Tình yêu làm điên đảo tuổi trẻ với những nhớ nhung giận hờn, những cồn cào
da diết như lời thơ Xuân Quỳnh đã từng viết “Những ngày không gặp nhau/Lòng thuyền đau rạn vỡ/ Những ngày không gặp nhau/ Biển bạc đầu mong nhớ” Có yêu nhau mới thấy được cồn cào
của vị nhớ, mùi ái ân, mới thấy được thế nào là bồi hồi ngực trẻ
2 Năm khổ giữa: Những biểu hiện (đặc điểm) của Sóng, của Em trong tình yêu
Tình yêu là sóng, là gió Và qua sóng, gió ấy, nhà thơ đã nói lên thật dễ thương cái nhu cầu tự nhậnthức, tự phân tích, lí giải, nhưng lại không thể cắt nghĩa nổi của tình yêu Tình yêu cũng như sóngbiển, gió trời vậy thôi, nó tự nhiên, hồn nhiên như thiên nhiên và cũng khó hiểu, nhiều bất ngờ nhưthiên nhiên :
Gió bắt đầu từ đâu
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau
Người phụ nữ băn khoăn về khởi nguồn của tình yêu và bộc bạch một cách hồn nhiên, chân thành
sự bất lực không lý giải được câu hỏi muôn đời ấy trong tình yêu: “Em cũng không biết nữa - Khi nào ta yêu nhau” Đây là một cách cắt nghĩa về tình yêu rất Xuân Quỳnh, một cách cắt nghĩa rất nữ tính, rất trực cảm Lí giải được ngọn nguồn của sóng thì dễ bởi « Sóng bắt đầu từ gió » nhưng để hiểu « Gió bắt đầu từ đâu » thì thi nhân lại ấp úng « Em cũng không biết nữa » Cũng như tình yêu của anh và em nó đến rất bất ngờ và tự nhiên bởi « Tình yêu đến trong đời không báo động » Câu thơ « Em cũng không biết nữa » như một cái lắc đầu nhè nhẹ, bâng khuâng và phân vân Đến câu hỏi « Khi nào ta yêu nhau » thì đúng là nữ sĩ đang bâng khuâng và băn khoăn Kì lạ quá, diệu kì
quá, em và anh yêu nhau bao giờ nhỉ ? Câu hỏi này muôn đời không ai lí giải nổi nhất là những bạntrẻ đang yêu và đắm say trong men tình ái Tình yêu là vậy, khó lí giải, khó định nghĩa Xuân Diệu –
ông hoàng của thi ca tình yêu cũng đã từng băn khoăn khi định nghĩa về tình yêu « Đố ai định nghĩa được tình yêu/ Có khó gì đâu một buổi chiều/Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt/Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu » Chính vì không thể lí giải rõ ngọn ngành nên tình yêu vì thế mà trở nên đẹp và là cái đích để cho muôn người đi tìm và khám phá Tình yêu không có tuổi cũng như « xuân không ngày tháng » Tình yêu là một ẩn số giữa hai thế giới tâm hồn chứa đầy bí mật.
Dù tin tưởng chung một đời một mộng
Anh là anh mà em vẫn là em
Có thể nào qua Vạn Lý Trường Thành
Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật
Những tâm hồn bí mật ấy luôn khao khát giao hòa, khao khát khám phá nhưng lại không lý giải nổitình yêu Bởi tình yêu là bài toán chưa có lời giải đáp, tình yêu như bài thơ chưa có hồi kết Vì thế
tình yêu luôn đẹp, luôn mới và hấp dẫn Có lẽ vì thế mà thi sĩ đã lắc đầu « Em cũng không biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau ».
Tình yêu gắn liền với nỗi nhớ - một trong những gam màu chủ đạo của tình yêu Bao kẻ nhớ ngườimình yêu mà đảo điên:
Trời còn có bữa sao quên mọc
Anh chẳng đêm nào chẳng nhớ em
(Xuân Diệu)
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Trang 34“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
Như đứng đống lửa như ngồi đống than
(Ca dao)
Còn Xuân Quỳnh thì:
Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Những con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
Hòa cùng những con sóng: sóng thơ, sóng lòng, ta tìm về cõi sâu kín của tâm hồn thi sĩ và cũng là
của muôn kiếp “má hồng” Bài thơ “Sóng” ra đời khi những con sóng lòng dâng lên dữ dội, những
con sóng nhớ thương, thao thức của một tâm hồn đang yêu Cả bài thơ là những đợt sóng nối nhau
vỗ vào tâm hồn người đọc Sóng và nhân vật em đan quyện vào nhau để thì thầm những nỗi niềm,những tâm tư Đây là một khổ thơ vô cùng đặc biệt bởi trong bài thơ chỉ duy nó có sáu câu Sáu câuthơ trải dài như nỗi thao thức, băn khoăn của tâm hồn thi sĩ trong đêm
“Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước”
Hai câu thơ với hình thức lặp cấu trúc quyện hòa cùng nghệ thuật đối “dưới lòng sâu – trên mặt nước” tạo nên sự điệp trùng của những con sóng với nhiều dạng thức khác nhau Có con sóng gầm
gào trên mặt đại dương nhưng cũng có con sóng cuộn trào trong lòng biển cả Con sóng ngầm cònmãnh liệt hơn cả con sóng trên mặt nước Cả hai kết hợp với nhau làm nên sự đa dạng của sóngbiển Sóng là em, em là sóng Cũng như sóng kia, tâm hồn em cũng vô vàn những phức tạp khóhiểu Lúc lặng lẽ, êm đềm khi nồng nàn dữ dội, nhưng thế nào đi nữa, em vẫn mãi là em, vẫn mãi
ôm trong lòng một nỗi nhớ thương không dứt Cũng như sóng kia thôi, dù dịu êm hay dữ dội thì:
“Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được”
Xuân Quỳnh vô cùng tinh tế khi mượn một hình tượng rất động để diễn ta nỗi niềm của người phụ
nữ khi yêu Sóng muôn đời vẫn thế, có bao giờ thôi vỗ sóng, có khi nào chẳng cồn cào, có khi nàothôi ngừng hành trình đến với bờ dù muôn vời cách trở Sóng chẳng còn là sóng nếu tĩnh yên, lặng
lẽ Vì vậy mà sóng đã được Xuân Quỳnh diễn tả bằng một từ ngữ rất sáng tạo “không ngủ được”.
Sóng là vậy, dù lặng yên dưới lòng biển hay dữ dội trên mặt đại dương thì ngàn đời vẫn khát khaotìm về bến bờ tĩnh tại Chưa đến được bờ thì nhớ thương, thương nhớ, thì thao thức một nỗi niềm
Vì nhớ bờ “bởi hôn mãi ngàn năm không thỏa/ Bởi yêu bờ lắm lắm em ơi” Nên con sóng đã hành trình vượt qua không gian bao la và thời gian xa thẳm Nó bất chấp cả thời gian “ngày đêm không ngủ được” để quyết tâm hướng vào bờ cho thỏa nỗi niềm mong nhớ.
Và nếu sóng nhớ bờ thì em nhớ anh Đó âu cũng là quy luật của tình yêu
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
Xuân Quỳnh dùng chữ “lòng” rất tinh tế Lòng là nơi sâu kín nhất của tâm hồn con người Nơi bí
mật thẳm sâu của tình yêu và nỗi nhớ Khi Xuân Quỳnh nói “lòng em nhớ” nghĩa là chị đã phơi bày
tất cả gan ruột của mình để dốc hết yêu thương mà gửi về người mình yêu Nỗi nhớ không chỉ cómặt trong thời gian được ý thức mà còn gắn với tiềm thức - thời gian trong mơ Vị ngọt ngào mê
đắm của tình yêu lan tỏa trong cách nói nghịch lý “cả trong mơ còn thức” Câu thơ “cả trong mơ còn thức” lóe lên điểm sáng của nghệ thuật Nó làm đảo lộn nhịp sống bởi “tình yêu luôn làm cho con người khó thức ngủ theo giấc giờ điều độ” Nỗi nhớ không chỉ làm lòng em “bổi hổi bồi hồi, như đứng đống lửa như ngồi trong than” nó còn làm cho em nhớ nhung, thao thức ngay cả trong
giấc ngủ Có thể nói, với câu thơ ấy, Xuân Quỳnh đã có thể được xem là thi sĩ tài năng bật nhất củathi ca hiện đại Việt Nam
Sóng và em đan quyện vào nhau Em lặng đi để sóng trào lên Nhưng sóng cũng là em, sóng tràolên mang theo lớp lớp tâm tình của em:
Trang 35“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
“Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam”
Thế giới của Anh và Em không giới hạn chiều dài Bắc - Nam, không khoanh vùng địa bàn mà nơinào cũng có nỗi nhớ thường trực của tình yêu vĩnh viễn Xuân Quỳnh đã tiếp nhận nỗi nhớ ấy bằngtất cả sự nhạy cảm của lứa tuổi đôi mươi và khẳng định cho một cái tôi của con người luôn vững tin
ở tình yêu Từ xưa đến nay người ta vẫn thường nói “Xuôi Nam, ngược Bắc” giờ đây Xuân Quỳnhlại nói “Xuôi Bắc, ngược Nam” là cách nói ngược Phải chăng tình yêu đã làm cho con người bị đảolộn phương hướng ? Nhưng có một phương mà em không thể nào lẫn lộn, không thể nào nguôi nhớ
đó là phương anh:
“Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh một phương”
Xuân Quỳnh buộc chặt bao “sợi nhớ, sợi thương” về phương anh:
Chỉ riêng điều được sống cùng anh
Niềm mơ ước trong em là lớn nhất
Trái tim nhỏ nằm trong lồng ngực
Giây phút nào tim đập chẳng vì anh
Thế mới biết tình yêu của chị nồng nàn, mãnh liệt thế nào Hướng về anh thì có thể thay đổi nhưng
với lời khẳng định chắc nịch “một phương” thì nơi em hướng về là bất di bất dịch Anh đã là “hệ qui chiếu” của đời em Từ đó nhà thơ đã nói đến nỗi nhớ bất chấp vạn vật, khoảng cách, tình yêu là
sự gặp gỡ giữa hai tâm hồn không có giới hạn Cảm thông cho cuộc đời Xuân Quỳnh, ta càng hiểuthêm tình cảm của chị:
“Em trở về đúng nghĩa trái tim em
Là máu thịt, đời thường ai chẳng có
Vẫn ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa
Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi”
Nếu như những khổ thơ trước nhà thơ nói về niềm vui sướng dào dạt, những nhung nhớ giận hờnthì đoạn thơ này nhà thơ lại thể hiện những băn khoăn, lo lắng Đó cũng là trực cảm của tình yêu
“Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào cũng tới bờ
Dù muôn vời cách trở”
Ba từ “Ở ngoài kia” như cánh tay Xuân Quỳnh mềm mại đang chỉ tay về khơi xa nơi trăm ngàn
con sóng ngày đêm không không biết mỏi đang vượt qua giới hạn không gian thăm thẳm muôn vờicách trở để hướng vào bờ ôm ấp nỗi yêu thương Cũng như “em” muốn được gần bên anh, đượchòa nhịp vào trong tình yêu với anh Tình yêu của người con gái thật mãnh liệt, nồng nàn Sóng xavời cách trở vẫn tìm được tới bờ như tìm về nguồn cội yêu thương, cũng như anh và em sẽ vượt quamọi khó khăn để đến với nhau, để sống trong hạnh phúc trọn vẹn của lứa đôi
3 Hai khổ cuối: Khát vọng tình yêu vĩnh cửu của Em.
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Xuân Quỳnh qua khổ thơ trên đã phần nào cho người đọc nhận thức rõ về những dự cảm và nỗibăn khoăn của chị Những từ “tuy dài thế – vẫn đi qua – dẫu rộng” như chứa đựng ở trong nó ítnhiều nỗi âu lo Tuy thế nhà thơ vẫn tin tưởng, tin tưởng ở tấm lòng nhân hậu và tình yêu chânthành của mình sẽ vượt qua tất cả như áng mây kia như năm tháng kia Có thể nói Xuân Quỳnh yêuthương tha thiết, mãnh liệt nhưng cũng tỉnh táo nhận thức dự cảm những trắc trở, thử thách trongtình yêu; đồng thời cũng tin tưởng vào sức mạnh tình yêu sẽ giúp người phụ nữ vượt qua thử tháchđến với bến bờ hạnh phúc Cho nên, sóng sẽ đến bờ, năm tháng sẽ đi qua thời gian dài đằng đẵng vàđám mây nhỏ bé sẽ vượt qua biển rộng để bay về xa Một loạt hình ảnh thơ ẩn dụ được bố trí thành
Trang 36“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
một hệ thống tương phản, đối lập để nói lên dự cảm tỉnh táo, đúng đắn và niềm tin mãnh liệt củanhà thơ vào sức mạnh của tình yêu
Yêu thương mãnh liệt nhưng cao thượng, vị tha Nhân vật trữ tình khao khát hòa tình yêu con sóngnhỏ của mình vào biển lớn tình yêu - tình yêu bao la, rộng lớn – để sống hết mình trong tình yêu, đểtình yêu riêng hoá thân vĩnh viễn thành tình yêu muôn thuở:
Làm sao được tan ra
điệu yêu thương "Người yêu người, sống để yêu nhau" (Tố Hữu) Phải chăng đó là khát vọng muốn
bất tử hóa tình yêu của nữ sĩ Xuân Quỳnh ? Vâng! Đó không chỉ là tinh thần của con người thời đạichống Mỹ mà còn là âm vang của một tấm lòng luôn tha thiết với sự sống, với tình yêu
Xuân Quỳnh viết bài thơ này vào những năm 1967, khi cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam ở
vào giai đoạn ác liệt, khi thanh niên trai gái ào ào ra trận “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, khi sân
ga, bến nước, gốc đa, sân trường diễn ra những cuộc chia ly màu đỏ Cho nên có đặt bài thơ vàotrong hoàn cảnh ấy ta mới càng thấy rõ nỗi khát khao của người con gái trong tình yêu
III TỔNG KẾT:
1 Nghệ thuật :
- Thể thơ 5 chữ tạo nên âm hưởng nhịp nhàng vừa mô phỏng được nhịp điệu dào dạt của sóng vừadiễn tả được những trạng thái tinh tế của tình yêu
- Hình tượng ẩn dụ độc đáo, hình tượng “sóng” được khám phá trong sự tương đồng, hòa hợp, đối
sánh với nhân vật trữ tình “em” tạo sự liên tưởng phong phú bất ngờ và thể hiện khát vọng tình yêucủa nhà thơ
2 Nội dung : Sóng là một bài thơ hay thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ đang yêu Bài thơ
diễn tả tình yêu của người phụ nữ thiết tha, nồng nàn, chung thủy, muốn vượt lên thử thách của thờigian và sự hữu hạn của đời người Từ đó thấy được tình yêu là một thứ tình cảm cao đẹp, một hạnhphúc lớn lao của con người
Tóm lại, bài thơ Sóng là bài thơ giàu giá trị nội dung và nghệ thuật Thành công của bài
thơ là nhờ vào thủ pháp nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, đối lập… nhất là thể thơ ngũ ngôngiàu nhịp điệu Nhịp điệu của sóng, nhịp điệu của tâm hồn Tất cả đã làm hiện lên vẻ đẹp rất Xuân
Quỳnh giàu trắc ẩn suy tư và khát vọng trong tình yêu Đọc xong bài thơ “Sóng” ta càng ngưỡng
mộ hơn những con người phụ nữ Việt Nam, những con người luôn thuỷ chung, luôn sống hết mình
vì một tình yêu Xuân Quỳnh xứng đáng là một nhà thơ nữ của tình yêu lứa đôi, chị đã làm phongphú hơn cho nền thơ ca nước nhà
Văn bản: ĐÀN GHITA CỦA LOR-CA (Thanh Thảo)
I GIỚI THIỆU CHUNG:
1.Tác giả Thanh Thảo:
- Thanh Thảo sinh năm 1946, tên thật là Hồ Thành Công, quê ở tỉnh Quảng Ngãi Tốt nghiệp đạihọc khoa văn, và công tác ở chiến trường miền Nam
- Thanh Thảo là một trong những nhà thơ trẻ trưởng thành trong thời kì chống Mĩ Thơ Thanh Thảo là tiếng nói của người trí thức nhiều suy tư trăn trở về cuộc sống , về các vấn đề xã hội và
Trang 37“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
thời đại Ông luôn tìm tòi, khám phá, sáng tạo cách biểu đạt mới qua hình thức câu thơ tự do, đem đến một mĩ cảm hiện đại cho thơ bằng thi ảnh và ngôn từ mới mẻ Ông được coi là một trong số cây bút luôn nổ lực cách tân thơ Việt và có nhiều thành tựu đáng ghi nhận.
- Năm 2001 ông được tặng giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật
-Các tác phẩm chính: Những người đi tới biển( 1977), Khối vuông Ru-bích( 1985), Những ngọn sóng mặt trời(1994- Trường ca), Cỏ vẫn mọc( 2002-Trường ca)…
2.Tác phẩm: “ Đàn ghi ta của Lor-ca”.
a.Xuất xứ:
+ Văn bản rút trong tập “ Khối vuông Ru- bích” ( 1985), là tác phẩm tiêu biểu cho tư duy thơ
Thanh Thảo: giàu suy tư, mãnh liệt và phóng túng, ít nhiều nhuốm màu sắc tượng trưng và siêuthực
+ Lor-ca(1898-1936): Nhà thơ thiên tài của TBN, người có khát vọng tự do và khát vọng cách tânnghệ thuật mãnh liệt, đã bị chính quyền phản động thân phát xít bắt giam và giết hại
b.Bố cục: Ba phần
* Phần 1( Sáu dòng đầu): Hình ảnh Lor-ca, một nghệ sĩ tự do và cô đơn có khát vọng cách tân
trong khung cảnh chính trị và nghệ thuật Tây Ban Nha
* Phần 2( Tiếp đó đến “máu chảy”): Lor-ca và cái chết oan khuất
* Phần 3( Còn lại): Niềm thương xót, nuối tiếc những cách tân nghệ thuật không có người tiếp tục
và
những suy tư về cuộc giải thoát và giã từ của Lor-ca
c.Chủ đề: Qua hình tượng Lor-ca và tiếng đàn ghi ta, tác giả đã diễn tả cái chết bi tráng đột ngột
của người nghệ sĩ đấu tranh cho tự do và cách tân nghệ thuật, đồng thời bày tỏ nỗi đau xót sâu sắc
và niềm tin mãnh liệt vào sự bất tử của tên tuổi và sự nghiệp Lor-ca
d Ý nghĩa nhan đề, lời đề từ của bài thơ "Đàn ghi ta của Lor - ca"
a.Ý nghĩa nhan đề, lời đề từ
- Nhan đề: Ghi ta không chỉ là nhạc cụ truyền thống của Tây Ban Nha mà còn được coi là biểu
tượng cho nền nghệ thuật ở đất nước này Lor-ca là nhà thơ, nhạc sĩ, kịch tác gia nổi tiếng ngườiTây Ban Nha, người đã khởi xướng và thúc đẩy mạnh mẽ những cách tân trong các lĩnh vực nghệthuật
Đàn ghi ta của Lor-ca là biểu tượng cho những cách tân nghệ thuật của người nghệ sĩ thiên tài
Ga-xi-a Lor-ca
- Lời đề từ: “khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”
+ Đây là câu nói nổi tiếng của Lor-ca trước khi từ biệt cõi đời Nó cho thấy một người nghệ sĩ cótình yêu say đắm với nghệ thuật, với xứ sở Tây Ban cầm
+ Với tư cách là một nhà cách tân nghệ thuật, Lor-ca nghĩ rằng đến một ngày nào đó thơ ca của ôngcũng sẽ án ngữ, ngăn cản sự sáng tao nghệ thuật của những người đến sau Vì thế, nhà thơ đã căndặn các thế hệ sau : hãy “chôn” nghệ thuật của ông (cùng với ông) để bước tiếp
II ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN:
Đoạn 1 (6 dòng đầu): Hình tượng người “kỵ sĩ văn chương” với tiếng đàn ghi ta đơn độc
- Gợi liên tưởng đến khung cảnh của một đấu trường với những võ sĩ đấu bò tót nổi tiếng dũng cảm
ở Tây Ban Nha
- Cuộc chiến đấu giữa:
+ Khát vọng dân chủ của công dân Lor-ca với nền chính trị độc tài
+ Khát vọng cách tân nghệ thuật của người nghệ sĩ với nền nghệ thuật già nua
“Những tiếng đàn bọt nước”(tiếng đàn không chỉ cảm nhận bằng thính giác mà còn bằng thị giác), cùng chuỗi hợp âm li-la li-la li-la đã cho thấy nghệ sĩ Lor-ca đang bay bổng với những giai điệu
mới, với khát vọng cách tân nghệ thuật Tiếng đàn bọt nước gợi ra số phận mong manh của ngườinghệ sĩ
- Lor-ca đơn độc,mệt mỏi tranh đấu bền bỉ cho những khát vọng nghệ thuật cao đẹp
Trang 38“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
=>Như vậy, 6 dòng thơ đầu tiên là “khúc tiền tấu” của bản độc tấu ghi ta mang tên Lor-ca Trongnhững giai điệu đầu tiên vút lên mạnh mẽ, hào hùng có những khoảnh khắc lắng xuống, day dứt,mong manh
Đoạn 2 (12 dòng tiếp): Cái chết bi tráng của Lor-ca và tiếng đàn ghi ta “máu chảy”
- Hình ảnh “áo choàng bê bết đỏ” gợi lên cái chết thê thảm của Lor-ca.
- Cái chết đã ập đến quá nhanh và phũ phàng, giữa lúc Lor-ca không ngờ tới (Chàng vẫn còn đang
“hát nghêu ngao” và vẫn chưa thể tin được rằng việc mình “bị điệu về bãi bắn” lại là một sự thật – Lor-ca đã “đi như người mộng du”).
- Tiếng ghi ta không còn vẹn nguyên, nó đã vỡ ra: thành màu sắc (tiếng ghi ta nâu, tiếng ghi ta lá xanh biết mấy); thành hình khối (tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan); thành dòng máu chảy (tiếng ghi
ta ròng ròng – máu chảy)
- Mỗi tiếng ghi ta là một nỗi niềm của con người trước cái chết của Lorca:
+ Sự tiếc thương của người tình thủy chung (Tiếng ghi ta nâu Bầu trời cô gái ấy).
+ Nỗi niềm xót xa, tiếc nuối của con người, của nhà thơ trước hành trình dở dang của những cách
tân nghệ thuật (Tiếng ghi ta lá xanh biết mấy Tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan)
+ Nỗi đau của chúng ta trước cái chết thê thảm của người nghệ sĩ (Tiếng ghi ta ròng ròng – máu chảy)
Như vậy, Lor-ca đã phải dừng lại vĩnh viễn trong cuộc chiến đấu cho tự do, công lý và nhữngkhát vọng cách tân của người nghệ sĩ cũng theo đó mà như “bọt nước vỡ tan”
- 4 lần cụm từ “tiếng ghi ta”được lặp lại, thể hiện cảm xúc mãnh liệt và cảm nhận đa chiều (mỗi
“tiếng ghi ta” gắn liền với một hình ảnh) của tác giả về cái chết của Ga-xi-a Lor-ca
- Thủ pháp chuyển đổi cảm giác tạo nên những cảm nhận rất mới, rất độc đáo, phù hợp với những
nỗ lực và khát vọng cách tân của người nghệ sĩ Lor-ca
Đoạn 3 (13 dòng tiếp) : Xúc cảm, suy tư về sự ra đi của Lor-ca, tiếng đàn ghi ta bất tử.
- suy tư về sự sống tiếng đàn
+ Tiếng đàn như cỏ mọc hoang” đồng nghĩa với nghệ thuật như cỏ mọc hoang tức là nghệ thuật
thiếu vắng những người dẫn đường, vắng bóng người định hướng Hành trình cách tân nghệ thuậtcủa Lor-ca không có người tiếp tục
+ “không ai chôn cất tiếng đàn” thể hiện một nỗi thất vọng lớn bởi dường như không ai thực sự hiểu Lor-ca, hiểu những suy nghĩ sâu sắc của người nghệ sĩ thiên tài gửi lại cho hậu thế “Không ai chôn cất tiếng đàn” có nghĩa là không ai dám chôn nghệ thuật của Lor-ca.
+ Âm thanh lila vẫn còn vang vọng…tiếng đàn ghita bất tử- Lorca bất tử
- Xúc cảm, suy tư trước sự ra đi của Lorca
+ “Vầng trăng”: vừa là hình ảnh thật vừa là hình ảnh tượng trưng cho nghệ thuật “Giọt nước mắt”
và “đáy giếng” là những hoán dụ nghệ thuật về người nghệ sĩ Lor-ca.Hai câu thơ là nỗi buồn –một nỗi buồn trong sáng và rất đẹp của người nghệ sĩ chân chính luôn day dứt, khắc khoải nhữnggiá trị nghệ thuật đích thực và những khát vọng sáng tạo không bao giờ ngừng nghỉ Hình ảnh củaLor-ca, di sản nghệ thuật của ông, lý tưởng của người nghệ sĩ suốt đời đấu tranh cho nền dân chủ,cho nghệ thuật chân chính không bao giờ lụi tắt Trái lại, nó càng “long lanh” hơn bao giờ hết Vầngtrăng của thiên nhiên, vầng trăng của nghệ thuật như đang giao thoa ánh xạ với nhau để soi tỏ mộtcon người đã chết cho quê hương
+ Cái chết của Lor-ca là một định mệnh đã được báo trước trên đường rãnh của bàn tay Dòng thơthể hiện một thái độ chấp nhận định mệnh phũ phàng, chấp nhận sự ra đi của Lor-ca như một quyluật không thể khác
+ Lor-ca đau đớn khi những khát vọng cách tân của ông không được người đời sau tiếp tục NhưngLor-ca còn đau đớn hơn nếu văn chương của ông, tên tuổi của ông là “lực cản” kìm hãm những nỗ
lực sáng tạo của các thế hệ kế tiếp Chính vì thế mà hình tượng Lor-ca “bơi sang ngang - trên chiếc ghi ta màu bạc” thật nhẹ nhàng, thanh thản
Trang 39“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
+ Quyết định từ biệt thế giới mở đường cho những cách tân nghệ thuật của những người đến sau,
Lor-ca đã hành động dứt khoát : “chàng ném lá bùa cô gái Di-gan – vào xoáy nước – chàng ném trái tim mình – vào lặng yên bất chợt”
=> Lor-ca ra đi thật đẹp, thật “sang”, thật đúng với tầm vóc và tư tưởng của người nghệ sĩ nổi
tiếng Những tiếng li-la li-la li-la… một lần nữa lại cất lên như bài ca về sự bất tử của một con
người, như bản độc tấu ghi ta ngợi ca người nghệ sĩ chân chính, ngợi ca con người sáng tạo
2 Nội dung: Qua bài thơ, tác giả thể hiện nỗi đau và sự xúc động sâu sắc trước cái chết bi thảm
của Lor-ca - một nghệ sĩ khao khát tự do, dân chủ , luôn mong muốn sự cách tân nghệ thuật và nghệthuật phải luôn đi tới không ngừng Đồng thời cho ta thấy tình yêu con người, tình yêu nghệ thuật
và khát vọng tự do mà Lor- ca hằng ôm ấp là cái đẹp mà sự tàn ác không thể nào hủy diệt được
Ghi nhớ : Bài thơ " Đàn ghita của Lor-ca " thể hiện nỗi đau xót sấu sắc trước cái chết bi thảm của
Phê-đê-ri-co Gar-xi-a Lor-ca, nhà thơ thiên tài người Tây Ban Nha Thái độ ngưỡng mộ người nghệ sĩ đại diện cho tinh thần tự do và khát vọng cách tân nghệ thuật của thế kỉ XX bị giết hại một cách phũ phàng được biểu đạt bằng một hình thức độc đáo : kết hợp hài hòa hai yếu tố thơ và nhạc
về cấu tứ ; sức gợi mở đa dạng, phong phú về hình ảnh và sự mới mẻ về ngôn từ.
NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ - NGUYỄN TUÂN
I GIỚI THIỆU CHUNG:
1 Tác giả Nguyễn Tuân :
- Nguyễn Tuân (1910- 1987) ,quê ở Hà Nội Xuất thân trong một gia đình nhà Nho khi Hán học đãtàn
- Sau khi học hết bậc thành trung ( trung học cơ sở ) ông viết văn làm báo Ông từng là tổng thư kíhội nhà văn VN ( 1948-1958 )
- Nguyễn Tuân là nhà văn, nhà nghệ sĩ lớn suốt đời đi tìm cái đẹp Ông có đóng góp quan trọng cho thể loại kí ( tùy bút, bút kí ) và sự phát triển ngôn ngữ văn học dân tộc Ông là cây bút tiêu biểu cho văn học mới ,với một phong cách tài hoa, uyên bác và độc đáo.
- Trước CMT8, các tác phẩm của ông chủ yếu xoay quanh 3 đề tài : "Chủ nghĩa xê dịch", vẻ đẹp
"Vang bóng một thời " và đời sống trụy lạc
- Sau CM tháng 8-1945, ông đến với CM và tự nguyện dùng ngòi bút phục vụ 2 cuộc kháng chiếncủa dân tộc Hình tượng chính trong sáng tác của ông là nhân dân lao động và người chiến sĩ
- Năm 1996, ông được nhà nước tặng giải thưởng HCM về văn học nghệ thuật
-Một số tác phẩm tiêu biểu: Trước 1945: Một chuyến đi(1938), Vang bóng một thời(1939), Sau1945: Tình chiến dịch(1950), Tuỳ bút sông Đà(1960)…
2 Tác phẩm:
a Xuất xứ, hòan cảnh sáng tác:
- " Người lái đò sông Đà " được trích trong tập tùy bút " Sông Đà" ( 1960 ) Tập " Sông Đà " gồm
15 bài tùy bút và một bài thơ phát thảo Lần đầu xuất bản, bài tuỳ bút này có tên là Sông Đà, năm
1982 khi cho in lại trong tuyển tập Nguyễn Tuân, tác giả có sửa đổi tên bài thành Người lái đò sông
Đà
Trang 40“VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC” TRUNG TÂM GDNN-GDTX TÂN PHÚ
- Đây là kết quả từ chuyến đi thực tế lên Tây Bắc của Nguyễn Tuân năm 1958 Mục đích chính củachuyến đi tới Tây Bắc của nhà văn đồng thời cũng là cảm hứng chủ đạo của cả tập bút ký là tìmkiếm chất vàng của thiên nhiên Tây Bắc và nhất là chất vàng mười – “thứ vàng đã được thử lửa” ởtâm hồn những con người lao động, chiến đấu trên miền núi sông hùng vĩ và thơ mộng
- Bài tùy bút này là sự kế thừa xuất sắc phong cách tài hoa uyên bác của Nguyễn Tuân đã có từtrước Cách mạng tháng Tám để trở thành cây bút văn xuôi tiêu biểu trong nền văn chương hiện đạiViệt Nam
b.Chủ đề : Qua hình ảnh con sông Đà hung bạo và thơ mộng, ngưòi lái đò bình dị mà dũng cảm,
tài hoa, Nguyễn Tuân giới thiệu, khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động
ở miền Tây Bắc của Tổ quốc, đồng thời thể hiện tình yêu mến, sự gắn bó thiết tha của Nguyễn Tuân đối với đất nước và con người Việt Nam.
+ Cảm hứng chủ đạo: Nhiệt tình ca ngợi Tổ quốc, ca ngợi nhân dân của một nhà văn mà trái tim
đang tràn đầy niềm hứng khởi khi thấy nay mình đã có đất nước, mình đã không còn “thiếu quêhương”
c Tóm tắt bài tùy bút:
Thiên nhiên Tây Bắc được tô điểm bởi con sông Sông Đà vừa hung bạo trữ tình Sông Đà có lúcdịu dàng như người phụ nữ kiều diễm Nước sông Đà thay đổi theo mùa phản chiếu trời xuân nắng
thu “Mùa xuân dòn xanh ngọc bích, mùa thu lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa”.
Dọc theo sông Đà, có lắm thác nhiều ghềnh, có đá dựng vách thành, có đá tảng đá hòn bày thế thạchtrận, tạo nên cửa sinh cửa tử Nổi bật trên bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, đầy sức sống đó là hìnhảnh ông lái đò sông Đà Đó là một người mang vẻ đẹp khỏe khoắn của người dân lao động vùngsông nước với thân hình cao to, nước da rám nắng Ông làm nghề lái đò đã nhiều năm, từng gắn bóvới dòng sông Đà, hiểu được tính khí của nó Ông thuộc nằm lòng từng con thác lớn, thác nhỏ, từngvách đá, luồng nước, từng cửa sinh cửa tử do thế thạch trận tạo nên Ông đã dùng kinh nghiệm nghềnghiệp cộng với sự cần cù gan dạ đưa con thuyền vượt thác nước sông Đà đầy nguy hiểm Ông đãđưa nhiều chuyến hàng về xuôi an toàn để góp phần vào cuộc sống Sau khi vượt sông Đà, ông lái
đò trở về cuộc sống đời thường thanh thản của mình, ông neo thuyền chổ khúc sông bình lặng vànấu ống cơm lam, bàn tán về cá anh vũ cá dầm xanh
II TÌM HIỂU VĂN BẢN:
1 Khái quát chung:
Tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” dược in trong tập tuỳ bút “Sông Đà” (1960), gồm 15 bài tuỳ bút vàmột bài thơ ở dạng phác thảo Tác phẩm được viết trong thời kì xây dựng CNXH ở miền Bắc Đó làkết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn đến Tây Bắc trong kháng chiến chống Pháp, đặc biệt làchuyến đi thực tế năm 1958 Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội, côngnhân và đồng bào các dân tộc Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhàvăn nguồn cảm hứng sáng tạo Ngoài phong cảnh Tây Bắc uy nghiêm, hùng vỹ và tuyệt vời thơmộng, NT còn phát hiện những điểm quý báu trong tâm hồn con người mà ông gọi là “thứ vàngmười đã được thử lửa, là chất vàng mười của tâm hồn Tây Bắc.”
Qua “Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân với lòng tự hào của mình đã khắc hoạ những nét thơmộng, hùng vỹ nhưng khắc nghiệt của thiên nhiên đất nước qua hình ảnh con sông Đà hung bạo vàtrữ tình Đồng thơi, nhà văn cũng phát hiện và ca ngợi chất nghệ sĩ, sự tài ba trí dũng của con ngườilao động mới : chất vàng mười của đất nước trong xây dựng CNXH qua hình ảnh người lái đò sôngĐà.Từ đó nhà văn ca ngợi sông Đà, núi rừng Tây Bắc vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, đồng bào Tây Bắccần cù, dũng cảm, rất tài tử, tài hoa
- Đến với những tác phẩm của Nguyễn Tuân là ta đang đến với một tâm hồn vô cùng phong phú,với những phát hiện hết sức tinh tế, độc đáo về quê hương Nguyễn Tuân là một nhà văn yêu nước,giàu lòng tự hào dân tộc Tình yêu nước ấy cũng chính là tình yêu thiên nhiên tha thiết Khám phá
về sông Đà – dòng chảy dữ dội của núi rừng Tây Bắc là một thành công đặc sắc của ông Chỉ cóN.T mới không nhọc công dò đến ngọn nguồn lạch sông, truy tìm đến tận nơi gốc tích khai sinh rasông Đà, để biết chỗ phát nguyên của nó thuộc huyện Cảnh Đông và thoạt kì thủy, dòng sông mang