1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN TRIẾT học QUAN điểm DUY vật BIỆN CHỨNG về mối QUAN hệ GIỮA vật CHẤT với ý THỨC và vận DỤNG vào CÔNG CUỘC đổi mới ở nước TA HIỆN NAY 2

20 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 147,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng Lê-nin đã tổng kết những thành tựu khoa học, đồng thời kế thừa tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng ghen để đưa ra định nghĩa kinh điển về vật chất như sau: “ Vật chất là một phạm trù triế

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

-• -TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VỚI Ý THỨC VÀ VẬN DỤNG VÀO CÔNG CUỘC

ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Hương Giang

Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Tùng Lâm

Hà Nội, 12/2021

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

I CỞ SỞ LÝ LUẬN 5

1 Vật chất 5

1.1 Phạ m trù vật chất 5

1.2 Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất 7

1.3 Tính thống nhất vật chất của thế giới 9

2 Ý thức 9

2.1 Nguồn gốc của ý thức 9

2.2 Bản chất của ý thức 11

2.3 Kết cấu của ý thức 12

3 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 13

3.1 Vai trò của vật chất đối với ý thức 13

3.2 Vai trò của ý thức với vật chất 13

II Vận dụng vào công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay 14

1 Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất với ý thức vận dụng vào công cuộc đổi mới của nước ta trong quá khứ 15

2 Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất với ý thức vận dụng vào công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay 17

KẾT LUẬN 19

TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ở thời điểm hiện tại, Đảng và Nhà nước ta đã và đang có những thành tựu nổi bật trong công cuộc kiến thiết và đổi mới đất nước Cùng lúc đó nước ta đang từng bước bồi dưỡng thêm những tiềm lực mới cả bên trong lẫn bên ngoài sẵn sàng cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa kiến thiết đất nước Bên cạnh đó, quan hệ ngoại giao của nước ta với nước bạn ngày một mở rộng, tạo cơ hội để hội nhập, phát triển đất nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những điều đã đạt được, ta phải thừa nhận rằng nước ta vẫn còn nhiều mặt hạn chế cần được Đảng và Nhà nước quan tâm khắc phục Cách mạng khoa học công nghệ phát triển với tốc độ chóng mặt, yêu cầu của xã hội ngày càng cao, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đời sống người dân cần được cải thiện Trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các nước đều phải đối mặt với những thách thức và có cơ hội nganh nhau để cùng phát triển Nhìn nhận một cách khách quan, nước ta còn là một nước nông nghiệp, nguồn lao động và khoa học kỹ thuật còn chưa đủ để đáp ứng những yêu cầu của nền công nghiệp mới Những vấn đề xã hội còn cần được quan tâm hơn nữa để đảm bảo đời sống cho người dân Hiện nay, tình hình dịch bệnh COVID-19 đang có những diễn biến phức tạp, khó kiểm soát và gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến mọi mặt của đời sống.

Trước tình hình đó, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta cần tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện trên khắp đất nước Trong thực tế, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng ta luôn lấy Triết học làm nền tảng hay cụ thể hơn là lấy những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh làm gốc rễ Vì lẽ đó, tìm hiểu mối quan hệ giữa vật chất và ý thức sẽ cho phép chúng ta vận dụng linh hoạt vào công cuộc đổi mới, xây dựng và kiến thiết đất nước

Với những ý nghĩa trên, tác giả xin chọn đề tài “Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, từ đó vận dụng vào công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 4

Mục tiêu nghiên cứu của bài tiểu luận chính là mang lại những thông tin về nhận thức xã hội nhằm tạo điều kiện cho những thay đổi tích cực trong hành động của mỗi cá nhân, tạo thuận lợi cho công cuộc xây dựng đất nước

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

• Hệ thống hóa cơ sở lí luận về quan điểm Triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin

về “Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức”

• Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong cuộc đổi mới của nước ta

4 Đối tượng nghiên cứu

Bài tiểu luận tập tìm hiểu tổng quan về vật chất và ý thức, quan điểm biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, sự tác động qua lại giữa chúng Qua

đó, vận dụng vào công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay

5 Bố cục

Bài nghiên cứu gồm hai phần:

• Vận dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta

Tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Nguyễn Tùng Lâm đã

quan tâm, giúp đỡ trong quá trình học tập và nghiên cứu bộ môn Triết học

Trang 5

I CỞ SỞ LÝ LUẬN

1 Vật chất

1.1 Phạ m trù vật chất

Vật chất lả mộ t phạm trù nền tảng củ a chủ nghĩa duy vật triết học Trong lịch

sử tư tưởng nhân loại, xung quanh vấn đề này luôn xảy ra những cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Bản thân quan niệm của chủ nghĩa duy vật về phạm trù vật chất cũng trải qua lịch sử phát triển lâu dài, gắn liền với những tiến bộ của khoa học và thực tiễn

Vật chất là phạm trù triết học rất phức tạp, mỗi nhà triết học với thế giới quan khác nhau lại đưa ra những quan điểm khác nhau về vật chất Nhưng Lê-nin đã tổng kết những thành tựu khoa học, đồng thời kế thừa tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng ghen để đưa ra định nghĩa kinh điển về vật chất như sau: “ Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.”

Lê-nin đã chỉ ra rằng, để định nghĩa vật chất, không thể định nghĩa theo cách thông thường, quy một khái niệm cần định nghĩa sang một khái niệm khác rộng hơn vì khái niệm vật chất là một khái niệm rộng nhất Chính vì thế ông đã sử dụng phương pháp định nghĩa đặc biệt- đối lập Lê-nin đã đối lập vật chất với ý thức,hiểu vật chất là thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, vật chất tồn tại độc lập đối với cảm giác, với

ý thức, còn cảm giác, ý thức phụ thuộc vào vật chất, phản ánh vật chất

Định nghĩa về vật chất của Lê-nin cho ta thấy:

Thứ nhất, cần phân biệt khái niệm “vật chất” với tư cách là phạm trù triết học (phạm trù khái quát thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi tồn tại vật chất và được xác định từ góc độ giải quyết vấn đề cơ bản của triết học) với khái niệm “vật chất” được sử dụng trong các khoa học chuyên ngành ( khái niệm dùng để chỉ những dạng vật chất cụ thể, cảm tính); không quy vật chất là vật thể

Thứ hai, thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi dạng vật chất là thuộc tính tồn tại khách quan, tức là tồn tại ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức của con người, cho dù con người có nhận thức được hay không nhận thức được nó

Trang 6

Thứ ba, vật chất dưới những dạng cụ thể của nó là cái có thể gây nên cảm giác ở con người kho nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của con người; ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất; vật chất là cái được ý thức phản ánh Từ đó, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau

Thứ tư, con người có khả năng nhận thức được thế giới Giác quan của con người với những năng lực có thể chép lại, chụp lại và phản ánh sự tồn tại của vật chất Sự chép lại, chụp lại, phản ánh của giác quan đối với vật chất càng rõ ràng, sắc nét thì nhận thức của con người về vật chất càng sâu sắc, toàn diện Nói rộng ra, tư duy, ý thức, tư tưởng, tình cảm… của con người chẳng qua chỉ là sự phản ánh, là hình ảnh của vật chất trong bộ óc con người

Thứ năm, Lênin một lần nữa khẳng định lại tính khách quan của vật chất Vật chất tồn tại, vận động và phát triển theo những quy luật vốn có của nó, tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức

Định nghĩa về vật chất của Lê-nin có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa duy vật và nhận thức khoa học:

Một là, bằng việc tìm ra thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của vật chất là thuộc tính tồn tại khách quan, Lênin đã phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa khái niệm vật chất với tư cách là phạm trù triết học với khái niệm vật chất với tư cách là phạm trù khoa học chuyên ngành, từ đó khắc phục được hạn chế trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ, cung cấp căn cứ nhận thức khoa học để xác định những gì thuộc về vật chất: tạo lập cơ sở lý luận cho việc xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử, khắc phục được những hạn chế duy tâm trong quan niệm về xã hội

Hai là, khi khẳng định vật chất là thứ tồn tại độc lập, khách quan, và con người có thể nhận thức được vật chất, Lênin không những khẳng định tính thức nhất của vật chất, tính thứ hai của ý thức theo quan niệm duy vật mà còn khẳng định khả năng con người có thể nhận thức được thực tại khách quan

Ba là, nhờ định nghĩa vật chất của Lê-nin, ta đã giải quyết được vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật và khả tri, định hướng cho các nhà khoa học tự nhiên trong

Trang 7

việc tìm kiếm khám phá ra những dạng, cấu trúc vật chất mới, định hướng cho quan điểm duy vật khi nhận thức về các vấn đề xã hội

Như vậy, chúng ta thấy rằng định nghĩa nhận thức của Lê-nin là hoàn toàn triệt

để, giúp chúng ta xác định được nhân tố vật chất trong đời sống xã hội Nó giúp chúng ta có thái độ khách quan trong suy nghĩ và hành động và xuất phát từ những

cơ sở khách quan 1.2 Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất

a Phương thức tồn tại của vật chất

Vận động là phương thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của vật chất Ph Ăng ghen định nghĩa: “Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất-tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất- thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”

Theo quan điểm của Ph Ăng ghen, vận động không chỉ thuần túy là sự thay đổi vị trí mà là “mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ”; vật chất luôn gắn liền với vận động và chỉ thông qua vận động mà các dạng cụ thể của vật chất mới biểu hiện được sự tồn tại của mình Vận động trở thành phương thức tồn tại của vật chất Vật chất tồn tại khách quan nên vận động cũng tồn tại khách quan và vận động của vật chất là tự thân vận động

Vật chất muốn tồn tại phải vận động, vận động là cái vốn có, tự có của vật chất

Nó không do ai sáng tạo ra và không thể tiêu diệt được do nó được bảo toàn cả về chất

và về lượng Khoa học đã chứng minh được điều này qua định luật Bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, nếu một hình thức vận động nào đó mất đi thì tất yếu một hình thức vận động khác thay thế Các hình thức của vận động thì chuyển hóa lẫn nhau còn vận động của vật chất thì vĩnh viễn tồn tại Nguyên nhân của vận động là do những mâu thuẫn nội tại tồn tại bên trong sự vật, và những biến đổi nói chung của sự vật Vận động có trong mọi sự vật hiện tượng tồn tại trong 3 lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy Muốn nhận thức được sự vật hiện tượng ta phải nhận thức trong trạng thái chuyển động có như vậy ta mới có thể nhận thức được bản chất của sự vật

Trang 8

Dựa trên những thành tựu khoa học ở thời đại mình, Ph.Ăng ghen đã phân chia vận động thành 5 hình thức cơ bản: vận động cơ học ( sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian), vận động vật lý ( vận động của các phân tử, điện tử, các hạt

cơ bản, các quá trình điện nhiệt, ), vận động hóa học ( sự biến đổi các chất vô cơ,hữu cơ trong những quá trình hóa hợp và phân giải) , vận động sinh học ( sự biến đổi các cơ thể sống, biến thái cấu trúc gen, ), vận động xã hội ( sự biến đổi trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa … của đời sống xã hội)

Các hình thức vận động cơ bản nói trên được sắp xếp theo thứ tự từ trình độ thấp đến trình độ cao, tương ứng với trình độ kết cấu của vật chất Các hình thức vận động khác nhau về chất song chúng không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó: hình thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở các hình thức vận động thấp và bao hàm trong nó những hình thức vận động thấp hơn Trong sự tồn tại của mình, mỗi sự vật có thể có nhiều hình thức vận động khác nhau song bản thân nó bao giờ cũng được đặc trưng bởi hình thức vận động cao nhất mà nó có

Mặc dù vật chất luôn ở trong quá trình vận động không ngừng nhưng điều đó không loại trừ mà còn bao hàm cả hiện tượng đứng im Nhưng đứng im là một trạng thái đặc biệt vận động, đó là vận động trong thế cân bằng và đứng im là hiện tượng tương đối, tạm thời Sự vật vẫn còn là nó mà chưa chuyển hóa thành cái khác Từ đó

ta thấy vận động là tuyệt đối, đứng im chỉ mang tính chất tương đối- đứng im chỉ diễn

ra ở một hình thức nào đó trong một thời gian nhất định chứ không tồn tại vĩnh viễn

b Hình thức tồn tại của vật chất

Không gian thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất

Mọi dạng cụ thể của vật chất đều tồn tại ở một vị trí nhất định, có một quảng tính nhất định và tồn tại trong các mối tương quan nhất định với những dạng vật chất khác Những hình thức tồn tại như vậy người ta gọi là không gian Không gian biểu hiện sự cùng tồn tại và tách biệt của các sự vật với nhau, biểu hiện khoảng tính của chúng, trật tự phân bố chúng.Mặt khác,

sự tồn tại của sự vật còn được thể hiện ở quá trình biến đổi: nhanh hay chậm, kế tiếp và chuyển hóa, Những hình thức tồn tại như vậy được gọi là thời gian Thời

Trang 9

gian biểu hiện tốc độ và trình tự diễn biến của các quá trình vật chất, tính cách biệt giữa các giai đoạn khác nhau của các quá trình đó, sự xuất hiện và mất đi của các sự vật hiện tượng.

Không gian và thời gian là hình thức cơ bản tồn tại khách quan của vật chất, bị vật chất quy định Lênin đã chỉ ra trong thế giới, không có gì ngoài vật chất đang vận động, và vật chất đang vận động không thể vận động ở đâu ngoài không gian và thời gian Không gian và thời gian là tồn tại khách quan Nó không phải là hình thức chủ quan để xếp chặt các cảm giác mà ta thu nhận một cách lộn xộn như chủ nghĩa duy tâm quan niệm, cũng như nó không thể đứng ngoài vật chất Không có không gian trống rỗng Không gian và thời gian không phải là bất biến, tuyệt đối, mà trái lại không gian và thời gian có sự biến đổi phụ thuộc vật chất vận động

1.3 Tính thống nhất vật chất của thế giới

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: bản chất của thế giới là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó

Điều đó được thể hiện ở những điểm cơ bản sau:

Một là, chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới của vật chất; thế giới vật chất là cái có trước, tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người

Hai là, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô tận, vô hạn, không được sinh ra và không bị mất đi

Ba là, mọi tồn tại của thế giới vật chất đều có mối quan hệ khách quan, thống nhất với nhau, biểu hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất, hoặc có nguồn gốc vật chất, do vật chất sinh ra và cũng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan phổ biến của thế giới vật chất Trong thế giới vật chất không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang biến đổi và chuyển hóa lẫn nhau; là nguồn gốc, nguyên nhân và kết quả của nhau

2 Ý thức

2.1 Nguồn gốc của ý thức

a Nguồn gốc tự nhiên của ý thức

Ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên cho tới khi xuất hiện con người và bộ óc con người Khoa học đã chứng minh rằng thế giới vật chất nói

Trang 10

chung và trái đất nói riêng đã từng tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện con người, rằng hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lí thần kinh của của bộ não con người Không thể tách rời ý thức ra khỏi bộ não và ý thức là chức năng của bộ não, bộ não là khí quan của ý thức Sự phụ thuộc của ý thức vào sự hoạt động của bộ não thể hiện ở chỗ khi

bộ não bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn Tuy nhiên, không thể quy một cách đơn giản ý thức về các quá trình sinh lí bởi vì óc chỉ là cơ quan phản ánh Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người Sự xuất hiện của ý thức gắn liền với sự phát triển đặc tính của phản ánh, đặc tính này phát triển cùng với sự phát triển của thế giới tự nhiên.

Sự xuất hiện của con người và xã hội loài người đưa lại hình thức của sự phản

ánh, đó là sự phản ánh ý thức

Sự phản ánh ý thức luôn gắn liền với việc làm cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển của xã hội Có 4 hình thức phản ánh gồm phản ánh vật lí, hóa học; phản ánh sinh học; phản ánh tâm lý; phản ánh năng động sáng tạo

b Nguồn gốc xã hội của ý thức

Có nhiều yếu tố cấu thành nguồn gốc xã hội của ý thức trong đó cơ bản nhất và trực tiếp nhất là lao động và ngôn ngữ

Lao động là quá trình con người tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tồn tại và phát triển của mình Lao động là quá trình vừa làm thay đổi cấu trúc cơ thể người, vừa làm giới tự nhiên bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động, của nó qua những hiện tượng mà con người có thể quan sát được Những hiện tượng ấy, thông qua hoạt động của các giác quan, tác động đến bộ óc người và bằng hoạt động của bộ óc, trí thức nói riêng, ý thức nói chung về thế giới khách quan hình

thành và phát triển Nhờ lao động giúp con người chuyển từ di chuyển bằng bốn chi sang hai chi, không chỉ ăn thức ăn từ thực vật mà đã biết tìm đến nguồn thức ăn từ động vật Có lao động, con người biết ăn chín thay vì chỉ ăn sống, phát hiện và sáng tạo ra những công cụ lao động mới Lao động làm cho sự vật bộc lộ những thuộc tính giúp con người nhận biết được bản chất của sự vật, hiện tượng

Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung ý thức Không có ngôn ngữ, ý thức không thể tồn tại và thể hiện “Ngôn ngữ như cái vỏ của tư

Ngày đăng: 19/05/2022, 21:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Nxb. Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nh"ững nguyên lý cơ bả"n c"ủ"a ch"ủ nghĩa"Mác" – "Lênin
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
2. TS. Mai Thị Thanh (Chủ biên), TS. Đinh Thanh Xuân, TS. Trần Việt Thắng, TS. Nguyễn Xuân Trung, TS. Hoàng Thị Hạnh, ThS. Lê Văn Kiện, Hướng dẫn ôn tập môn những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin (Học phần I), Nxb. Bách khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ng d"ẫ"n ôn t"ậ"p mônnh"ững nguyên lí cơ bả"n c"ủ"a ch"ủ nghĩa "Mác-Lênin (H"ọ"c ph"ầ"n I)
Nhà XB: Nxb. Bách khoa Hà Nội
3. Luật sư Nguyễn Văn Dương, Mỗi quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trong nền kinh tế nước ta hiện nay, (2021). [Online]. Địa chỉ:https://luatduonggia.vn/moi-quan-he-bien-chung-giua-vat-chat-va-y-thuc-trong-nen-kinh-te-nuoc-ta-hien-nay/ [Truy cập 02/12/2021] Sách, tạp chí
Tiêu đề: M"ỗ"i quan h"ệ "bi"ệ"n ch"ứ"ng gi"ữ"a v"ậ"t ch"ấ"t và ýth"ứ"c trong n"ề"n kinh t"ế nướ"c ta hi"ệ"n nay
Tác giả: Luật sư Nguyễn Văn Dương, Mỗi quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trong nền kinh tế nước ta hiện nay
Năm: 2021
4. ThS. Vũ Tuấn – Học viện Kỹ thuật quân sự, Vận dụng phép biện chứng duy vật trong quá trình xây dựng và thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ậ"n d"ụ"ng phép bi"ệ"n ch"ứ"ng duyv"ậ"t trong quá trình xây d"ự"ng và th"ự"c hi"ện đườ"ng l"ối đổ"i m"ớ"i c"ủa Đả"ng C"ộ"ng s"ả"n Vi"ệ
5. Báo Chính phủ, Đánh giá khách quan, toàn diện tinh hinh phòng, chống dịch, phát triển KT-XH, (2021). [Online]. Địa chỉ: https://moh.gov.vn/hoat-dong-cua-lanh-dao-bo/-/asset_publisher/TW6LTp1ZtwaN/content/-anh-gia-khach-quan-toan-dien-tinh-hinh-phong-chong-dich-phat-trien-kt-xh [Truy cập 02/12/2021] Sách, tạp chí
Tiêu đề: n tinh hinh phòng, ch"ố"ngd"ị"ch, phát tri"ể"n KT-XH, (2021)
Tác giả: Báo Chính phủ, Đánh giá khách quan, toàn diện tinh hinh phòng, chống dịch, phát triển KT-XH
Năm: 2021

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w