1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN TRIẾT học QUAN điểm DUY vật BIỆN CHỨNG về mối QUAN hệ GIỮA vật CHẤT với ý THỨC và vận DỤNG vào CÔNG CUỘC đổi mới ở nước TA HIỆN NAY

16 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 63,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA: LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ _____oOo_____ TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VỚI Ý THỨC VÀ VẬN DỤNG VÀO CÔNG CUỘC ĐỔI M

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA: LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ

_oOo _

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VỚI Ý THỨC VÀ VẬN DỤNG VÀO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Sinh viên thực hiện: Phạm Hữu Tường Vân

Giảng viên hướng dẫn: TS Đào Thị Trang

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

I Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 2

1 Vật chất 2

2 Ý thức 5

3 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức 7

II Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng về vật chất và ý thức vào công cuộc đổi mới ở nước ta 9

1 Mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị 9

2 Vận dụng mối quan hệ biện chứng trong việc xây dựng nền kinh tế trong công cuộc đổi mới 11

KẾT LUẬN 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Triết học được định nghĩa là bộ môn khoa học nghiên cứu về những vấn đề chung

và cơ bản của con người, thế giới quan và vị trí của con người trong thế giới quan, những vấn đề có kết nối với chân lý, sự tồn tại, kiến thức, giá trị, quy luật, ý thức, và ngôn ngữ, và cũng như các môn khoa học khác, nó ra đời và phát triển cùng với ra đời và phát triển của xã hội Triết học cũng chính là bước nhảy vĩ đại của tư duy loài người, biểu hiện khả năng đánh giá của con người về cách thế giới xoay vần và cách con người vận hành trong thế giới đó, chính vì vậy triết học có mối quan hệ mật thiết với lịch sử nhân loại Trong suốt bề dày của lịch sử đã có rất nhiều trường phái triết học ra đời song song với sự phát triển trong tư duy và nhận thức của con người

về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, và các trường phái này có xu hướng mâu thuẫn với nhau

Dựa vào hoàn cảnh lịch sử, tiến lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cách mạng lớn lao nhất và quan trọng nhất của Đảng và nhân dân ta, với chủ nghĩa Marx – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh như một nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng Như vậy, ta phải sử dụng những quan điểm và phương pháp đề ra trong chủ nghĩa Marx – Lenin, cốt để phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước

ta, từ đó tìm hiểu được quy luật phát triển của Cách mạng Việt Nam, định ra được đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của Cách mạng xã hội chủ nghĩa phù hợp với tình hình nước ta, đặc biệt là với xu thế phát triển của thời đại, trong thời kì hội nhập với các nước trên thế giới

Với ý nghĩa đó, em xin chọn đề tài "Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

và vận dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay"

Trang 4

NỘI DUNG

I Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

1 Vật chất

1.1 Quan niệm về vật chất trước chủ nghĩa duy vật biện chứng

Trước sự ra đời của triết học Marx – Engels, nhiều trường phái triết học đã đưa ra những quan niệm khác nhau về vật chất Trong triết học cổ đại, vật chất đơn giản xuất phát từ những quan sát về thế giới tự nhiên Những quan niệm bước đầu này về khái niệm vật chất đã làm rõ tính khách quan của phạm trù này, đặt nền móng cho các nhà triết học duy vật về sau phát triển thêm quan điểm về vật chất; tuy vậy, những quan niệm này bó hẹp vật chất trong các dạng cụ thể, được suy luận bằng các giả định khoa học mang tính trực quan và chưa được khoa học kiểm chứng Tiến đến triết học cận đại, khi tư duy con người phát triển và mở rộng hơn nhiều, khái niệm vật chất cũng có nhiều thay đổi đáng kể Tuy nhiên, dưới cái nhìn siêu hình, các nhà triết học cận đại đã không đưa ra được sự khái quát trong khái niệm vật chất; không chỉ vậy, nhiều mâu thuẫn cũng đã nảy sinh trong việc định nghĩa vật chất trong thời kì này

1.2 Quan điểm về vật chất trong triết học Marx – Lenin

a) Định nghĩa vật chất

F Engels cho rằng để có được quan điểm đúng đắn và đầy đủ nhất về vật chất, trước hết ta phải xem nó như một phạm trù triết học độc lập chứ không chỉ là một sản phẩm chủ quan của tư duy; ông cũng đưa ra quan điểm về tính vật chất: đó chính là đặc tính chung, thống nhất của các sự vật, hiện tượng, và tính tồn tại độc lập, thống nhất mà không phụ thuộc vào ý thức

Kế thừa quan điểm này, V Lenin đã tổng hợp và định nghĩa vật chất đầy đủ như sau:

Trang 5

Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản

ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.

Thứ nhất, Lenin đã khẳng định rằng vật chất là một phạm trù triết học, từ đó khẳng định rằng vật chất là khái niệm rộng nhất, nên không thể được định nghĩa bằng cách thông thường là quy về một khái niệm rộng hơn mà chỉ có thể được giải thích như đối lập của một phạm trù triết học khác là ý thức Định nghĩa này về vật chất khắc phục được các quan niệm siêu hình của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trước Marx Thứ hai, Lenin khẳng định rằng vật chất tồn tại độc lập, không lệ thuộc vào ý thức, cảm giác, còn ý thức, cảm giác chỉ là sự sao chép, phản ánh lại các sự vật, hiện tượng khách quan Như vậy, ta có thể khẳng định trong nhận thức luận, vật chất luôn mang tính thứ nhất, là cái quyết định: vật chất quyết định sự hình thành ý thức, quyết định nội dung phản ánh, quyết định sự biến đổi của ý thức và nó còn là điều kiện để hiện thực hoá ý thức

Định nghĩa về vật chất của Lenin đã giải quyết triệt để hai vấn đề của triết học, đó chính là bản thể luận (vật chất quyết định ý thức) và nhận thức luận (con người có thể nhận thức được thể giới khách quan), cùng với việc triệt để khắc phục hạn chế của chủ nghĩa duy vật siêu hình và bác bỏ chủ nghĩa duy tâm, góp phần khắc phục khủng hoảng và củng cố niềm tin cho khoa học tự nhiên Hơn nữa, với định nghĩa này, Lenin đã đặt ra tiền đề cho quan điểm duy vật về xã hội và loài người, cũng như cơ sở để tạo nền tảng cho liên minh chặt chẽ giữa triết học duy vật biện chứng

và khoa học

b) Các đặc tính của vật chất

Theo Engels, vận động là phương thức tồn tại và đặc tính cố hữu của vật chất, và chỉ qua vận động, vật chất mới biểu hiện được sự tồn tại của mình Vận động có năm hình thức cơ bản, được chia thành năm cấp bậc: cơ giới – vật lí – hoá học – sinh học – xã hội Các hình thức vận động này khác nhau về chất; hình thức vận 3

Trang 6

động cao xuất hiện trên cơ sở của hình thức vận động thấp và bao hàm các hình thức vận động thấp – tuy nhiên mối quan hệ này chỉ xảy ra một chiều, nghĩa là các hình thức vận động thấp không bao hàm các hình thức vận động cao hơn Mỗi sự vật tồn tại đều được đặc trưng bởi hình thức vận động cao nhất Về mặt bản chất, vật chất

có tính vô tận, tồn tại vĩnh viễn nên vận động của vật chất cũng có tính vô tận và tồn tại vĩnh viễn, chỉ có các hình thức vận động mới sinh ra dựa trên sự chuyển hoá của một hình thức vận động khác Điều này đã được khoa học tự nhiên chứng minh bằng các định luật bảo toàn

Vận động được khẳng định là phương thức tồn tại và đặc tính cố hữu của vật chất,

và chính vì vật chất là vĩnh cửu nên vận động cũng có tính vĩnh cửu và tuyệt đối Tuy vậy, ta không thể loại trừ một trạng thái đặc biệt của vận động – trạng thái đứng

im Đứng im cũng là một trạng thái của sự vận động, tuy vật, trạng thái này chỉ mang tính chất tạm thời và tương đối Nếu vận động là biến đổi của các sự vật, hiện tượng thì đứng im là sự ổn định, bảo toàn tính quy định sự vật hiện tượng Tính tương đối của trạng thái đứng im biểu hiện ở việc nó chỉ xảy ra với một hình thức vận động, một mối quan hệ nhất định chứ không phải với mọi hình thức vận động

và mọi mối quan hệ cùng một lúc Tính tạm thời của trạng thái này biểu hiện bởi việc nó chỉ xảy ra khi sự vật chưa biến đổi, bởi sự vật hình thành nhờ các vận động

cá biệt Nói cách khác, vận động nói chung, bao gồm cả vận động cá biệt và đứng

im, làm sự vật không ngừng biến đổi

Không gian và thời gian là hình thức tồn tại của vật chất Không gian phản ánh thuộc tính của các đối tượng vật chất có vị trí, có hình thức kết cấu, có độ dài ngắn, cao thấp, biểu hiện sự tồn tại và tách biệt của các sự vật với nhau qua tính chất và trật tự của chúng Thời gian biểu hiện trình độ, tốc độ và quá trình của vật chất, cũng như tính tách biệt giữa các giai đoạn khác nhau trong quá trình, trình tự xuất hiện và mất đi của các sự vật, hiện tượng khách quan Cả không gian và thời gian đều mang tính khách quan, bởi đây chính là hình thức cơ bản của vật chất, sự biến đổi của không gian và thời gian phụ thuộc vào sự vận động của vật chất

Trang 7

Thế giới khách quan quanh ta là một thể thống nhất, và tính thống nhất đó được biểu hiện bằng tính vật chất của nó Trong một thế giới thống nhất, vật chất tồn tại vĩnh viễn, không sinh ra hay mất đi, và có tính chất quyết định ý thức con người Như vậy, mọi tồn tại chính là những dạng cụ thể của vật chất, có liên hệ vật chất thống nhất với nhau, chẳng hạn như liên hệ về cơ cấu tổ chức, lịch sử phát triển, và đều phải tuân thủ theo quy luật khách quan của thế giới vật chất

2 Ý thức

2.1 Quan niệm về ý thức trước chủ nghĩa duy vật biện chứng

Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức mới là bản thể đầu tiên, tồn tại vĩnh viễn, là nguyên nhân sinh thành, chi phối sự tồn tại, biến đổi của thế giới vật chất Chủ nghĩa này nhìn chung phủ nhận hoàn toàn sự tồn tại của thế giới khách quan, hoặc ít nhất, cho là thế giới tự nhiên tồn tại phụ thuộc vào khả năng cảm nhận chủ quan của con người Một số nhà triết học tiêu biểu cho chủ nghĩa này như Berkeley, Edwards

và Kant đã tuyệt đối hóa vai trò của ý thức trong việc cấu thành sự tồn tại của thế giới Tiến đến chủ nghĩa duy vật siêu hình trước Marx, ý thức được quan niệm là một dạng đặc biệt, phát triển cao hơn của vật chất, có sự khác biệt về trình độ giữa từng giống loài Tuy nhiên, tư tưởng này cũng có những hạn chế của nó, đã bỏ qua tính chất phức tạp và đa chiều của thực tiễn xã hội, biểu diễn quá trình thu nhận và phản ánh của nhận thức dưới một lăng kính thụ động và giản đơn

2.2 Quan điểm về ý thức trong triết học Marx – Lenin

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định ý thức là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài của giới tự nhiên, lịch sử, cũng như là kết quả trực tiếp của thực tiễn xã hội – lịch sử Karl Marx nhấn mạnh quan điểm biện chứng về ý thức như sau:

Ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được di chuyển vào bộ óc con người và được cải

biến trong đó.

Trang 8

Quan điểm này đã làm rõ các khía cạnh của ý thức nhìn dưới góc độ duy vật biện chứng: nguồn gốc, bản chất và kết cấu của ý thức

Trước hết ta nói về nguồn gốc của ý thức Theo quan điểm trong chủ nghĩa duy vật biện chứng, ý thức xuất hiện từ tự nhiên, qua bộ óc người và thế giới khách quan, và

xã hội, qua lao động và ngôn ngữ Về mặt tự nhiên, những phát kiến về sinh lý học chứng minh rằng cái mà ta gọi là ý thức cũng bắt nguồn từ sự vận động hóa sinh trong cơ thể Khoa học chứng minh và biểu diễn các xung điện trao đổi giữa các tế bào não để tiếp thu thế giới khách quan và tác động ngược lại vào nó Chính vì vậy, xét theo tự nhiên quan điểm duy vật biện chứng đã cho rằng ý thức là một thuộc tính của vật chất, nhưng không phải mọi dạng của nó Sự xuất hiện của ý thức gắn liền đặc tính phản ánh của nó Đối với xã hội loài người, sự phản ánh đạt đến hình thức cao nhất, đó chính là sự phản ánh ý thức, gắn liền với việc làm cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển của xã hội Sự ra đời của ý thức gắn liền hình thành với

sự phát triển của bộ óc con người dưới ảnh hưởng của các quan hệ xã hội, biểu hiện qua lao động và ngôn ngữ giao tiếp Lao động ra đời nhằm cải tạo tự nhiên, thoả mãn nhu cầu và phục vụ mục đích của bản thân con người, và chính nhờ có lao động nên con người và xã hội mới được hình thành và phát triển về cả thể chất lẫn tinh thần Lao động hình thành nên ngôn ngữ, chính vì vậy ngôn ngữ đóng vai trò như một phương tiện truyền tải tư duy, ý thức, làm tư duy, ý thức phát triển theo sự phát triển của nó Chính nhờ sự ra đời của ngôn ngữ mà con người đỡ đi việc lệ thuộc các đối tượng vật chất cụ thể

Xét về bản chất của ý thức, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng đây chỉ là hình ánh chủ quan của thế giới khách quan, nghĩa là mỗi cá nhân luôn đặt sự vật, hiện tượng khách quan dưới lăng kính chủ quan của mình Nói cách khác, ta có thể hiểu rằng nội dung phản ánh là khách quan, còn hình thức phản ánh là chủ quan Không chỉ vậy, ý thức còn là sự phản ánh tích cực, sáng tạo gắn với thực tiễn xã hội, bởi nhờ ý thức con người có thể trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh,

Trang 9

xây dựng các học thuyết, lí thuyết khoa học, và từ đó cải tạo các hoạt động thực tiễn Ngoài ra ý thức còn mang bản chất lịch sử – xã hội

Trong chủ nghĩa duy vật biện chứng, thức được kết cấu dựa trên các yếu tố hợp thành và các cấp độ nội tâm Chủ nghĩa duy vật biện chứng quan niệm ý thức gồm bốn lớp cấu trúc hợp thành, đó là tri thức – phương thức tồn tại của ý thức bao gồm cảm tính và lí tính, tình cảm –các trạng thái khác nhau của tâm lí, niềm tin và

ý chí Về mặt cấp độ, ta có thể phân loại ý thức thành ba cấp độ như sau: tự ý thức, hay tri giác, là thành tố quan trọng của ý thức, nhưng ở đây tri giác được hiểu là ý thức

về bản thân mình trong mối quan hệ với ý thức về thế giới bên ngoài; tiềm thức, được định nghĩa là những tri thức mà chủ thể đã có được từ trước nhưng đã gần như trở thành bản năng, thành kỹ năng nằm trong tầng sâu của ý thức chủ thể, là ý thức dưới dạng tiềm tàng; vô thức, là những trạng thái tâm lý ở chiều sâu, điều chỉnh sự suy nghĩ, hành vi, thái độ ứng xử của con người mà chưa có sự tranh luận của nội tâm, chưa có sự truyền tin bên trong, chưa có sự kiểm tra, tính toán của lý trí Triết học Marx – Lenin lí luận rằng ý thức thuộc về vật chất sống có tổ chức cao như con người, còn động vật chỉ dừng lại ở việc hành động và ứng xử bản năng, chúng không có năng lực suy nghĩ và tác động ở mức độ như con người, vì vậy chúng không có ý thức

3 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

3.1 Vật chất quyết định ý thức

Khoa học chứng minh được rằng thế giới vật chất nói chung và trái đất nói riêng đã tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện con người và bộ óc người, khẳng định rằng sự ra đời của ý thức chính là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên Bộ não của con người chính là cơ quan quan trọng nhất trong cơ thể vật lí, bởi nó phản ánh

và xử lý thông tin từ thực tại khách quan Điều này chứng minh vai trò quyết định nguồn gốc ý thức của vật chất

7

Trang 10

Trong định nghĩa của mình, Lenin khẳng định ý thức và cảm chẳng qua là sự phản ánh, chép lại, chụp lại của thế giới khách quan, và điều này đã chứng minh vai trò quyết định nội dung ý thức của vật chất Thực tại khách quan tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào cảm giác, không thể bị thay đổi bởi ý thức đơn thuần, tuy nhiên nếu không có sự tồn tại của thực tại khách quan ấy, ý thức cũng không tồn tại vì không thể tiếp nhận và phản ánh sự vật, hiện tượng Nói cách khác, nội dung phản ánh của

ý thức phải lấy cái khách quan làm tiền đề và bị cái khách quan quy định

Vật chất cũng quyết định bản chất của ý thức Phát triển so với tư duy duy vật siêu hình chỉ dựa vào cảm tính đơn thuần, duy vật biện chứng xem xét cả tính thực tiễn của vật chất, từ đó khẳng định ảnh hưởng của nó lên bản chất của ý thức Kết hợp với tính phản ánh và sáng tạo – hai thuộc tính cố hữu của ý thức – ý thức được phát triển đến trình độ cao hơn, để hai thuộc tính nói trên xuất hiện đồng thời và lồng ghép với nhau

Từ những khẳng định trên về vai trò của vật chất đối với ý thức, ta có thể rút ra kết luận cuối cùng là vật chất có vai trò quyết định sự vận động và phát triển của ý thức Theo thời gian, thế giới vật chất ngày một phát triển, kéo theo sự phát triển tất yếu của xã hội loài người Ý thức, về mặt định nghĩa, là sự phản ánh của vật chất, nên

nó cũng có xu hướng phát triển song hành với vật chất, ngày một sâu sắc và đa chiều

3.2 Ý thức tác động ngược lại vật chất

Nếu chủ nghĩa duy vật siêu hình cho rằng vật chất và ý thức tồn tại như hai khái niệm tách biệt, không có mối liên hệ với nhau, thì chủ nghĩa duy vật biện chứng đã chứng minh rằng tuy vật chất quyết định ý thức, song ý thức cũng có tính độc lập tương đối và có khả năng tác động trở lại vật chất

Ý thức thường thay đổi chậm hơn so với thế giới vật chất, song cũng có tính vượt trước so với vật chất Đời sống khách quan của con người mỗi ngày một phát triển nhanh, kéo theo đó là sự gia tăng trong những nhu cầu cả về vật chất lẫn tinh thần

Ngày đăng: 19/05/2022, 17:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w