TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNGKHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ---****&****---TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ĐỀ TÀI: PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG K
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
-****&**** -TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI:
PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN
HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI CÔNG
BẰNG XÃ HỘI
Sinh viên thực hiện : NguyễnViệt Dương
Giáo viên hướng dẫn : Trần Huy Quang
Trang 2download by : skknchat@gmail.com
Trang 3MỤC LỤC
TRANG
LỜI MỞ ĐẦU………… ……….……… ……1
NỘI DUNG: CHƯƠNG I: PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN… 2
1.1 SỰ RA ĐỜI CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG……… 2
1.2 NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN……… …… 3
1.2.1 NỘI DUNG NGUYÊN LÝ PHỔ BIỂN……… … 3
1.2.2 Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN……… 4
CHƯƠNG II: MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI……….… ………… 5
2.1 TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ……… …… 5
2.2 CÔNG BẰNG XÃ HỘI - THƯỚC ĐO SỰ PHÁT TRIỂN…… 8
LỜI KẾT……… 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……… 13
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới đang không ngừng vận động và phát triển Càng về sau thì khái niệm phát triển và tăng trưởng kinh tế càng được chú trọng Con người tìm ra nhiều phương pháp để đổi mới kỹ thuật lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất để đạt được
sự tăng trưởng vượt bậc thần kỳ Đặc biệt với sự ra đời của công nghệ thông tin đã đưa con người chinh phục được những nấc thang mới của thế giới quan và vũ trụ bao la Tuy nhiên, xã hội càng phát triển thì lại càng có nhiều vấn đề tiêu cực nảy sinh Một trong những vấn đề gây nhức nhối và là bài toán khó giải quyết với các nhà lãnh đạo trên thế giới là sự công bằng xã hội Trên thực tế, Đảng ta cũng đã nhận thức công bằng xã hội là mục tiêu cốt lõi của chính sách xã hội, nhằm hướng tới ổn định xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng mọi mặt của đời sống nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước Thế nhưng để đảm bảo được sự công bằng ấy thì cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa
Nghiên cứu "Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân
tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội.”, tôi muốn góp
một phần công sức nhỏ bé của mình vào việc tìm hiểu định hướng những con đường phát triển trong những năm tới của nền kinh tế thế giới nói chung cũng như của Việt Nam nói riêng Hoàn thành tiểu luận này tôi đã gia tăng được hiểu biết về các vấn đề tăng trưởng kinh tế cũng như vấn đề công bằng xã hội
Trang 5NỘI DUNG:
CHƯƠNG I PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
1.1 Sự ra đời của phép biện chứng
Triết học ra đời từ thời cổ đại đánh dấu sự ra đời của phép biện chứng Khởi đầu là phép biện chứng tự phát cổ đại, thể hiện rõ nét trong thuyết “âm - dương” của Trung Quốc, đăc biệt là trong nhiều học thuyết của Hi Lạp cổ đại Đến khoảng thế kỷ 17 nửa đầu thế kỷ 18, phương pháp siêu hình thống trị trong tư duy triết học
mà đại diện là Đêcactơ - ông được coi là linh hồn của phương pháp siêu hình Trong khoảng nửa sau thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, đây là thời kỳ tổng kết các lịch sử triết học nhân loại và hình thành hệ thống lớn đó là phương pháp biện chứng duy tâm mà đại diện là Hêgen, ông được coi là tiền đề của phương pháp biện chứng duy vật sau này Ngày nay phép biện chứng đã đạt đến trình độ cao nhất đó là phép biện chứng duy vât Phép biện chứng duy vật được tạo thành từ một loạt những phạm trù, những nguyên lý, những quy luật được khái quát từ hiện thực phù hợp với hiện thực Cho nên nó phản ánh đúng sự liên hệ, sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Nhờ vậy nó đã khắc phục được những hạn chế vốn
có của phép biện chứng tự phát cổ đại cho rằng thế giới là một chỉnh thể thống nhất, giữa các bộ phận của nó có mối liên hệ qua lại, tác động và chịu ảnh hưởng lẫn nhau, thế giới và các bộ phận cấu thành thế giới ấy không ngừng vận động và phát triển Tuy nhiên sự hạn chế của phương pháp biện chứng này là tuy nó cho chúng ta thấy một bức tranh về sự tác động qua lại, sự vận động và phát triển nhưng chưa làm rõ được cái gì đang liên hệ cũng như những quy luật nội tại của sự vận động và phát triển Hơn nữa phép biện chứng duy vật còn sửa được sai lầm của phép biện chứng duy tâm khách quan thời cổ đại mà đại biểu là Hêgen Ông cho rằng sự phát triển biện chứng của thế giới bên ngoài chỉ là sự sao chép lại sự
tự vận động của “ý niệm tuyệt đối ”mà thôi Phép biện chứng duy vật đã chứng minh rằng : những ý niệm trong đầu óc
Trang 6của chúng ta chẳng qua là sự phản ánh của các sự vật hiện thực khách quan, do đó bản thân biện chứng của ý niệm chỉ đơn thuần là sự phản ánh có ý thức của sự vận động biện chứng của thế giới hiện thực khách quan.Như vậy phép biện chứng duy vật đã khái quát một cách đúng đắn những quy luật vận động và sự phát triển chung nhất của thế giới Vì vậy P.Ăngen đã định nghĩa: “phép biện chứng… là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy.”
1.2 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
1.2.1 Nội dung nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
Phép biện chứng duy vật có vai trò làm sáng tỏ những quy luật của sự liên
hệ và phát triển của tự nhiên, xã hội loài người và của tư duy Vì vậy ở bất kỳ cấp
độ phát triển nào của phép biện chứng duy vật, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến vẫn được xem là một trong những nguyên lí có ý nghĩa khái quát nhất Nguyên lí
về mối liên hệ phổ biến cho rằng các sự vật hiện tượng và các quá trình cấu thành thế giới đó vừa tách biệt nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau.Trong đó liên hệ là sự tác động qua lại lẫn nhau, là điều kiện tiền đề tồn tại cho nhau, là sự quy định lẫn nhau, sự chuyển hoá lẫn nhau của các mặt, các yếu
tố, các thuộc tính cấu thành sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Ngoài ra những người theo quan điểm duy vật biện chứng còn khẳng định cơ sở của sự liên
hệ qua lại giữa các sự vật và hiện tượng chính là tính thống nhất vật chất của thế giới Theo quan điểm này, các sự vật, các hiện tượng trên thế giới dù có đa dạng,
có khác nhau như thế nào đi chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới vật chất Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của sự liên hệ giữa các
sự vật, các hiện tượng, các quá trình mà nó còn nêu rõ tính đa dạng của sự liên hệ qua lại đó Tính đa dạng của sự liên hệ do tính đa dạng trong sự tồn tại, sự vận động và phát triển của chính các sự vật và hiện tượng quy định Có mối liên hệ bên trong là mối liên hệ qua lại, là sự tác động lẫn nhau giữa các
Trang 7bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt khác nhau của một sự vật, nó giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật Có mối liên
hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, các hiện tượng khác nhau.Tuy nhiên mối liên hệ bên ngoài cũng hết sức quan trọng, đôi khi còn giữ vai trò quyết định Ngoài ra còn có mối liên hệ chủ yếu, có mối liên hệ thứ yếu, có mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới, hay bao quát một số lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực riêng biệt của thế giới Có mối liên hệ trực tiếp, gián tiếp mà trong đó sự tác động qua lại được thực hiện thông qua một hay một số khâu trung gian Có mối liên hệ bản chất, không bản chất, có mối liên hệ tất yếu, ngẫu nhiên… Sự vật, hiện tượng nào cũng vận động và phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau, giữa các giai đoạn đó cũng có mối liên hệ với nhau tạo thành lịch sử phát triển hiện thực của các sự vật
và các quá trình tương ứng Quan điểm duy vật biện chứng về sự liên hệ đòi hỏi phải thừa nhận tính tương đối trong sự phân loại đó Các loại liên hệ khác nhau có thể chuyển hoá cho nhau Sự chuyển hoá đó có thể diễn ra hoặc do thay đổi phạm
vi bao quát khi xem xét hoặc do kết quả vận động khách quan của chính sự vật hiện tượng ấy
1.2.2 Ý nghĩa phương pháp luận về mối liên hệ phổ biến
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến xét dưới góc độ thế giới quan thì nó phản ánh tính thống nhất của vật chất và thế giới Các sinh vật, hiện tượng trên thế giới
dù có đa dạng, có khác nhau như thế nào chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất đó là thế giới vật chất Xét dưới góc độ nhận thức lí luận, nó là cơ sơ lí luận của quan điểm toàn diện Với tư cách là một nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhận thức các sự vật, hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi để có nhận thức đúng về sự vật chúng ta cần xem xét nó: một là : trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật đó, hai là : trong mối liên hệ qua lại giữa các sự vật đó với các sự vật khác, kể cả trực tiếp lẫn gián tiếp Hơn thế nữa quan điểm toàn diện đòi hỏi để nhận thức đúng sự vật, xem xét nó trong mối quan hệ với nhu cầu thực tiễn của con người Đồng thời phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối
Trang 8liên hệ của sự vật đến chỗ khái quát để rút ra bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tượng đó Nhưng quan điểm toàn diện không đồng nhất với cách xem xét dàn trải, liệt kê những quy định khác nhau của sự vật hay hiện tượng đó, nó đòi hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản nhất, cái quan trọng nhất của sự vật hay hiện tượng đó Với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận trong hoạt động thực tiễn, nguyên lí về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi để cải tạo được sự vật, chúng ta phải bằng hoạt động thực tiễn của mình biến đổi những mối liên hệ nội tại của sự vật cũng như mối liên hệ qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác Muốn vậy phải sử dụng đồng bộ nhiều phương pháp, nhiều phương tiện khác nhau để tac động nhằm thay đổi những liên hệ tương ứng Để tránh những phương pháp luận sai lầm trong việc xem xét sự vật, hoạt động cần tránh chủ nghĩa chiết trung, thuật nguỵ biện Mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại trong không gian thời gian nhất định
và mang dấu ấn của không gian thời gian đó Do đó chúng ta cần có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét và giải quyết mọi vấn đề thực tiễn đặt ra
-****&**** -CHƯƠNG II
MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI
2.1 Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là khái niệm mà các nhà kinh tế học, các nhả quản lý, các nhà hoạt động chính trị thường xuyên sử dụng Hiểu một cách giản lược thì tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên của tổng sản phẩm trong nước (GDP) hàng năm Đây
là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá một cách tổng quát tình hình kinh tế của mỗi nền kinh tế, là căn cứ để dự báo sự phát triển tiếp theo của nền kinh tế đó trong những năm sau
Để đạt được sự tăng trưởng kinh tế tốt nhất là đề đạt được sự tăng trưởng ở mức cao thì cần có sự phối hợp đồng bộ giữa điều hành vĩ mô và điều khiển vi
Trang 9mô, kết hợp nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan, vận dụng các quy luật kinh
tế và sử dụng các công cụ đòn bẩy như thuế, tiền tệ, lãi suất, việc làm Trong điều kiện kinh tế thị trường toàn cầu như hiện nay, mỗi nước không thể tự đóng khung mình lại mà phải trao đổi, giao lưu và hội nhập với thế giới bên ngoài, mờ rộng quan hệ kinh tế quốc tế, đấy mạnh xuất - nhập khẩu, tổ chức kinh tế theo hưởng
mở có kiểm soát Do vậy, tăng trưởng kinh tế là vấn đề cực kỳ quan trọng, liên quan đến sự thịnh suy của một quốc gia Bởi thế, chính phủ nước nào cũng ưu tiên các nguồn lực của mình cho sự tăng trưởng kinh tế, coi đó là cái gốc, là nền tảng
để giải quyết mọi vấn đề khác Trên cơ sở giải quyết vấn đề tảng trưởng kinh tế tạo
ra nhiều của cải mới, người ta mới có thể giải quyết hàng loạt vấn đề khác như cân bằng ngân sách, đầu tư chiều sâu, phúc lợi xã hội, giải quyết việc làm, chống lại các loại tội phạm, đảm bảo ngân sách cho quốc phòng an ninh
Ngược lại nếu không đạt được sự tăng trưởng kinh tế ở mức độ cần thiết thì trong
xã hội sẽ có khả năng nảy sinh hàng loạt vấn đề rất nan giải Bài học của Việt Nam trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế trầm trọng (khoảng những năm 1976 - 1986) đã cho ta thấy rõ vai trò của sự tăng trưởng kinh tế quan trọng như thế nào.Để có thể hiểu rõ hơn về khái niệm tăng trưởng kinh tế, theo tôi, cần thiết phải so sánh với khái niệm phát triển Đối với mỗi xã hội, thông thường nói tới phát triển là nói tới
sự đi lên, sự tiến bộ của toàn xã hội một cách toàn diện, bao gồm sự tổng hợp của các nhân tố: Tăng trưởng kinh tế cao, thu nhập quốc dân tính trên đầu người tăng liên tục, mức sống của đại đa số dân cư được cài thiện, các giá trị tinh thần và văn hóa được đề cao…
Khái niệm phát triển như vậy có nội dung phong phú hơn và toàn diện hơn khái niệm tăng trưởng, phát triển bao hàm trong nó sự vận động của cả một hệ thống,
sự cùng chiều của các động lực sự thống nhất cao của toàn xã hội và tính mục đích Phát triển cũng đồng thời là sự gạt bỏ, loại trừ, hạn chế các lực cản, các tác động ngược Muốn tạo ra được sự phát triển, tức là tạo được sự thay đổi về chất của xã hội, thì phải có sự tích lũy về lượng, trong đó tăng trưởng kinh tế là sự tích lũy quan trọng nhất
Trang 10Như vậy, tương quan tăng trưởng, phát triển, trước hết là mối tương quan cần được xem xét từ góc độ triết học Một sự phân tích triết học về phát triển, nhất là việc vận dụng những quy luật cơ bản của phép biện chứng là rất cần thiết và bổ ích, cho phép tránh được những sai lầm có thể có Mặt khác, việc tăng trưởng kinh tế,ngoài các yếu tố khác như nguồn tài nguyên thiên nhiên, tích lũy tư bản, thì yêu cầu phải có một nguồn vốn nhân lực mà trong đó, lao động có trình độ cao, lao động được đào tạo ngày càng chiếm tỷ lệ lớn, tức là nguồn nhân lực phải đáp ứng được các yêu cầu hiện đại của nền sàn xuất xã hội Cuộc cách mạng về khoa học
và công nghệ hiện nay đang chuyển dần một bộ phận loài người (chứ không phải tất cả loài người) từ nền văn minh công nghiệp sang nền văn minh thông tin, từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin Và như vậy, việc hình thành và duy trì được một hệ thống luật pháp, hệ thống chính sách để đảm bảo sự công bằng xã hội, kích thích sự phát triển của các chủ thể xã hội, đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất sự làm ăn phi pháp, sự mâu thuẫn giữa các nhóm xã hội, các tầng lớp dân cư; đưa được sự phát triển của cá nhân cùng chiều với sự phát triển của xã hội, theo những chuẩn mực của xã hội
Chủ nghĩa tư bản hiện đại đã chống đỡ một cách có hiệu quả sự khủng hoàng theo chu kỳ về kinh tế, nhưng không chống đỡ nổi sự suy thoái và trì trệ kinh tế Một điều khá lý thú mà các nhà phân tích cho là nguyên nhân sự phát triển không bền vững của các nước như Mỹ, Nhật bản… không phải do kinh tế mà do những vấn đề xã hội tạo ra Đó là tình trạng thất nghiệp, sự bóc lột sức lao động quá đáng
và tinh vi làm kiệt quệ con người, là sự thờ ơ với công việc của tầng lớp thanh niên
và trung niên, sự phân tầng xã hội ngày càng sâu sắc làm con người mất lòng tin vào tương lai và phải tìm sự cứu viện trong tôn giáo, thần linh và các lực lượng siêu nhiên khác…
Như vậy, đối với xã hội, vấn đề mấu chốt không chỉ là phát triển mà là sự phát triển bền vững, không chỉ nhằm tới sự giàu có của hiện tại mà là sự phồn vinh trong tương lai Phát triển bền vững đang là một bài toán rất khó giải đối với nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay
Trang 112.2 Công bằng xã hội, thước đo sự phát triển
Tăng trưởng kinh tế là một cách cơ bản để có thể có được sự phát triển, nhưng trong bản thân nó là một đại diện rất không toàn vẹn của tiến bộ" Một tiêu chí khác của sự phát triển cũng quan trọng không kém so với tiêu chí tăng trưởng kinh
tế đó là công bằng xã hội và các giá trị con người Khác với khái niệm tăng trưởng kinh tế trong kinh tế học ở chỗ mang tính thực chứng, là cái có thể xác định bằng con số, khái niệm công bằng xã hội mang tính chuẩn tắc, nghĩa là tuỳ thuộc nhiều vào quan điểm của con người Nội dung cơ bản nhất của công bằng xã hội là xử lý hợp lý nhất quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định Để phản ánh được nội dung cơ bản này, các nhà kinh tế hiện nay thường sử dụng hai khái niệm về cân bằng:
Công bằng theo chiều ngang: đối xử như nhau với người có đóng góp như nhau
Công bằng theo chiều dọc: đối xử khác nhau với người có khác biệt bẩm sinh hoặc có điều kiện xã hội khác nhau (do khả năng và kĩ năng lao động khác nhau, cường độ làm việc khác nhau, sự khác nhau về nghề nghiệp, sự khác nhau về giáo dục đào tạo, thừa kế và chiếm hữu tài sản khác nhau, gánh chịu rủi ro khác nhau
Hiện nay, công bằng xã hội thường được hiểu là một phạm trù chính trị - xã hội
- văn hóa với ý nghĩa chủ yếu là nói lên mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, mối quan hệ giữa các thành viên trong xã hội dựa trên nguyên tắc của sự hài hòa giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ Như vậy, nói tới công bằng xã hội là người ta nói tới sự ngang bằng nhau ở một mức độ nào đó của con người trong xã hội theo phương diện lao động và thu nhập: với một nguyên tắc, lao động ngang nhau thì sự hưởng thụ phải ngang nhau
Thực ra, quan niệm về công bằng xã hội như trên là không đầy đủ và chưa toàn diện, mặc dù quan niệm đó có cơ sở chắc chắn là dựa vào các tiêu chuẩn lao động