1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN môn triết học marx – lenin đề tài phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội

15 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội
Người hướng dẫn Ths. Nguyễn Thị Tùng Lâm
Trường học Trường đại học Ngoại Thương
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 41,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNGKHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ---***---TIỂU LUẬN Môn: Triết học Marx – Lenin Đề tài: Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

-*** -TIỂU LUẬN

Môn: Triết học Marx – Lenin

Đề tài: Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối

liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội.

Sinh viên thực hiện:

Mã sinh viên:

Lớp:

Giảng viên hướng dẫn: Ths Nguyễn Thị Tùng Lâm

Hà Nội, tháng 11 năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC

1 LỜI MỞ ĐẦU 3

2 NỘI DUNG 4

2.1 Kiến thức cơ bản về phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến 4

2.1.1 Phép biện chứng 4

2.1.2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 5

2.1.2.1 Khái niệm 5

2.1.2.2 Tính chất 5

2.1.2.3 Ý nghĩa phương pháp luận 6

2.2 Vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội 7 2.2.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội 7

2.2.2 Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội 7

2.2.3 Tăng trưởng kinh tế và công bằng trong xã hội Việt Nam hiện nay 9

2.2.3.1 Quan điểm và vai trò của Đảng 9

2.2.3.2 Thành tựu đã đạt được của Việt Nam hiện nay 10

2.2.4 Những hạn chế và giải pháp 11

2.2.4.1 Hạn chế 11

2.2.4.2 Giải pháp 12

3 KẾT LUẬN 14

4 TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 3

1 LỜI MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam đang tăng khá nhanh, biến nước ta thành một quốc gia được chú ý và đánh giá là có tiềm lực trong nhóm nước đang phát triển Nhưng cũng trong thời gian này vấn đề khoảng cách giàu nghèo ngày một gia tăng khiến cho những bất công trong xã hội, tình trạng suy thoái đạo đức và văn hóa truyền thống cũng từ đó mà nảy sinh Nhưng để một quốc gia có thể vươn lên trong một thế giới phát triển sôi động như hiện nay thì chúng ta cần phát triển không chỉ nhanh mà còn phải bền vững Không công bằng đến mức độ nhất định chắc chắn sẽ gây ra phản ứng tiêu cực từ các đối tượng chịu thiệt và hạn chế sự phát triển dài hạn của xã hội Không những thế, nó còn phát sinh những ảnh hưởng tiêu cực từ phía các đối tượng được lợi quá nhiều và cuối cùng cũng hạn chế sự phát triển dài hạn của đất nước Như vậy, vấn

đề tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội rất cần được chú trọng, đây là tiền đề để tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đảng và chính phủ đã xác định phương hướng “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”

Vì vậy, em lựa chọn đề tài “Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội.” cho bài tiểu luận để phân tích phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và từ đó tìm hiểu, làm rõ mối liên hệ giữa sự phát triển trong kinh tế và sự đảm bảo trong công bằng xã hội ở nước ta để có cái nhìn đúng đắn góp phần xây dựng đất nước đi lên một cách vững bền

Trang 4

2 NỘI DUNG

2.1 Kiến thức cơ bản về phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến

2.1.1 Phép biện chứng

Phép biện chứng được định ngĩa là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy Nó

đã thừa nhận sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan tồn tại theo mối quan hệ phổ biến, chúng vận động, phát triển theo quy luật nhất định Phép biện chứng có nhiệm vụ phải chỉ ra những quy luật đó để định hướng cho con người trong thực tiễn

Trong quá trình phát triển của triết học, phép biện chứng có ba hình thức cơ bản là: phép biện chứng chất phác thời kỳ cổ đại, phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức và phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin Phép biện chứng xuất hiện lần đầu tiên dưới hình thức phép biện chứng chất phác thời cổ đại- một nội dung cơ bản trong hệ thống triết học của Trung Quốc, Ấn Độ và Hi Lạp Phép biện chứng ở thời điểm này nhận thức đúng về tính biện chứng của thế giới nhưng bằng trực kiến thiên tài, bằng trực quan chất phác, ngây thơ, thiếu sự chứng minh bởi thành tựu phát triển của khoa học tự nhiên Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức được khởi đầu từ Kant và đạt tới đỉnh cao ở Hegel Những nhà triết học cổ điển Đức đã xây dựng phép biện chứng duy tâm với hệ thống phạm trù, quy luật chung,

có logic chặt chẽ của ý thức tinh thần Tính chất duy tâm trong phép biện chứng cổ điển Đức cũng như trong triết học Hegel là hạn chế cần phải vượt qua Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Marx – Lenin có hai đặc trưng cơ bản: một là, nó được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học; hai là có sự thống nhất giữa nội dung thế giới quan (duy vật biện chứng) và phương pháp luận (biện chứng duy vật) Do đó nó không dừng lại ở sự giải thích thế giới mà còn là công cụ

để nhận thức và cải tạo thế giới

2.1.2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

Trang 5

2.1.2.1 Khái niệm

Phép biện chứng duy vật có vai trò làm sáng tỏ những quy luật của sự liên hệ và phát triển của tự nhiên, xã hội loài người và của tư duy Vì vậy ở bất kỳ cấp độ phát triển nào của phép biện chứng duy vật, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến vẫn được xem là một trong những nguyên lí có ý nghĩa khái quát nhất

- Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến cho rằng các sự vật hiện tượng và các quá trình khác nhau cấu thành thế giới vừa tồn tại tách biệt nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau

- Mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ các mối ràng buộc tương hỗ, quy định và ảnh hưởng lẫn nhau giũa các yếu tố, bộ phận trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau

- Mối liên hệ phổ biến (chung nhất) mang 2 nghĩa là tính phổ biến của mối liên hệ

và là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật hiện tượng

Mối liên hệ có ba tính chất cơ bản bao gồm tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng

- Tính khách quan : sự quy định, tác động lẫn nhau và làm chuyển hóa lẫn nhau trong tổ chức, kết cấu của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có của

nó, tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào ý thức của con người; con người chỉ có thể nhận thức

và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình

- Tính phổ biến: theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác; đồng thời cũng không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên trong của nó Tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống và còn là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và

5

Trang 6

làm biến đổi lẫn nhau Vậy tất cả mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại và đặt trong mối liên hệ

- Tính đa dạng, phong phú: Các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác nhau đều

có nhiều tổ chức, cấu trúc khác nhau nên có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vai trò, vị trí khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó Mặt khác, cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật nhưng trong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật thì cũng có những tính chất và vai trò khác nhau Đó là các mối liên hệ bên trong và bên ngoài, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu, trực tiếp

và gián tiếp…

- Từ tính khách quan và phổ biển của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện

Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật, hiện tượng và trong

sự tác động qua lại giữa sự vật, hiện tượng đó với các sự vật, hiện tượng khác Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật, hiện tượng và xử lý có hiệu quả các vấn đề của đời sống thực tiễn Như vậy, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, siêu hình trong nhận thức và thực tiễn

- Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, khi thực hiện quan điểm toàn diện thì đồng thời cũng cần phải kết hợp với quan điểm lịch sử - cụ thể

Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu trong việc nhận thức và xử lý các tình huống trong hoạt động thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tình huống phải giải quyết khác nhau trong thực tiễn Phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của mỗi mối liên hệ cụ thể trong những tình huống cụ thể để từ đó có được những giải pháp đúng đắn và có hiệu

6

Trang 7

quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn Như vậy, trong nhận thức và thực tiễn không những cần phải tránh và khắc phục quan điểm phiến diện, siêu hình mà còn phải tránh và khắc phục quan điểm chiết trung, ngụy biện

2.2 Vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội.

2.2.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

- Tăng trưởng kinh tế là một khái niệm kinh tế học, dùng để chỉ sự tăng lên về số lượng, chất lượng sản phẩm xã hội và các yếu tố của quá trình sản xuất ra nó Về mặt số lượng, tăng trưởng kinh tế thường được đo đếm bằng tốc độ tăng trưởng giá trị tổng sản phẩm quốc dân (GDP) và thu nhập bình quân đầu người (GNI/người) Về mặt chất lượng, tăng trưởng kinh

tế được nhìn nhận từ những yếu tố bên trong, gắn liền với tính chất, hiệu quả của quá trình tăng trưởng, như: năng suất lao động, chỉ số cạnh tranh, mức độ tiêu hao nhiên liệu, năng lượng, mức

độ ảnh hưởng đến môi trường, v.v

- Công bằng xã hội là một khái niệm mang tính lịch sử, bị quy định bởi hoàn cảnh

cụ thể; được hiểu là tình trạng mà mọi quyền lợi, nghĩa vụ của các thành viên xã hội có và thực hiện phù hợp với các giá trị xã hội, từ đó khuyến khích tối đa khả năng đóng góp cũng như hạn chế tối thiểu khả năng gây hại của mỗi cá nhân cho xã hội trong dài hạn

2.2.2 Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là hai mặt của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội, có quan hệ biện chứng tương hỗ lẫn nhau, vừa là tiền đề vừa

là điều kiện của nhau Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện vật chất để thực hiện công bằng xã hội Nếu không có tăng trưởng kinh tế thì cũng không có của cải để thực hiện công bằng xã hội về phân phối, tăng thêm thu nhập, cải thiện phúc lợi và giảm nghèo Ngược lại, công bằng xã hội tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, khi các thành phần trong xã hội được đảm bảo đầy đủ theo mức độ đóng góp bằng nhiều hình thức như lao động, đóng góp vốn, tài sản, trí tuệ, trình độ tay nghề sẽ tạo

ra sự kích thích để mỗi cá nhân không ngừng phát huy tính năng động và

7

Trang 8

năng lực sáng tạo của mình Mối liên hệ này có tính phổ biến, sự tác động qua lại lẫn nhau giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội diễn ra trên mọi lĩnh vực của

xã hội từ chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế Nó liên hệ với nhau trực tiếp, giữ vai trò bình đẳng trong việc quyết định sự vận động, phát triển đi lên của đất nước

Kinh nghiệm của nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới cho thấy, nếu tách rời hoặc tuyệt đối hóa mục tiêu kinh tế mà xem thường, coi nhẹ mục tiêu xã hội thì kết cục mục tiêu kinh tế cũng không thể đạt được trọn vẹn Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa mục tiêu xã hội, không coi trọng đúng mức tới các mục tiêu kinh tế, tất yếu sẽ không có cơ sở, nền tảng vật chất để thực hiện mục tiêu xã hội Đảng ta khẳng định, chỉ có sự gắn kết hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với mục tiêu xã hội mới thực hiện được công bằng xã hội một cách bền vững Đồng thời, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tăng trưởng, phát triển kinh tế đến đâu, phải thực hiện ngay công bằng xã hội đến đó Không thể chờ khi nào kinh tế phát triển đến trình độ cao mới thực hiện công bằng xã hội, càng không chấp nhận hy sinh công bằng xã hội để đổi lấy tăng trưởng kinh tế Phải nhất quán “Thực hiện tiến bộ

và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục , giải quyết tốt các vấn

đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người” Đặc biệt, cần coi trọng “gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm để nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước”

Tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện công bằng xã hội là tất yếu khách quan

Ở nước ta trước những năm đổi mới, cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp và chế độ phân phối bình quân đã làm cho nền kinh tế không chỉ không phát triển mà còn trì trệ, dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội vào giữa thập niên 80, buộc chúng ta phải tiến hành đổi mới Những thành tựu mà chúng ta đã đạt được trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội sau đó đã khẳng định rằng, để

Trang 9

thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh đòi hỏi phải kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội Tăng trưởng kinh tế cùng chế độ chính trị ưu việt là điều kiện, yếu tố quan trọng để có công bằng xã hội Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội biểu hiện một cách đa dạng, nó tồn tại độc lập khách quan nhưng bằng sự chủ động và sáng tạo trong công tác lãnh đạo, chúng ta vẫn có thể tác động biến đổi nó theo hướng tích cực, hài hòa, phục vụ cho lợi ích của nhân dân

2.2.3 Tăng trưởng kinh tế và công bằng trong xã hội Việt Nam hiện nay

Quan điểm của Đảng về công bằng xã hội trong nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là kết quả của quá trình Đảng ta nhận thức và vận dụng linh hoạt chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của nước ta; đồng thời, luôn bám sát sự vận động, phát triển của thực tiễn đất nước, tích cực tham khảo kinh nghiệm của các nước trên thế giới Kể từ năm 1986, thực hiện nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6, Việt Nam bước vào giai đoạn đổi mới Từ nền kinh tế chỉ huy, tập trung, bao cấp, Việt Nam chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần được vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước với định hướng xã hội chủ nghĩa Nắm vững phép biện chứng duy vật, biết kế thừa những thành tựu của nhân loại trong tiến trình phát triển, biết sử dụng những hình thức trung gian quá độ để tìm ra những hình thức, bước đi phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa của dân tộc mình, Đảng đã tạo lập và hoàn thiện dần mô hình phát triển mới; đồng thời tìm được những phương thức huy động các nguồn lực để từng bước hiện thực hóa mô hình đó Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch

và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển

Trang 10

2.2.3.2 Thành tựu đã đạt được của Việt Nam hiện nay

Nền kinh tế thị trường hiện nay đã tạo ra cơ hội công bằng cho mọi thành viên

xã hội trong việc tiếp cận các nguồn lực, chủ động lựa chọn việc sản xuất, lựa chọn thị trường Nhà nước bảo vệ quyền tài sản và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh

tế, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh Người tiêu dùng được tự do lựa chọn sản phẩm, quan hệ giữa người sản xuất và người tiêu dùng là bình đẳng, giá cả hàng hóa là sự thỏa thuận của người bán và người mua Đó là công bằng xã hội trên thị trường Nhờ đó, các nguồn lực của xã hội được khơi dậy và đưa vào sử dụng, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế Nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân giai đoạn 1975-1985 của cả nước dao động ở 1,9%-0,6%/ năm, thì giai đoạn

1986 - 2017 đạt 6,6%/năm, năm 2018 đạt 7,08% Năm 2008, Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình thấp, đạt mức 1.154 USD/ người Năm 2018, quy mô nền kinh tế đạt 240,5 tỷ USD, gấp 34 lần sau 32 năm đổi mới, đưa Việt Nam lọt vào

vị trí thứ 49 trong bảng xếp hạng các nước có nền kinh tế mạnh nhất thế giới Đến cuối năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước giảm còn 5,35% Bình quân tỷ lệ

hộ nghèo ở các huyện nghèo giảm còn dưới 35%, ở các xã đặc biệt khó khăn giảm 3-4% so với năm 2017

Sau hơn hai thập kỷ đổi mới, kinh tế Việt Nam với tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng đã đưa đời sống xã hội cải thiện một bước lớn Hiện nay, so với 177 quốc gia

và vùng kinh tế trên thế giới các chỉ số xã hội quan trọng của nước ta đều ở vị trí khá cao: HDI thứ 105; tuổi thọ thứ 56; trình độ học vấn thứ 57 Số liệu của Tổng cục Thống kê (GSO) cho thấy trong hơn hai thập kỷ vừa qua, khoảng cách giàu -nghèo của Việt Nam có sự giãn rộng ra Nguyên nhân là do xuất phát điểm từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, việc phân phối hiện vật mang tính bình quân, khi chuyển sang cơ chế thị trường, chênh lệch giàu - nghèo tăng là tất yếu, hiện độ chênh lệch ở mức trên 8 lần Nhà nước luôn cố gắng để đảm bảo sự công bằng trong xã hội, ví dụ điển hình là trong thời điểm đầu của đại dịch, ta đã thi hành chính sách miễn phí điều trị cho tất cả công dân Việt Nam không phân biệt giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, tôn giáo đã được áp dụng Sức khỏe của người dân

Ngày đăng: 19/05/2022, 21:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1) Giáo trình “Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin”, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
2) TS. Bùi Đại Dũng, ThS. Phạm Thu Phương “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội” Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 25 (2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
5) Hồ Quang Phương: “Thành tựu xóa đói, giảm nghèo tại Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành tựu xóa đói, giảm nghèo tại Việt Nam
3) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.103 Khác
4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 77 – 78 Khác
6) Tổng cục Thống kê Việt Nam và thống kê của IMF Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w