Nâng cao thu nhập của người dân trên 20%, góp phần xóa đói giảm nghèo, 100% các hộ tham gia mô hình không còn là hộ nghèo thông qua xây dựng mô hình liên kết nông dân và doanh nghiệp ứng dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật đã được nghiệm thu để tái canh cà phê đảm bảo cây sinh trưởng phát triển tốt, hiệu quả kinh tế cao, bền vững phục vụ chương trình xây dựng nông thôn mới.
Trang 1Trong đó, tại Thái Nguyên thu nhập của 1ha mô hình sản xuất chè VietGAP đạt cao nhất 284.344.200 đồng/ha (năm 2016), tăng 26,9% so với ngoài mô hình
đồng/ha (năm 2015) và 3.614.200 đồng/ha - 185.944.200 đồng/ha (năm 2016) Trong
đó, lãi của 1ha mô hình sản xuất chè VietGAP tại Phú Thịnh đạt cao nhất đạt 185.944.200 đồng/ha (năm 2016) tăng 31,2% so với ngoài mô hình; thấp nhất tại Tân Lập đạt 3.255.700 đồng/ha (năm 2015)
đó, lãi của 1 tấn chè chế biến theo công nghệ của dự án tại Phú Thịnh cao nhất đạt 25.600.000 đồng/tấn (năm 2016), tăng 239,1% so với chế biến theo kỹ thuật hiện hành
3 Xây dựng được 03 mô hình liên kết sản xuất chè tại Tân Lập, Sơn Hùng, Phú Thịnh
Thông qua liên kết, đã nâng cao hiệu quả sản xuất chè của các hộ nông dân, các cơ sở chế biến
4 Dự án đã đào tạo, tập huấn chuyển giao kỹ thuật sản xuất chè theo VietGAP và công nghệ chế biến chè xanh chất lượng cao cho người dân tại Phú Thọ, Hà Giang và Thái Nguyên (kỹ thuật sản xuất chè VietGAP 09 lớp cho 320 người và công nghệ chế biến chè xanh chất lượng cao 6 lớp cho 180 người)
5 Tổ chức 03 hội nghị đầu bờ để trao đổi kỹ thuật sản xuất chè theo VietGAP; chế biến chè xanh chất lượng cao và liên kết trong sản xuất chè tại Thái Nguyên, Hà Giang và Phú Thọ
I Thông tin chung
Tên Đề tài: Xây dựng mô hình nâng cao thu nhập của người dân thông qua liên kết tổ
Cơ quan chủ trì: Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên
Trang 21140
ĐTDĐ: Email:
1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một trong những nước sản xuất cà phê vối hàng đầu của thế giới Đến nay, cả nước có khoảng 650.000 ha, cà phê kinh doanh 549.130 ha, trong đó 90% diện tích tập trung ở vùng Tây Nguyên Hiện nay, việc tái canh cây cà phê ở Tây Nguyên nói chung và việc tái canh ngay trên đất cà phê già cỗi đang là vấn đề hết sức khó khăn cho người trồng cà phê cũng như đối thách thứcvới ngành cà phê Việt Nam, đặc biệt khi diện tích cà phê tái canh ngày càng gia tăng Theo số liệu thống kê của Cục trồng trọt (2013), nước ta có khoảng 15% diện tích cà phê trên 20 năm tuổi và 25% diện tích cà phê từ 15 - 20 năm tuổi, tương đương với khoảng 140.000 - 160.000 ha diện tích cà phê cần được tái canh trong 5 - 10 năm tới
Trong thực tiễn, các diện tích cà phê trồng lại trên nền đất cũ thường bị chết, nguyên nhân chủ yếu bộ rễ bị hư hại do tuyến trùng trong đất tấn công và nấm bệnh xâm nhập làm thối nhanh rễ cà phê; hoặc sinh trưởng kém do vấn đề quản lý kỹ thuật (cây giống không đảm bảo chất lượng, không tuân thủ nghiêm quy trình tái canh cà phê do
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành năm 2010 và 2013, đặc biệt là vấn
đề luân canh, cải tạo đất, xử lý đất ) dẫn đến việc tái canh tác cà phê thường không có hiệu quả (tỷ lệ thành công thấp) Đây là vấn đề đang tồn tại cần có các biện pháp giải quyết để ngành cà phê phát triển ổn định, bền vững Tuy nhiên, đã có một số diện tích
cà phê của các công ty hoặc của các hộ nông dân tái canh thành công khi được áp dụng biện pháp luân canh với cây trồng khác từ 2 - 4 năm, còn hầu hết việc tái canh ngay cây
cà phê trên đất vừa nhổ bỏ cà phê cũ có nhiễm tuyến trùng đều thất bại chiếm 88% (Chế Thị Đa, 2012)
Huyện EaKar có diện tích canh tác cà phê 8.042 ha, trong đó diện tích thu hoạch
là 7.110 ha (Niên giám thống kê Đắk Lắk, 2015) Theo định hướng phát triển nông lâm nghiệp huyện EaKar giai đoạn 2011 - 2020 thì cà phê vẫn là cây công nghiệp trồng chủ lực của huyện, sau một thời gian dài tăng và giảm diện tích ở những phần diện tích không phù hợp, phần diện tích hiện tại sẽ được duy trì ổn định (Báo cáo tổng kết huyện EaKar, 2016) Thực hiện đề án phát triển cà phê bền vững, nhằm tăng hiệu quả sản xuất giá trị sản phẩm, cà phê sẽ được bố trí ở các xã: EaKar, Xuân Phú, Cư Huê, Ea Đar, EaKmut, Cư Ni, Cư Yang, Ea Ô
Trong chương trình xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Đắk Lắk, mục tiêu là thúc đẩy mạnh, nhanh và bền vững cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hoàn thành cơ bản công tác quy hoạch xây dựng nông thôn mới cấp xã và đề án nông thôn mới các cấp: xã, huyện, tỉnh Từ mục tiêu trên, huyện EaKar đã đưa Chương
Trang 3trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới thực hiện trên 14 xã, đồng thời xác định được lộ trình xây dựng nông thôn mới cho 05 xã giai đoạn 2011-2015 (trong đó có
xã Cư Ni và xã EaKmut), 06 xã giai đoạn 2011-2020 (trong đó có Cư Huê, Cư Yang)
Đối với thực tế trong sản xuất cà phê tại địa bàn huyện EaKar tỉnh Đắk Lắk, đã có một số mô hình tái canh thành công như Công ty TNHH MTV cà phê 720 và
721 Tuân thủ quy trình tái canh của Bộ NN & PTNT về luân canh cải tạo đất, phòng trừ tuyến trùng trước khi trồng, đầu tư thâm canh hiệu quả Kết quả, hiện các vườn cây cho sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất đạt từ 2,5 - 3 tấn nhân/ha vào những năm đầu kinh doanh Tuy nhiên, bên cạnh những diện tích tái canh thành công, các Công ty trên địa bàn huyện vẫn đang đối mặt với một số diện tích tái canh bị nhiễm bệnh vàng
lá do tuyến trùng Đây là những diện tích có mầm bệnh cũ trên vườn cây trước khi thanh
lý, những chân đất bị ngập úng dễ lây lan mầm bệnh
Ngoài ra, vấn đề tái canh ở các nông hộ trồng cà phê cũng gặp nhiều khó khăn, bên cạnh điều kiện đất đai có độ phì thấp, đất còn thường xuyên ngập úng vào mùa mưa nhưng khó giữ nước trong mùa khô, dẫn đến canh tác gặp nhiều bất lợi Việc tái canh ở những hộ nghèo còn khó khăn hơn khi vừa mất nguồn thu nhập do phải nhổ
bỏ cà phê cũ, vì vậy vốn đầu tư cho việc trồng lại cà phê bị thiếu hụt, dẫn đến việc ứng dụng các kỹ thuật mới trong tái canh gặp nhiều hạn chế, thiếu tính đồng bộ, hiệu quả kém Bên cạnh đó, do điều kiện tiếp cận với các kỹ thuật tiên tiến trong tái canh cà phê còn quá ít, việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật còn chậm đã làm cho không nhỏ một số hộ trên địa bàn thực hiện việc tái canh cà phê theo ý tự phát, đầu tư không đúng hoặc lãng phí nguồn vốn, làm tăng chi phí cho việc tái canh cà phê
Từ những phân tích và đánh giá trên cho thấy để tái canh đảm bảo hiệu quả cao trên địa bàn huyện nói chung và các xã vùng dự án nói riêng, thì việc ứng dụng các tiến
bộ kỹ thuật mang tính đồng bộ, tổ chức canh tác theo hướng liên kết giữa các hộ dân hoặc giữa người dân với công ty, doanh nghiệp sẽ mang lại hiệu quả và có tính khả thi cao, giảm thiểu chi phí đầu vào, tăng thu nhập thông qua việc tăng năng suất vườn cây, đồng thời tăng chất lượng đáng kể nhờ sử dụng các giống cà phê mới
Trang 41142
Nâng cao thu nhập của người dân trên 20%, góp phần xóa đói giảm nghèo, 100% các hộ tham gia mô hình không còn là hộ nghèo thông qua xây dựng mô hình liên kết nông dân và doanh nghiệp ứng dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật đã được nghiệm thu
để tái canh cà phê đảm bảo cây sinh trưởng phát triển tốt, hiệu quả kinh tế cao, bền vững phục vụ chương trình xây dựng nông thôn mới
2.2 Mục tiêu cụ thể
+ Thu nhập của người dân tăng trên 20%
được nghiệm thu
+ 04 mô hình tái canh cà phê tổng diện tích 50 ha, khi vào kinh doanh năng suất tăng trên 50% so với năng suất trước khi tái canh; đảm bảo chu kỳ kinh doanh có hiệu quả trên 20 năm
+ Xây dựng 01 mô hình tổ chức tái canh cà phê hiệu quả, trên cơ sở diện tích các
mô hình tái canh (tái canh hoàn toàn hoặc tái canh cuốn chiếu)
+ Tập huấn, đào tạo (250 lượt người), hội thảo, hội nghị (250 lượt người) + Báo cáo về kết quả, kinh nghiệm xây dựng mô hình và đề xuất cơ chế chính sách nhân rộng mô hình tái canh cà phê
3.1 Hiện trạng tái canh cà phê vùng dự án
Điều tra tình hình tái canh cà phê của các hộ nông dân tại 4 xã xây dựng Nông thôn mới trong năm 2015, vớí tổng số 125 hộ cho thấy: Về diện tích canh tác cà phê của các hộ tương đối thấp, trung bình chỉ 0,66 ha, trong đó có nhiều hộ tái canh với diện tích nhỏ
đạt rất thấp, trung bình chỉ đạt 0,74 tấn nhân/ha, trong đó có những hộ gần như không
chính 2 người trong một gia đình chiếm nhiều nhất là 65,6%
Trang 526,9% trong tổng số hộ điều tra Đối với nguyên nhân dẫn đến việc tái canh cà phê, phần
được tàn dư rễ trong đất Tuy nhiên các hộ đều quan tâm đến việc thu gom rễ cà phê sau
đậu đã hạn chế việc cải tạo đất, bổ sung nguồn dinh dưỡng vào trong đất trong thời gian
hưởng đến khả năng sinh trưởng của cây cà phê trong thời gian kiến thiết cơ bản Đối
cho các vườn tái canh cà phê từ 15 – 20 kg/hố chiếm tỷ lệ rất thấp (2,7%) Cũng tương
phân lân, lượng phân bón khá thấp, tỷ lệ số hộ bón dưới 0,5 kg lân/hố chiếm tới 82,6% Ngược lại, các hộ tái canh quan tâm nhiều hơn đến việc bón vôi cho đất, với tỷ lệ số hộ bón và lượng bón đều cao hơn so với bón phân hữu cơ và phân lân
Người trồng cà phê đã có nhận thức tốt hơn về vai trò của cây giống cà phê, khi có
lượng Có 98,9% số hộ lựa chọn sử dụng cây cà phê thực sinh cho việc tái canh, điều
trong vườn, có 75,2% số hộ không trồng các loại cây này Phần lớn các hộ trồng cây lưu
Trang 61144
niên dưới dạng trồng xen kết hợp như xen cây bơ, cây điều, sầu riêng, trong đó cây điều được trồng xen nhiều nhất với tỷ lệ 51,6% Cây muồng đen được trồng chủ yếu xung
Đối với các hộ trồng xen cây lưu niên trong vườn cà phê tái canh, qua điều tra cho thấy
thay đổi từ 9 x 12 m đến 12 x 15 m, dẫn đến mật độ chênh lệch khá lớn từ 56 - 93 cây/ha, trong đó mật độ trồng 12 x 15 chiếm tỷ lệ nhiều nhất là 60% Đối với cây điều và cây xoài cũng tương tự, mật độ trồng thay đổi khá lớn từ 69 - 93 cây/ha đối với điều và từ
Điều tra thu nhập của các hộ tái canh cà phê tại 4 xã cho thấy, sau 3 năm tái canh, một
cũng có những hộ việc tái canh không thuận lợi, gặp thất bại hoặc vườn cây sinh trưởng
đầu sau tái canh cà phê của các hộ điều tra ngoài sản phẩm từ cà phê còn đến từ các
hưởng đến chất lượng, giảm giá trị xuất khẩu Đối với các doanh nghiệp sản xuất cà phê
đề thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm
Trang 73.2.1 Xây dựng mô hình thuộc công ty để thực hiện tái canh cà phê, diện tích 20 ha (MH01)
Để có cơ sở đánh giá, đưa ra liều lượng và phương pháp bón phân phù hợp cho cà phê tái canh, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, lấy mẫu đất và phân tích hàm lượng dinh dưỡng Kết quả phân tích mẫu đất trước khi khảo nghiệm cho thấy: đất tại tất cả các mô hình được đánh giá rất chua, hàm lượng hữu cơ và đạm tổng số nghèo đến trung bình,
dưỡng đã được cải thiện sau khi xây dựng mô hình nhưng đất vẫn còn chua, hàm lượng
đều tăng so với trước thí nghiệm nhưng vẫn ở mức nghèo
18, 30, 40 tháng đều thấp hơn so với công thức đối chứng Kết quả trung bình cho thấy
18 đến 40 tháng, điều này cho thấy vườn các cây tái canh quy mô trang trại/công ty hiện
Năng suất trung bình của mô hình cao hơn công thức đối chứng đã cho thấy giống mới
Địa điểm Công thức
Năng suất (kg nhân/cây)
Năng suất
nhân/ha)
tăng so
(%)
Năng suất
kg nhân/cây
Năng suất
nhân/ha)
tăng so
(%)
Công ty
720
Công ty
721
Trang 81146
vượt trội hơn so với mô hình sản xuất đại trà Khối lượng 100 nhân trung bình của mô hình đạt 18,3 g, công thức đối chứng chỉ 15,5 g và khác biệt có ý nghĩa thống kê Tỷ lệ
tương ứng 65,7% và 4,7 g.Mô hình tái canh quy mô công ty cho thấy chất lượng cà phê nhân vượt trội so với sản xuất đại trà, có thể thấy các giống mới trồng tại Eakar cho năng
và trung bình (5,8%) đều thấp hơn tỷ lệ nhiễm bệnh gỷ sắt của công thức đối chứng lần lượt là 5,8% và 0,8%, ở mức độ nhiễm bệnh nặng thì cả 2 công thức đều không bị nhiễm
lượt là 7,1% và 2,2%, còn ở mức độ nhiễm bệnh nặng thì mô hình không bị nhiễm bệnh
Mô hình
Năng suất (tấn nhân/ha)
Tổng chi phí (1.000đ)
Tổng doanh thu (1.000đ)
Lợi nhuận (1.000đ)
Công
ty
720
Tỷ lệ tăng so với đại trà
Công
ty
721
Tỷ lệ tăng so với đại trà
Trung bình tỷ lệ tăng so
động: 150.000 đồng
Trang 9Để kết luận về hiệu quả của mô hình, cần đánh giá tổng thể hiệu quả kinh tế của các mô
sau 3 năm trồng Về chi phí thuê mướn, đa phần canh tác cà phê chỉ dựa vào nguồn lao động sẵn có trong gia đình
phí đầu tư cho mô hình là 60.015.000 đồng/ha, cao hơn 19,6 - 21,4% so với đối chứng
(dao động từ 33,3 - 47,0%) Mô hình công ty 720 có doanh thu tăng 33,3% và cho lợi
3.2.2 Xây dựng mô hình theo nhóm hộ tái canh theo kiểu cuốn chiếu theo nhóm hộ, diện tích 15 ha
có ý nghĩa thống kê Đây là cơ sở cho thấy các mô hình tái canh có khả năng thành công
Kết quả theo dõi tỷ lệ cây vàng, cây chết các vườn mô hình cuốn chiếu cho thấy: tỷ lệ
Địa điểm
Khối lượng 100 nhân (g)
Tăng so với đối chứng (%)
Tỷ lệ hạt trên sàng
16 (%)
Tăng so với đối chứng (%)
Tỷ lệ tươi nhân
Trang 101148
Cư Huê
(1,4 ha, 2
hộ)
Cư Ni
(3,2 ha, 5
hộ)
Eakmut
(2,3 ha, 4
hộ)
Cư Yang
(3,7 ha, 5
hộ)
các điểm xây dựng mô hình Mô hình có kích thước hạt tại 4 xã đạt khối lượng 100 nhân
khi đó, đối chứng có kích thước hạt <70% tỷ lệ hạt trên sàng 16 và khối lượng 100 nhân
tươi nhân của đối chứng cũng cao hơn mô hình Đây cũng là điểm nổi trội và khác biệt
hình đã làm tăng chất lượng cà phê, giảm chi phí thu hoạch
EaKmut có năng suất đạt 1,33 tấn nhân/ha cao hơn so với các xã Cư Huê, Cư Ni và Cư
Điều này có thể tiếp tục khẳng định, ứng dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật vào mô hình đã phát huy hiệu quả so với biện pháp của nông dân, làm tăng năng suất và tăng
Trang 11Bảng 4 Năng suất của mô hình tái canh theo kiểu cuốn chiếu
Địa điểm
Sau 30 tháng trồng (tấn nhân/ha)
Tăng so với đối chứng (%)
Dự kiến sau 42 tháng trồng (tấn nhân/ha)
Tăng so với đối chứng (%)
Cư Huê
(1,4 ha;
Cư Ni
(3,2 ha;
5 hộ)
EaKmut
(2,3 ha;
4 hộ)
Cư Yang
(3,7 ha;
5 hộ)
EaKmut có năng suất đạt 1,33 tấn nhân/ha cao hơn so với các xã Cư Huê, Cư Ni và Cư
Điều này có thể tiếp tục khẳng định, ứng dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật vào mô hình đã phát huy hiệu quả so với biện pháp của nông dân, làm tăng năng suất và tăng
Trang 121150
Mô hình
Năng suất (tấn nhân/ha)
Tổng chi phí (1.000đ)
Tổng doanh thu (1.000đ)
Lợi nhuận (1.000đ)
Tỷ lệ tăng so với đại trà
động: 150.000 đồng
Chi phí đầu tư cho mô hình tái canh chuốn chiếu là 61.115.000 đồng/ha, tăng 30,4% so
tăng 31,6% Lợi nhuận của mô hình đạt 36.085.000 đồng/ha/năm, tăng 33,9% so với lợi
hiệu quả hoặc các cây giống xấu trên vườn đang sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, diện tích 10 ha
Đối với mô hình khắc phục cây xấu tại các xã tham gia dự án, người dân hoàn toàn dùng
cưa ghép khắc phục các cây xấu ở 3 xã là 10 ha, trong đó xã EaKmut là 2,4 ha; xã Cư
Ni là 2,8 ha và xã Cư Yang là 4,8 ha Các mô hình áp dụng biện pháp cưa ghép thay thế
Tên
giống
ĐK gốc
(mm)
Chiều cao cây (cm)
Số cặp cành cấp 1
Số CCMQ
Dài cành (cm)
Số đốt trên cành
Số đốt mang quả
Số quả/đốt (quả)
Trang 13Theo dõi tỷ lệ cây ghép sống sau cùng các mô hình sau ghép cho thấy: các dòng vô tính
kém thường chiếm tỷ lệ nhất định trong vườn: sau 6 tháng ghép chiếm 8,2% và sau 12
lượng cục bộ trong thời gian đầu, đây là hiện tượng bình thường ở tất cả các vườn ghép
ghép, đào rãnh bón phân chuồng 20 m3/ha, đánh chồi vượt 1 lần/tháng, kết hợp với phun phân vi lượng qua lá 2 lần Kết quả cho thấy sau 18 tháng ghép cho thấy các giống ghép đều sinh trưởng tốt ở hầu hết các mô hình Trong đó giống TR4 cho kết quả sinh trưởng
tôi đã tính toán được năng suất dự kiến của các cây ghép cải tạo: năng suất sau 30 tháng
đạt 2,90 kg nhân/cây Tổng năng suất toàn mô hình sau 30 tháng dự kiến là 2,29 tấn nhân/ha; năng suất sau 42 tháng dự kiến sẽ đạt 3,07 tấn nhân/ha và vượt trội hơn hẳn so
đương nhau, trong đó giống TR4 và TR11 có số đốt mang quả nhiều hơn nên năng suất
hơn ở các vụ sau
Địa điểm
vườn cây
Số hộ tham gia
NS trước khi ghép cải tạo (tấn nhân/ha)
NS dự kiến sau
30 tháng (tấn nhân/ha)
NS dự kiến sau 42 tháng (tấn nhân /ha)
Cư Ni
Ea Kmut