1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN KINH tế CHÍNH TRỊ mác LÊNIN đề tài VAI TRÒ của NHÀ nước VIỆT NAM TRONG nền KINH tế THỊ TRƯỜNG

23 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 71,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những điều trên đã khẳng định tầm quan trọng của nhà nước trong phát triển nền kinh tế thị trường nên em chọn đề tài “ Vai trò của nhà nước Việt Nam trong nền kinh tế thị trường” để t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

-*** -TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN

ĐỀ TÀI: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG

NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Họ và tên sinh viên: Lê Thu Cúc

Mã số sinh viên: 2114810013 Lớp hành chính: K60-Anh 02-KTKT Lớp tín chỉ: TRI115.6

Giảng viên hướng dẫn: ThS Đặng Hương Giang

Trang 2

Hà Nội, tháng 4 năm 2022

Trang 3

MỤC LỤC

A LỜI MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 3

1.Những lý luận về vai trò của Nhà nước 3

1.1 Một số quan điểm về vai trò của Nhà nước 3

1.2 Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường 7

1.2.1 Vai trò của Nhà nước trong quốc phòng và trong việc sản xuất, tiêu dùng các hàng hoá công cộng 7

1.2.2 Vai trò của Nhà nước đối với các yếu tố ngoại vi 8

1.2.3 Vai trò của Nhà nước đối với vấn đề thu nhập và phúc lợi 10

1.2.4 Vai trò của Nhà nước trong các chính sách tài chính và tiền tệ 11

2.Những lý luận về nền kinh tế thị trường 12

2.1 Khái niệm 12

2.2 Ưu điểm 13

2.3 Khuyết điểm 14

3 Vai trò của Nhà nước Việt Nam trong nền kinh tế thị trường 14

3.1 Đặc trưng chủ yếu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta 14

3.2 Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 16

3.3 Thực tiễn vai trò nhà nước trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam 18

C KẾT LUẬN 23

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Trong quá trình phát triển kinh tế của loài người, nền kinh tế thị trường đãphản ánh một bước ngoặt lớn của văn minh nhân loại Từ một nước nghèo, kémphát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội nhất định phải phát triển kinh tế thị trường,

sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xãhội Cơ chế thị trường cho phép phát triển tiềm năng kinh doanh, khai thác triệt đểtìm kiếm lợi nhuận, sản xuất hiệu quả Nhận thức được điều đó, đất nước ta đãthực hiện đường lối đổi mới, chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơchế thị trường có sự quản lí của nhà nước

Lịch sử đã chứng minh rằng, các nền kinh tế thị trường thành công nhất đềukhông thể phát triển một cách tự phát nếu thiếu sự can thiệp và hỗ trợ của Nhànước Đặc biệt là ngày nay, khi cả thế giới đang phải đối phó với đại dịch Covid-

19, trải qua sự bất ổn của các nền kinh tế thị trường hiện đại, gặp vô vàn khó khăntrong giai đoạn khôi phục kinh tế toàn cầu Đồng thời cùng với sự phát triểnnhanh chóng của khoa học, công nghệ thông tin, nếu không có sự điều tiết trong

cơ chế thị trường của nhà nước thì sẽ không giải quyết được nhiều vấn đề kinh tếxảy ra

Việt Nam đang trong quá trình đi lên xã hội chủ nghĩa cần xây dựngmột nền kinh tế có hiệu quả, cân bằng ổn định, vận hành đúng đắn Trên conđường phát triển đó thì càng không thể thiếu sự quản lý của nhà nước Từ đó,thúc đẩy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực để giúp nước ta cốgắng theo kịp xu hướng của thế giới

Từ những điều trên đã khẳng định tầm quan trọng của nhà nước trong phát

triển nền kinh tế thị trường nên em chọn đề tài “ Vai trò của nhà nước Việt Nam

trong nền kinh tế thị trường” để thực hiện nghiên cứu trong bài tiểu luận môn

Kinh tế chính trị Mác – Lênin Bài tiểu luận của em chỉ đưa ra một số vấn đề nêncòn nhiều thiếu sót và hạn chế Em mong cô bỏ qua những sai sót em mắc phải vàđưa ra góp ý để em có thể khắc phục cho bài tiểu luận hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn cô giáo ThS Đặng Hương Giang đã giúp đỡ để

em hoàn thành đề tài này

Trang 5

NỘI DUNG1.Những lý luận về vai trò của Nhà nước

1.1 Một số quan điểm về vai trò của Nhà nước

1.1.1 Cách nhìn của trường phái Tân cổ điểnCũng giống như các nhà kinh tế Cổ điển, trường phái Tân cổ điển khôngxem xét vai trò của nhà nước một cách biệt lập mà đặt nó trong một hệ thống lýthuyết chung Họ đưa ra một quan niệm tổng quát về nền kinh tế thị trường để từ

đó đánh giá vai trò của nhà nước, phân biệt rõ chỗ nào để thị trường hoạt động,chỗ nào cần nhà nước can thiệp

Theo phái Tân cổ điển, nền kinh tế thị trường là một hệ thống mang tính ổnđịnh, mà sự ổn định bên trong là thuộc tính vốn có chứ không phải là kết quả sựsắp đặt của nhà nước Khả năng đó được quyết định bởi một cơ chế đặc biệt - “cơchế cạnh tranh tự do.” Cạnh tranh tự do thường xuyên bảo đảm sự cân bằngchung của nền kinh tế Chính cơ chế này cho phép phân bổ các nguồn lực mộtcách hợp lý, tận dụng triệt để mọi nguồn lực và dẫn đến quan hệ phân phối mangtính công bằng giữa các bộ phận xã hội Công bằng ở đây theo nghĩa, những bộphận nào có khả năng thích ứng tốt nhất với những diễn biến và những nhu cầuthị trường thì sẽ có thu nhập chính đáng Nếu như trên thực tế xảy ra những hiệntượng không bình thường thì phải tìm nguyên nhân của những hiện tượng đó từchính sách can thiệp của nhà nước

Theo quan niệm phổ biến của phái Tân cổ điển, để lựa chọn được cách canthiệp hợp lý, nhà nước phải hiểu được cấu trúc của nền kinh tế thị trường, cơ chếvận hành của nó và tôn trọng những quy luật khách quan liên quan đến cung - cầu.Muốn xác định chính xác ngưỡng can thiệp thì phải hiểu những nhân tố ảnhhưởng tới cung - cầu và những điều kiện cho sự cân bằng cung và cầu Cũng theocác nhà kinh tế Tân cổ điển, cạnh tranh tự do không bao giờ nảy sinh một cách tựnhiên, nó chỉ xuất hiện và phát huy tác dụng khi được đảm bảo bởi nguyên tắc sốmột: sở hữu tư nhân

Đây là cơ sở để nền kinh tế thị trường thích ứng với mọi sự thay đổi của giá

cả Chính chế độ sở hữu tư nhân là nhân tố cơ bản làm cho nền kinh tế thị trườngluôn khôi phục được sự cân bằng chung Do vậy, khi nhà nước thu hẹp không

Trang 6

gian kinh tế của khu vực tư nhân chắc chắn dẫn tới sự bất ổn.

Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, quyền tự do kinh doanh của các nhà sảnxuất và quyền tự do lựa chọn của người tiêu dùng là những lực lượng chế ngự,chi phối; chế độ tư hữu là cơ sở bảo đảm cho sự hòa hợp tự nhiên, do vậy khôngcần sự điều chỉnh nào của chính phủ hay các cơ quan điều tiết khác

Với những quan niệm trên đây, trường phái Tân cổ điển khuyến nghị nhànước nên dừng ở những chức năng chính là: 1- Duy trì ổn định chính trị; 2-Tạomôi trường pháp luật ổn định và chính sách thuế khóa hợp lý, khuyến khíchngười tiêu dùng; 3- Sử dụng hợp lý ngân sách quốc gia,

hướng chi tiêu ngân sách cho mục tiêu phát triển kinh tế như đào tạo nhân lực,nghiên cứu cơ bản để đổi mới công nghệ, hỗ trợ cho những ngành sản xuất cótriển vọng cạnh tranh cao trên thị trường thế giới Ngoài những chức năng cơbản đó, nhà nước không nên can thiệp gì thêm, hãy để cho giới kinh doanh vàngười tiêu dùng quyết định những vấn đề còn lại

1.1.2 Quan niệm của Keynes và trường phái Keynes

So sánh cách nhìn của Keynes và cách nhìn của Tân cổ điển, có thể thấy sựkhác nhau căn bản trong quan niệm về vai trò của nhà nước Nếu Tân cổ điển chorằng nhà nước không nên điều tiết trực tiếp mà chỉ dừng lại ở chức năng tạo môitrường thì Keynes khẳng định, muốn thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp và suythoái, nhà nước phải trực tiếp điều tiết kinh tế Cách thức điều tiết là thông quanhững chương trình công cộng và dùng những chương trình này để can thiệp tíchcực với hướng kích thích và duy trì tốc độ gia tăng ổn định của tổng cầu Khi tổngcầu tăng sẽ kích thích sức sản xuất, các doanh nghiệp hoạt động mở rộng sẽ thunhận thêm nhân công, thất nghiệp được giải quyết và sản lượng quốc gia tăng lên

Để minh họa cho điểm này, Keynes đưa ra cách lập luận mới về đầu tư khác hẳnvới trường phái Tân cổ điển Theo các nhà kinh tế Tân cổ điển, mức đầu tư gắnchặt với lãi suất và nếu lãi suất thấp, quan hệ vay vốn được khuyến khích dẫn đến

sự gia tăng quy mô đầu tư Khi nền kinh tế bắt đầu rơi vào tình trạng suy thoái, lãisuất sẽ giảm và do đó dẫn đến mức đầu tư tăng lên Trường phái Tân cổ điển chorằng đây là quy luật tự điều tiết và chính quy luật đó giúp tạo khả năng ngăn chặnsuy thoái Ngược lại, theo Keynes, ở thời điểm suy thoái, ngay cả những nhà đầu

tư mạo hiểm nhất cũng không dám đầu tư kể cả khi lãi suất thấp vì họ cho rằng bỏvốn vào kinh doanh trong bối cảnh như vậy chắc

Trang 7

chắn sẽ thua lỗ Như vậy không có một cơ chế tự hành nào có thể thúc đẩy nềnkinh tế tư bản đến khả năng sử dụng hết nguồn nhân lực và làm cho hoạt độngđầu tư tăng lên một cách đều đặn Do vậy, để ổn định nền kinh tế và thích ứng vớibiến động suy thoái thì giải pháp tất yếu và cần thiết là sự can thiệp của chínhphủ.

Chính phủ có thể can thiệp vào nền kinh tế thông qua công cụ chính sách tàikhóa, bao gồm thuế và chi tiêu ngân sách Keynes nhấn mạnh vấn đề chi ngânsách và cho rằng chính phủ nên cung ứng những kích thích ban đầu bằng nhữngchương trình kinh tế công cộng Những chương trình kinh tế công cộng đó, mộtmặt tạo ra việc làm, mặt khác dẫn đến tăng cầu về tư liệu sản xuất Nó còn có thểdẫn đến sự xuất hiện của những hình thức hoạt động dịch vụ thu hút khối lượnglao động lớn, làm tăng hơn nữa số lượng việc làm Nhu cầu tiêu dùng của cá nhân

có khả năng thanh toán tăng tạo lực đẩy kích thích khu vực kinh tế tư nhân pháttriển, khôi phục niềm tin kinh doanh Cách thức can thiệp của chính phủ như vậy

sẽ dẫn đến hiệu ứng số nhân cho nền kinh tế

Theo một hướng khác, nhà nước có thể kích thích cầu đầu tư bằng cách tăng sốcung về tiền tệ, hay là chấp nhận lạm phát “có kiểm soát.” Để làm tăng cung tiền

tệ, chính phủ có thể tăng nguồn vốn cho vay, giảm lãi suất và do đó kích thích sựgia tăng của đầu tư Sự gia tăng này cũng nhân bội sản lượng và thu nhập của nềnkinh tế quốc dân Theo Keynes, trong hai vấn nạn của nền kinh tế tư bản là lạmphát và thất nghiệp thì thất nghiệp nguy hiểm hơn nhiều lần so với lạm phát Khinền kinh tế đạt trạng thái cân bằng với mức sản lượng và việc làm cao hơn thì lạmphát tự động ngừng lại

Để tác động đến tiêu dùng của dân cư, Keynes cho rằng sự điều tiết của chínhphủ cũng rất quan trọng Muốn kích thích nhu cầu tiêu dùng trước hết phải điềuchỉnh chính sách thuế theo hướng giảm thuế thu nhập, kết hợp với các biện phápkích thích đầu tư Khi thuế giảm, thu nhập sẽ tăng nên tiêu dùng và tiết kiệm cũngtăng Nếu đầu tư cùng tăng với tiết kiệm, kết quả tổng hợp lại là gia tăng mứctổng cầu, làm thu nhập quốc dân tăng

Từ cách lập luận của Keynes có thể nhận định rằng, nền kinh tế thị trườngkhông có khả năng tự điều tiết tuyệt đối và vô hạn Do vậy, để thúc đẩy sự tăngtrưởng đều đặn, nhà nước phải trực tiếp can thiệp và điều tiết Keynes đề xuất

Trang 8

phải tổ chức lại nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa theo một nguyên tắc gọi là: “Chủ nghĩa tư bản có điều chỉnh.”

Dựa trên cơ sở lý thuyết của Keynes, các nhà kinh tế học tiếp tục xây dựngthành trường phái Keynes Trường phái này phát triển các lý thuyết Keynes trongđiều kiện mới trên cơ sở thừa nhận các nguyên nhân của khủng hoảng, thấtnghiệp, tác động của tiêu dùng, đầu tư tư nhân đến tổng cầu và tiếp tục ủng hộ sựcan thiệp của nhà nước vào kinh tế thông qua các chính sách khuyến khích đầu

tư, tiêu dùng Trường phái Keynes đã phát triển việc phân tích nền kinh tế từtrạng thái tĩnh, ngắn hạn sang phân tích động, dài hạn; đưa ra các lý thuyết giaođộng kinh tế và tăng trưởng kinh tế, cụ thể hóa các chính sách kinh tế và hoànthiện cơ chế điều chỉnh nền kinh tế TBCN

1.2 Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường

1.2.1 Vai trò của Nhà nước trong quốc phòng và trong việc

sản xuất, tiêu dùng các hàng hoá công cộng

Với chức năng kinh tế, nhà nước không chỉ là người quản lý, người ban hànhcác quy định, các luật chơi trên thị trường, mà còn đóng vai trò chủ thể hoạt độngsản xuất (nhất là các hàng hóa và dịch vụ công), là người mua và bán các hànghóa, dịch vụ trên thị trường Như vậy lúc này quan hệ giữa nhà nước và thị trườngbiểu hiện ra là quan hệ giữa các chủ thể trên thị trường, quan hệ giữa những ngườimua và người bán hàng hóa và dịch vụchịu sự tương tác, giàng buộc của các quyluật kinh tế trên thị trường, cũng như sự quản lý điều hành của nhà nước thôngqua hệ thống quy định luật pháp và các công cụ quản lý

Quốc phòng là một ví dụ chứng tỏ vai trò tối quan trọng của Nhà nước Điều

đó được quyết định bởi quốc phòng là một kiểu hàng hoá hoàn toàn khác hẳn vớicác loại hàng hoá vật thể khác ở chỗ, người ta không trả tiền cho mỗi đơn vị sửdụng mà mua nó như một tổng thể nhằm mục đích bảo vệ an ninh của cả một quốcgia Ở đây, bảo vệ cho một cá nhân không có nghĩa là giảm bảo vệ cho ngườikhác, bởi tất cả mọi người tiêu thụ các dịch vụ quốc phòng một cách đồng thời

Các loại hàng hoá kiểu như vậy được gọi là hàng hoá công cộng, bởi khôngmột doanh nghiệp tư nhân nào có thể bán quốc phòng của toàn dân cho các côngdân riêng lẻ và coi đó là nghề kinh doanh thu lãi Đơn giản là không thể có

Trang 9

chuyện dịch vụ quốc phòng lại được đem rao bán cho những người cần hoặckhông thực hiện bảo vệ an ninh quốc gia, cho những người từ chối chi trả kinh phícho quốc phòng Hơn nữa, hàng hoá công cộng là thứ hàng hoá không thể định giáchính xác được, cho nên tư nhân không thể cung cấp Đấy là nguyên nhân chínhgiải thích vì sao quốc phòng phải do n h à nước điều hành và chi phí cho quốcphòng phải được lấy từ nguồn tài chính công, từ ngân sách Nhà nước có đượcthông qua thuế.

Hàng hoá công cộng có ba đặc tính: tính không kình địch trong tiêu dùng, tínhkhông loại trừ (nonexcluđability) và tính không thể không tiêu dùng mà tựu trunglại, tất cả mọi người đều có nghĩa vụ và quyền lợi tiêu dùng hàng hoá công cộngnhư nhau Có nhiều ví dụ về hàng hoá công cộng, từ các biện pháp chống lũ lụtcho đến việc phòng chống vũ khí nguyên tử, nhưng hai ví dụ có thể thấy rõ vai tròcủa Nhà nước một cách trực tiếp và thường xuyên nhất, đó là xây dựng cơ sở hạtầng và ổn định kinh tế vĩ mô

Một nền kinh tế không thể "cất cánh" được trừ phi nó có được một cơ sở hạtầng vững chắc Nhưng cũng do tính không thể phân chia của hàng hoá công cộng

mà các tư nhân thấy rằng đầu tư vào đây không có lợi Vì thế, ở hầu hết các nước,Nhà nước bỏ vốn vào đầu tư cơ sở hạ tầng, ổn định kinh tế vĩ mô cũng có thể xemnhư là hàng hoá công cộng Đặc điểm của nền kinh tế thị trường là sự bất ổn định

do các cuộc khủng hoảng chu kỳ Sự ổn định kinh tế rõ ràng là điều mà mọi Nhànước đều mong muốn và nó có lợi cho tất cả mọi người Do vậy, chính Nhà nướcphải chịu trách nhiệm duy trì sự ổn định đó trên tầm vĩ mô

1.2.2 Vai trò của Nhà nước đối với các yếu tố ngoại vi

Yếu tố ngoại vi được hiểu như là những hoạt động của một chủ thể nhất địnhnào đó gây tác động đến các đối tượng này không được đền bù hoặc không phải bịđền bù

Các chủ thể và đối tượng tác động ở đây có thể là cá nhân hoặc các đơn vị sảnxuất kinh doanh Sự tác động của các chủ thể này là sự tác động tốt hoặc tác độngxấu Các chủ thể này không chịu bất cứ một trách nhiệm kinh tế nào về sự tácđộng của họ, cũng như họ không đòi hỏi một sự đền bù nào Như vậy, yếu tốngoại vi là một sự thể hiện mối quan hệ sản xuất – sản xuất, sản xuất – tiêu dùng,tiêu dùng – tiêu dùng, tiêu dùng – sản xuất Hoạt động của người này tác động đếnhoạt động của người khác Kết quả hoạt động của người này chịu ảnh

Trang 10

hưởng bởi kết quả hoạt động của người khác.

Tóm lại, khi có sự tương tác giữa các hoạt động của các chủ thể và đối tượngkhác nhau trong nền kinh tế, có thể tạo ra sự khác biệt giữa giá trị xã hội và giá trịthị trường, lợi ích và chi phí xã hội khác biệt với lợi ích và chi phí tư nhân

Yếu tố ngoại vi là các ảnh hưởng tốt hay không tốt do các yếu tố bên ngoàigây nên cho hoạt động của công ty hay cho xã hội nói chung Yếu tố ngoại vi xảy

ra khi có sự khác biệt về phí tổn hoặc lợi ích giữa cá nhân và xã hội

Những chi phí ngoại vi cho sản xuất bao gồm: sự tắc nghẽn giao thông và ônhiễm môi trường mà nhà máy hoặc xí nghiệp sản xuất tạo ra Những yếu tố nàygây nên sự giảm sút về phúc lợi của những người dân sống xung quanh hoặc cóthể buộc những nhà máy khác gần đó phải tốn kém thêm chi phí để làm sạch nướcsông đã bị ô nhiễm mà mình phải sử dụng trong sản xuất Vì phía thứ ba khôngđược đền bù cho những khoản chi phí ngoại vi, nên các phí tổn sản xuất khôngđược tính đến trong hệ thống giá Trong nền kinh tế thị trường tự do, người ta chỉmưu toan sử dụng tối đa những phương tiện hay lợi nhuận riêng của mình, vànhưng chi phí hay lợi ích ngoại vi sẽ không được phản ánh trong giá cả của các đồvật Ví dụ, trường hợp một nhà máy có thể làm ra một loại sản phẩm rất rẻ nhưnglại làm ô nhiễm môi trường, gây ra sự giảm sút về phúc lợi cho nhưng người khác

Và do vậy, vai trò kinh tế của Nhà nước là điều chỉnh lại sự bất hợp lý này Bằng

sự can thiệp, Nhà nước buộc tất cả những ai hưởng lợi từ sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm đều phải trả toàn bộ chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ấy

Nhà nước không dễ dàng quyết định chính xác chi phí ấy là bao nhiêu, vìkhông thể định lượng một cách chính xác tác hại mà sự ô nhiễm ấy có thể gây racho xã hội Vì những khó khăn này, Nhà nước cần phải đảm bảo chi phí giảm ônhiễm không được cao hơn so với chi phí mà ô nhiễm gây ra cho xã hội Nếukhông các nguồn lực sẽ không được phân bố hiệu qua

Nhà nước có thể sử đụng một hệ thống thuế, luật pháp, điều lệ, mức hình phạt,thậm chí cả mức truy tố để nhằm giảm ô nhiễm Ngoài ra, Nhà nước còn sử dụng

cả chính sách quyền sở hữu công khai nguồn tài nguyên, người sử dụng nguồn tàinguyên này nếu gây ô nhiễm sẽ phải chịu chi phí theo giá thị trường Các khoảnthuế hay biện pháp trợ cấp tối ưu đều được coi là phương thức để Nhà

Trang 11

nước xứ lý những yếu tố ngoại vi Do chỗ toàn bộ chi phí xã hội là cái quan trọngquyết định sự phân bố tài nguyên một cách có hiệu quả, còn những chi phí tư nhânquyết định giá hàng, cho nên vai trò của Nhà nước là tạo ra sự thăng bằng giữa cánhân và xã hội thông qua việc điều chỉnh sản xuất thừa hoặc tiêu dùng thừa vàochi phí ngoại vi Nhà nước cần can thiệp xem xét giá trị của các yếu tố ngoại vi

1.2.3 Vai trò của Nhà nước đối với vấn đề thu nhập và phúc lợi

Phúc lợi xã hội là một bộ phận thu nhập quốc dân được sử dụng nhằm thỏamãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong xã hội, chủ yếuđược phân phối lại, ngoài phân phối theo lao động Bảo đảm phúc lợi xã hội chongười dân luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam coi trọng Đại hội XIII củaĐảng đã có bước phát triển mới về nhận thức lý luận và định hướng chính sách đốivới vấn đề phúc lợi xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa

Trong nền kinh tế thị trường, khả năng kiếm sống ở một số người là rất hạnchế, trong khi đó, số khác lại có nguồn thu nhập rất lớn Vai trò của Nhà nước làkhông thể thiếu được trong việc phân phối lại thu nhập để trong chừng mực chophép, có thể thu hẹp lại khoảng cách giàu - nghèo trong xã hội Trên thực tế, cácchính phủ đều luôn thực hiện điều đó thông qua chính sách thuế, đặc biệt là thuếthu nhập nhằm tạo ra sự công bằng hơn trong phân phối

Trong hầu hết các nền kinh tế thị trường, Nhà nước có vai trò rất quan trọngtrong việc nâng cao phúc lợi công cộng, xoá đói, giảm nghèo Các vấn đề như việclàm, sức khoẻ, bảo hiểm y tế, lương hưu, trợ cấp khó khăn… luôn là những vấn đềrất cần đến sự quan tâm của Nhà nước Rõ ràng, điều bàn cãi không còn là

ở chỗ Nhà nước có nên tạo ra quỹ phúc lợi hay không, có nên thực hiện phân phối lạithông qua thuế thu nhập hay không mà là mức độ thực hiện ra sao để vẫn có thể khích lệđược mọi thành phần lao động trong việc tạo ra của cải và tiết kiệm trong việc chi dùngnhững của cải ấy

1.2.4 Vai trò của Nhà nước trong các chính sách tài chính và tiền tệ

Nhà nước trong các nền kinh tế thị trường đóng một vai trò rất lớn trong việctạo ra các điều kiện kinh tế để thị trường tư nhân có thể phát huy hết hiệu quả hoạtđộng của mình

Ngày đăng: 19/05/2022, 17:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w