Từ trước đến nay, con người chúng ta luôn lầm tưởng rằng nước là tài nguyên vô tận, không bao giờ hết và vô hình dung với lầm tưởng như vậy mà nguồn nước chung không chỉ riêng Việt Nam m
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA MÔI TRƯỜNG
TIỂU LUẬN
Đề tài: Tài nguyên nước và tác động của biến đổi khí hậu
đến tài nguyên nước ở Việt Nam Theo anh/chị, chúng ta
cần phải làm gì để đối phó với tình trạng thiếu nước ngọt
ở Việt Nam trong thời gian sắp đến?
TÊN HỌC PHẦN: MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI
MÃ HỌC PHẦN: KTN1022
HỌ VÀ TÊN: MAI XUÂN VIỆT
MÃ SINH VIÊN: 20F7510474
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: MAI NGỌC CHÂU
HUẾ, THÁNG 12 NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT 1
1 Lí do chọn đề tài: 2
2 Mục đích nghiên cứu đề tài: 2
3 Đối tượng nghiên cứu: 3
A NỘI DUNG: 3
I TÀI NGUYÊN NƯỚC: 3
1 Tài nguyên nước là gì? 3
2 Tổng quan tài nguyên nước ở Việt Nam: 4
II VAI TRÒ CỦA TÀI NGUYÊN NƯỚC: 5
1 Đối với con người: 5
2 Đối với sinh vật: 6
3 Đối với sản xuất phục vụ đời sống cho con người: 6
III Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước ở Việt Nam: 7
IV Hiện trạng về tài nguyên nước ở Việt Nam và biện pháp đối phó với tình trạng thiếu nước ngọt: 10
1 Hiện trạng tài nguyên nước ở Việt Nam: 10
2 Biện pháp để đối phó với tình trạng thiếu nước sạch: 13
B KẾT LUẬN: 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 15
Trang 3DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
1 Biến đổi khí hậu = BĐKH
2 Lưu vực sông = LVS
Trang 4MỞ ĐẦU:
1 Lí do chọn đề tài:
Môi trường nước hiện nay đang trở thành một trong những vấn đề cấp thiết và nhức nhối trong xã hội hiện nay Ở Việt Nam cũng vậy Từ trước đến nay, con người chúng ta luôn lầm tưởng rằng nước là tài nguyên vô tận, không bao giờ hết và vô hình dung với lầm tưởng như vậy mà nguồn nước chung không chỉ riêng Việt Nam mà trên toàn thế giới đang bị lãng phí và đang nằm trong tình trạng báo động Hiện nay, nguồn nước bị thất thoát đã giảm đáng kể, nhưng tình trạng sử dụng nước không hợp lý, sử dụng lãng phí nguồn nước ở nhiều nơi, nhiều lúc vẫn xảy ra đang làm cho trữ lượng nước bị giảm mạnh Ở vùng nông thôn, tình trạng người dân khoan, đóng giếng tùy tiện không đúng kỹ thuật để phục vụ sinh hoạt và tưới tiêu trong nông nghiệp đã gián tiếp gây ô nhiễm và sút giảm trữ lượng nước ngầm, ảnh hưởng lớn đến việc khai thác có mục đích như xây dựng các công trình cung cấp nước sạch cho người dân vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng cao Bên cạnh đó, do nhận thức về bảo vệ nguồn tài nguyên nước kém và người dân còn thiếu kinh nghiệm sử dụng hiệu quả nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp nên đã gây lãng phí nước và kém hiệu quả đối với cây trồng Mặt khác, do quan niệm sai lầm là nước là vô tận, trời mưa thì nước lại đầy Ở thành phố, do sử dụng nước phải trả tiền nên việc thất thoát, sử dụng lãng phí lượng nước đã được người dân chú ý hơn, nhưng không phải ai cũng hiểu được: tiết kiệm nước không chỉ tiết kiệm tiền và còn bảo vệ được nguồn tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng trở nên quý giá này Vào mùa nắng nóng, chiều chiều vẫn có người vô tư xịt thoải mái nước máy ra đường, tưới vườn cây, rửa xe lênh láng Có những hộ do vòi nước bị hỏng hoặc quên không khóa chặt khiến ngày đêm nước cứ từng giọt, từng giọt nối tiếp nhau xuống đất Điều này không những gây lãng phí nước, tốn tiền trả cho cơ quan cung cấp nước, mà còn gây lãng phí công sức và các chi phí đầu tư cho
xử lý lượng nước hao hụt Tất nhiên, xài nhiều nước, trả nhiều tiền, nhưng hãy nghĩ đến trên trái đất này còn tới 2 tỷ người đang khát nước Do vậy, việc nghiên cứu đề tài về tài nguyên nước tại Việt Nam để cùng nhau tìm ra biện pháp để ngăn ngừa là một việc cần thiết
2 Mục đích nghiên cứu đề tài:
Trang 5Những năm gần đây, các nhà chức trách, những người đứng đầu luôn phải đau đầu vì sự ô nhiễm nghiêm trọng của tài nguyên nước nhưng không vì thế mà họ
bỏ cuộc việc duy trì nghiên cứu để tìm ra cách thức để vừa ngăn chặn vừa đem lại nguồn nước cho không chỉ con người mà là còn sinh vật Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm giúp con người chúng ta hiểu rõ hơn về tài nguyên nước, hiện trạng của tài nguyên nước hiện nay và biện pháp để ngăn chặn việc lãng phí nước tại Việt Nam
3 Đối tượng nghiên cứu:
Sinh viên năm 2 khoa Tiếng Anh, trường Đại học Ngoại ngữ- Đại học Huế
A NỘI DUNG:
1 Tài nguyên nước là gì?
Tài nguyên nước là tài nguyên nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụng vào các mục đích khác nhau Nước được sử dụng cho nông nghiệp, công
nghiệp, dân dụng, giải trí và các hoạt động môi trường Tài nguyên nước bao gồm nước mặt, nước ngầm, nước mưa và nước biển Hầu hết các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày của con người đều cần đến nước ngọt Nước chiếm 71% diện tích trái đất, 97% trong số đó là nước mặn và chỉ 3% là nước ngọt, nhưng gần 2/3 trong số đó ở dạng sông băng và chỏm băng ở cực Phần còn lại chưa đóng băng chủ yếu tồn tại ở dạng nước ngầm, và chỉ một phần nhỏ tồn tại trên mặt đất và trong không khí
Theo hiểu biết hiện nay thì nước trên hành tinh của chúng ta phát sinh từ 3 nguồn: bên trong lòng đất (nước ngầm), từ các thiên thạch ngoài quả đất mang vào và từ tầng trên của khí quyển; trong đó thì nguồn gốc từ bên trong lòng đất
là chủ yếu Nước có nguồn gốc bên trong lòng đất được hình thành ở lớp vỏ giữa của quả đất do quá trình phân hóa các lớp nham thạch ở nhiệt độ cao tạo
ra, sau đó theo các khe nứt của lớp vỏ ngoài nước thoát dần qua lớp vỏ ngoài thì biến thành thể hơi, bốc hơi và cuối cùng ngưng tụ lại thành thể lỏng và rơi xuống mặt đất Trên mặt đất, nước chảy tràn từ nơi cao đến nơi thấp và tràn ngập các vùng trủng tạo nên các đại dương mênh mông và các sông hồ nguyên thủy
Trang 6Theo sự tính toán thì khối lượng nước ở trạng thái tự do phủ lên trên trái đất khoảng 1,4 tỉ km3, nhưng so với trử lượng nước ở lớp vỏ giữa của qủa đất ( khoảng 200 tỉ km3) thì chẳng đáng kể vì nó chỉ chiếm không đến 1% Tổng lượng nước tự nhiên trên thế giới theo ước tính có khác nhau theo các tác giả và dao động từ 1.385.985.000 km3 (Lvovits, Xokolov - 1974) đến 1.457.802.450 km3 (F Sargent - 1974)
Bảng 1 Trữ lượng nước trên thế giới (theo F Sargent, 1974)
nước năm 2012 quy định ” Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biển thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Đây là khái niệm tài nguyên nước dùng trong một lãnh thổ Tài nguyên nước ở Việt Nam được đánh giá là rất đa dạng và phong phú, bình quân đầu người gần 17.000
m3/ năm bao gồm cả nguồn nước mặt và nước ngầm ở các thủy vực tự nhiên và nhân tạo như sông, suối, hồ tự nhiên, hồ nhân tạo, giếng khơi, hồ đập, ao, đầm phá và các túi nước ngầm Nước ta có 108 lưu vực sông với khoảng 3450 sông, suối tương đối lớn (chiều dài từ 10km trở lên), trong đó có 9 hệ thống sông lớn (diện tích lưu vực lớn hơn
Biển và đại dương Nước ngầm Băng và băng hà
Hồ nước ngọt
Hồ nước mặn Khí ẩm trong đất Hơi nước trong khí ẩm Nước sông
Tuyết trên lục địa
1.370.322.000 60.000.000 26.660.000 125.000 105.000 75.000 14.000 1.000 250
Trang 710.000km2), bao gồm: Hồng, Thái Bình, Bằng Giang - Kỳ Cùng, Mã, Cả, Vu Gia - Thu Bồn, Ba, Đồng Nai và sông Cửu Long Tổng lượng nước mặt trung bình hằng năm khoảng 830-840 tỷ m3, trong đó hơn 60% lượng nước được sản sinh từ nước ngoài, chỉ có khoảng 310-320 tỷ m3 được sản sinh trên lãnh thổ Việt Nam Lượng nước bình quân đầu người trên 9.000 m3/năm Nước dưới đất cũng có tổng trữ lượng tiềm năng khoảng 63 tỷ m3/năm, phân bố ở 26 đơn vị chứa nước lớn, nhưng tập trung chủ yếu ở Đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ và khu vực Tây Nguyên Về hồ chứa, có khoảng 2.900 hồ chứa thủy điện, thủy lợi tương đối lớn (dung tích từ 0,2 triệu m3 trở lên) đã vận hành, đang xây dựng hoặc đã có quy hoạch xây dựng, với tổng dung tích các hồ chứa trên 65 tỷ m3 Trong đó, có khoảng 2.100 hồ đang vận hành, tổng dung tích hơn 34 tỷ m3 nước; khoảng 240 hồ đang xây dựng, tổng dung tích hơn 28 tỷ m3, và trên 510 hồ đã có quy hoạch, tổng dung tích gần 4 tỷ m3 Các hồ chứa thủy điện mặc
dù với số lượng không lớn, nhưng có tổng dung tích khoảng 56 tỷ m3 nước (chiếm 86% tổng dung tích trữ nước của các hồ chứa) Trong khi đó, trên 2000 hồ chứa thủy lợi nêu trên chỉ có dung tích trữ nước khoảng gần 9 tỷ m3 nước, chiếm khoảng 14% Các lưu vực sông có dung tích hồ chứa lớn gồm: sông Hồng (khoảng 30 tỷ m3); sông Đồng Nai (trên 10 tỷ m3); sông Sê San (gần 3,5 tỷ m3); sông Mã, sông Cả, sông
Hương, sông Vũ Gia - Thu Bồn và sông Srêpok (có tổng dung tích hồ chứa từ gần 2 tỷ
m3 đến 3 tỷ m3) Tổng lượng nước đang được khai thác, sử dụng hàng năm khoảng 81
tỷ m3, xấp xỉ 10% tổng lượng nước hiện có trung bình hàng năm của cả nước Trong
đó, lượng nước sử dụng tập trung chủ yếu vào 7 - 9 tháng mùa cạn, khi mà dòng chảy trên hệ thống sông đã bị suy giảm và với tổng lượng nước cả mùa chỉ bằng khoảng 20% - 30% (khoảng 160 - 250 tỷ m3) so với lượng nước của cả năm
1. Đối với con người:
Nước là một thực phẩm cần thiết đối với con người.Nước tham gia vào quá trình chuyển hoá các chất, đảm bảo sự cân bằng các chất điện giải và điều hoà thân nhiệt Trung bình một ngày mỗi người cần từ 1,5 - 2,5 lít nước sạch để uống, tuy nhiên những người làm công việc nặng nhọc hay trong điều kiện nóng bức thì nhu cầu nhiều hơn Nước chiếm khoảng 60-70% trọng lượng trong cơ thể, khi thay đổi 1-2% lượng nước trong cơ thể cũng có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ và gây khát, mất 5% nước trong cơ thể có thể gây hôn mê và nếu mất một lượng khoảng 10-15% có thể dẫn tới tử
Trang 8vong Nước đưa vào trong cơ thể những chất bổ hoà tan để duy trì sự sống Nước hoà tan các chất thải, chất độc hoá học trong cơ thể và thải ra ngoài cơ thể dưới dạng hòa tan và nửa hoà tan Nước rất cần cho vệ sinh cá nhân và vệ sinh công cộng Nước dùng trong sinh hoạt bao gồm nước ăn uống, tắm giặt và dùng trong nhà vệ sinh Nước dùng cho mục đích vui chơi giải trí như để bơi thuyền, lướt ván, bơi lội Ngoài ra nước còn
có tác dụng bôi trơn nơi tiếp xúc với các đầu nối, bao hoạt dịch và màng bao, làm cho các khớp linh động
2 Đối với sinh vật:
Đối với các sinh vật ở cạn, sau nhân tố nhiệt độ, nước (ở cả thể lỏng – dạng nưới và thể khí - độ ẩm trong không khí) là một nhân tố sinh thái vô cùng quan trọng Trong lịch sử phát triển của sinh giới trên bề mặt trái đất luôn luôn gắn liền với môi trường nước Các sinh vật đầu tiên xuất hiện trong môi trường nước Quá trình đấu tranh lên sống ở cạn, chúng cũng không tách khỏi môi trường nước; nước cần thiết cho quá trình sinh sản Sự kết hợp của các giao tử hầu hết được thực hiện trong môi trường nước, nước cần thiết cho quá trình trao đổi chất Trong cơ thể sinh vật, nước chứa một hàm lượng rất cao, từ 50 - 90% khối lượng cơ thể sinh vật là nước, có trường hợp nước chiếm tỷ lệ cao hơn, tới 98% như ở một số cây mọng nước, ở ruột khoang (ví dụ: thủy tức)
- Nước là môi trường khuyếch tấn cho các chất của tế bào, tại nên các chất lỏng sinh học như máu, dịch gian bào, dịch não tủy;…
- Nước là dung môi cho các chất vô cơ, các chất hữu cơ có mang gốc phân cực (ưa nước) như hydroxyl, amin, các boxyl…
- Nước là nguyên liệu cho cây trong quá trình quang hợp tạo ra các chất hữu cơ Nước
là môi trường hoà tan chất vô cơ và phương tiện vận chuyển chất vô cơ và hữu cơ trong cây, vận chuyển máu và các chất dinh dưỡng ở động vật
- Nước tham gia vào quá trình trao đổi năng lượng và điều hòa nhiệt độ cơ thể
- Cuối cùng nước giữ vai trò tích cực trong việc phát tán nòi giống của các sinh vật, nước còn là môi trường sống của nhiều loài sinh vật
3 Đối với sản xuất phục vụ đời sống cho con người:
Trang 9Nước không chỉ quan trọng với cơ thể con người, cơ thể của sinh vật mà nó còn là nhân tố tác động rất nhiều đến việc phát triển kinh tế, xã hội Nước sạch giúp cho nền nông nghiệp, công nghiệp, du lịch phát triển mạnh mẽ hơn
Đối với sản xuất nông nghiệp:
Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta, đã từng có những thời điểm Việt Nam là nước số 1 trong việc sản xuất và xuất khẩu lúa gạo trên thị trường thế giới Trong sản xuất nông nghiệp, nước đóng góp rất nhiều những vai trò quan trọng như:
Dùng để tưới tiêu, cung cấp độ ẩm cho đất và giúp cây cối phát triển tốt hơn
Là dung môi để hòa tan các chất bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, tưới cho cây trồng
Nước giúp hòa tan phân bón để cây dễ dàng hấp phụ
Giúp vận chuyển các chất dinh dưỡng để nuôi dưỡng các bộ phận của cây Cũng như con người của chúng ta, một khi thiếu nước cây cối chắc chắn cũng sẽ chết dần Có rất nhiều loài cây có thể sống mà không cần đất nhưng không có nước thì hầu như cây cối sẽ không thể tồn tại
Đối với sản xuất công nghiệp:
Trong hoạt động sản xuất và phát triển công nghiệp, nước có một vai trò cực kì to lớn, đáng kể đến như:
Dùng để rửa rau, củ, quả trong các hoạt động chế biến nông sản
Làm mát các hệ thống máy móc, nhà xưởng
Vệ sinh, rửa dọn nhà xưởng
Giặt giũ quần áo của công nhân, nhân viên
Là nguyên liệu không thể thiếu trong các lò hơi dùng trong công nghiệp
Nước cho chúng ta nguồn lợi rất lớn về năng lượng đặc biệt từ ngành thủy điện
III. Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước ở Việt Nam:
Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, Việt Nam mở cửa và hội nhập với thế giới, có nhiều công ty, tập đoàn trong nước cũng như nước ngoài đổ xô vào Việt Nam với nguồn nhân lực lao động dồi dào và rẻ để xây dựng các khu công nghiệp, xí nghiệp Những việc trên đem lại rất nhiều lợi ích cho Việt Nam như tạo
Trang 10thêm công ăn việc làm cho mọi người, thu hẹp khoảng cách giữa Việt Nam và các nước phát triển trên thế giới Tuy không thể phủ nhận những lợi ích của những việc làm đó mang lại nhưng nó cũng để lại tình trang đáng báo động cho Việt Nam như là với việc các khu công nghiệp thường hoạt động với công suất lớn thì đồng nghĩa lượng khí thải và chất thải phát sinh ra môi trường cũng rất nhiều và tài nguyên nước cũng không tránh khỏi và không những gây ô nhiễm mà còn gây ra biến đổi khí hậu Ngoài
ra, hiệu ứng nhà kính cũng là một trong những nguyên nhân gây ra BĐKH tại Việt Nam Hiệu ứng nhà kính giúp giữ lại nhiệt của mặt trời, không cho nó phản xạ đi, nếu các khí nhà kính tồn tại vừa phải thì chúng giúp cho nhiệt độ Trái Đất không quá lạnh nhưng nếu chúng có quá nhiều trong khí quyển thì kết quả là Trái Đất nóng lên Việt Nam từng được Ngân hàng Thế giới (World Bank – WB) dự áo là một trong năm quốc gia trên thế giới sẽ bị tác động nghiêm trọng nhất của nước biển dâng Các kịch bản dự báo quốc gia công bố năm 2009 cho thấy vào giữa thế kỷ 21, mực nước biển có thể dâng thêm 30cm, vào cuối thế kỷ 21 có thể dâng thêm 75cm so với thời kỳ 1980 –
1999, đe dọa trực tiếp các châu thổ, nhất là đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, hằng năm chịu ảnh hưởng của nhiều thiên tai do thời tiết như các cơn bão nhiệt đới, hạn hán, lũ lụt Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 [CITATION BộT13 \l 1033 ]nóng và ẩm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 lạnh và khô Mùa mưa bão từ tháng 6 đến tháng 12 Hạn hán xảy ra trong các tháng khác nhau
ở các vùng khác nhau Miền Bắc, cao nguyên Trung Bộ, và miền Nam từ tháng 11 đến tháng 4; Bắc Trung Bộ, và Trung Bộ từ tháng 6 đến tháng 7; Nam Trung Bộ từ tháng 3 đến tháng 8.Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng đến Việt Nam theo những xu hướng sau: giảm mưa dông; giảm sương mù; gạn hán tăng cả về tần suất và cường độ; mùa lạnh thu hẹp; bão tăng về tần suất Biến đổi khí hậu ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến nguồn tài nguyên nước Nguồn nước mặt khan hiếm trong mùa khô gây hạn hán, và quá dư thừa trong mùa mưa gây lũ lụt Do thiếu nguồn
bổ sung nên nguồn nước ngầm bị suy giảm Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng đến nhiều ngành công nghiệp, chẳng hạn như: giao thông vận tải và năng lượng, dầu mỏ và kinh tế biển; sức khỏe cộng đồng; thủy sản Việt Nam hiện nay đang chịu tác động của biến đổi khí hậu, một số khu vực mùa hè liên tục có các đợt nắng nóng, nhiệt độ cao, nhu cầu sử dụng điện nước sinh hoạt tăng cao, bão đổ bộ với cường độ lớn gây nặng
nề về người và của lỗ vốn Là quốc gia chịu ảnh hưởng lớn của biến đổi khí hậu, Việt