TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ =====000===== TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
=====000=====
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI
Sinh viên thực hiện:
Mã SV:
Lớp:
Lớp tín chỉ:
Giảng viên hướng dẫn
Hà Nội - 12/2021
Trang 2Mục lục
Lời mở đầu
Nội dung
I Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến
1 Sự ra đời của phép biện chứng
2 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
a Nội dung nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
b Ý nghĩa phương pháp luận về mối liên hệ phổ biến
III Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam 1 Mối liên hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái 2 Kinh tế và môi trường sinh thái Việt Nam. a Kinh tế công nghiệp
b Kinh tế nông nghiệp
c Kinh tế du lịch biển
d Gia tăng mức tiêu thụ
3 Hậu quả của ô nhiễm môi trường 4 Giải pháp giải quyết vấn đề
IV Lời kết
Trang 3Lời mở đầu
Thế giới bao la rộng lớn, mọi sự vật, mọi sự việc, mọi hiên tương đều có mối tương quan, liên kết, liên hệ chặt chẽ với nhau Mọi thứ như được kết nối bằng một mạng lưới rộng lớn, chúng bổ trợ nhau cũng ảnh hưởng lẫn nhau, không một sự vật sự việc hay hiện tương nào
có thể tồn tại một cách độc lập, cách biệt và hiển nhiên sự sống của chúng ta cũng luôn tồn tại và phát triển cùng với sự hỗ trợ của môi trường và ngược lại
Hiện nay cùng với tốc độ tăng trưởng của kinh tế và đời sống của con người ngày càng được cải thiện thì những điều đó cũng đã và đang gây ảnh hưởng không nhỏ
về mặt sinh thái môi trường Việt Nam là một quốc gia đang trên đà phát triển kinh tế, điều này cải thiện rất nhiều về mặt vật chất cũng như cuộc sống của con người nhưng bên cạnh đó nó cũng đang đè áp lực rất lớn đến vấn đề bảo vệ môi trường, để trả cái giá cho việc phát triển kinh tế thì đồng nghĩa là sẽ mất đi nguồn tài nguyên thiên nhiên khi
bị khai thác trầm trọng Và hơn ba thập kỷ trải qua sự phát triển kinh tế thì đổi lại Việt Nam nhận được hậu quả về ô nhiễm đất, không khí, nước, nạn phân biệt giàu nghèo Những điều đó đã gây tiêu cực về các mối liên hệ phổ biến Chính vì lẽ đó em đã quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu về phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường ở Việt Nam” nhằm mục đích làm rõ hơn về tình hình tổng quan giữa mối liên hệ giữa kinh tế và môi trường Cùng đó tìm ra các biện pháp để cải thiện đồng thời về cả hai mặt, để chúng có thể bổ trợ lẫn nhau chứ không phải tác động tiêu cực Và tuyên truyền về môi trường có tính quan trọng đến thế nào để mọi người thấy và hiểu rõ, cùng nhau chúng tay bảo vệ môi trường sinh thái hiện nay Bảo vệ môi trường đồng nghĩa bảo vệ được nền kinh tế cũng như bảo vệ đời sống của con người và ngay chính bản thân chúng ta Nghiên cứu mang tính tổng quan cao, có thể bài luận chưa đem được hết sự toàn diện đến cho người đọc, nhưng qua bài luận này em đã gia tăng được rất nhiều tri thức về các mối quan hệ phổ biến trong cuộc sống đặc biệt là vai trò của môi trường đối với cuộc sống của con người.
Trang 4Nội dung
I Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến
1 Sự ra đời của phép biện chứng
Phép biện chứng đã có lịch sử phát triển trên 2.000 năm từ thời cổ đại phương Đông và phương Tây, với ba hình thức cơ bản (cũng là thể hiện ba trình độ phát triển của phép biện chứng trong lịch sử triết học)
Chữ “phép biện chứng” có gốc từ động từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “đối thoại”,
và ban đầu có nghĩa là “nghệ thuật đối thoại, bàn luận hay tranh biện”.
Có lẽ khi cho rằng phép biện chứng do Zeno xứ Elea sáng tạo ra, Aristotle đang nói tới các nghịch lý của Zeno, vốn là những thứ bác bỏ những giả thuyết chắc chắn bằng cách rút ra từ những giả thuyết ấy những hệ luận không thể chấp nhận được Nhưng về cơ bản thì chính Socrates mới là người đầu tiên thực hành phép biện chứng, như những gì ta thấy trong các tác phẩm đối thoại của Plato ở thời kỳ đầu Ông thường sử dụng hai kĩ thuật, đều mang tính giả thuyết trong hình thức: bác bỏ phát biểu của đối phương bằng cách khiến cho họ phải chấp nhận một phát biểu đối lập với nó (elenchus) là kết quả cuối cùng của nó, và dẫn dắt họ đến sự khái quát hóa bằng cách khiến cho họ phải chấp nhận chân lý của nó trong chuỗi các trường hợp (epagoge, được dịch là “quy nạp”)
Bản thân Plato coi phép biện chứng là phương pháp triết học tối thượng, “viên
đá đỉnh vòm của các khoa học”, và là giai đoạn cuối cùng trong nền giáo dục chính quy đào tạo nên các ông vua-triết gia Tuy hay ca ngợi phép biện chứng nhưng việc ông yêu thích phép biện chứng thường khá mơ hồ, và quan niệm của ông về phép biện chứng có thể đã thay đổi theo thời gian Đôi khi ông coi nó là phương pháp bác bỏ các giả thuyết,
và trong các công trình ở thời kỳ sau, ông gộp vào nó cả phép “phân chia” loài (genus) thành giống (“species”), đến lượt nó loài được phân chia thành cấp nhỏ hơn, cứ thế cho đến mức khả năng cho phép Hầu như bất cứ hình thức lập luận trừu tượng không theo lối cá biệt hóa đều có thể được coi là phép biện chứng, nhưng xem ra nó luôn dính líu đến việc tìm kiếm các bản chất bất biến – nhất là, ý niệm về cái Tốt hay Thiện (Good).
Phép biện chứng lần đầu tiên được đặt trên một cơ sở vững chắc trong Topics / Định vị
học của Aristotle, một cuốn sách cẩm nang hướng dẫn cách tìm các luận cứ ủng hộhay bác bỏ
“các chính đề” hay lập trường nào đó, chẳng hạn như phán đoán rằng “mọi sự khoái lạc đều là tốt” Các chính đề như thế có thể đã được thảo luận trong Học viện Academy của Plato, và Aristotle tìm cách cung cấp các phương pháp chung cho việc xử lý chúng Trong quá trình này, ông đã phát hiện ra nhiều nguyên tắc cơ bản của logic học hình thức, là môn học được phát triển trong Analytics / Phép phân tích thành một lý thuyết “chứng minh”, đối lập với “phép biện chứng” vốn được thu hẹp vào việc suy luận đơn thuần từ các tư kiến (opinion) Tuy nhiên, các nhà logic học phái Khắc kỷ (Stoic) và trong triết học trung đại, logic hình thức tự nó đi đến chỗ được gọi là “phép biện chứng”
Cho rằng vạn vật trong thế giới đều có quá trình hình thành và tiêu vong, đều không ngừng vận động, biến hoá và liên hệ chằng chịt nhau Đây là phép biện chứng mang
Trang 5tính sơ khai, mộc mạc vì khoa học thời đó chưa phát triển Khi phác họa bức tranh chung về thế giới, các nhà triết học chỉ dựa trên những quan sát có tính trực quan, cảm tính, nhưng về cơ bản
là đúng Heraclit coi sự vận động và phát triển của thế giới giống như dòng chảy của một con sông “không bao giờ người ta tắm được hai lần trên cùng một dòng sông” Platon cho rằng nghệ thuật kích thích linh hồn suy tư chính là nghệ thuật biện chứng Phật giáo, Lão giáo cho rằng vạn vật luôn trong quá trình vận động và biến đổi không ngừng Hegel là người có công lớn trong việc xây dựng phép biện chứng thành một học thuyết triết học có tính hệ thống Tuy nhiên, phép biện chứng của Hegel là phép biện chứng của ý niệm Dựa trên những thành tựu khoa học của thế kỷ 19, khắc phục những hạn chế của phép biện chứng duy vật cổ đại và phép biện chứng duy tâm, Mác và Ăngghen đã sáng lập ra phép biện chứng duy vật khoa học vào giữa thế kỷ 19 và được V.I.Lênin tiếp tục phát triển Đây là sự thống nhất giữa phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật làm cho phép biện chứng thực sự trở thành một khoa học Phép biện chứng duy vật có nội dung phong phú bởi vì đối tượng của nó là thế giới vật chất vô cùng vô tận, trong đó nguyên lý
về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển là có ý nghĩa khái quát nhất Với ý nghĩa
đó, Ph.Ăngghen đã định nghĩa: “Phép biện chứng là khoa học về những quy luật phổ biến
của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và của tư duy” Phép biện chứng duy vật
khoa học bao gồm hệ thống các nguyên lý, quy luật, phạm trù
2 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
a Nội dung nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
Thế giới được tạo thành từ vô số những sự vật, những hiện tượng, những quá trình khác nhau Trong lịch sử triết học những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng tồn tại cô lập, tách rời nhau Với quan điểm siêu hình giữa các sự vật, hiện tượng không có mối liên hệ, ràng buộc quy định nhau Khái quát những thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại, phép biện chứng duy vật thừa nhận mối liên hệ phổ biến của các sự vật hiện tượng trong thế giới Theo phép biện chứng duy vật, nguyên lý mối liên hệ phổ biến là sự khái quát các mối liên hệ, tác động, ràng buộc, quy định, xâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng và các quá trình trong thế giới Theo cách tiếp cận đó, phép biện chứng duy vật chỉ ra rằng: mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ phổ biến cùng ràng buộc, chi phối lẫn nhau, vận động và biến đổi không ngừng Trong thế giới không có sự vật, hiện tượng tồn tại cô lập, biệt lập nhau Phép biện chứng duy vật khẳng định cơ sở của mối liên hệ phổ biến giữa các
sự vật, hiện tượng là tính thống nhất vật chất của thế giới Các sự vật, hiện tượng trong thế giới
dù có đa dạng và rất khác nhau, thì cũng chỉ là những dạng tồn tại cụ thể của một thế giới duy nhất là vật chất Ý thức của con người không phải là vật chất nhưng không thể tồn tại biệt lập với vật chất bởi vì ý thức cũng chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc người; hơn nữa nội dung của ý thức cũng chỉ là kết quả phản ánh của các quá trình vật chất Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của mối liên
hệ giữa các sự vật, các hiện tượng, các quá trình mà còn khẳng định tính đa dạng của sự liên hệ; bởi thế giới là một chỉnh thể với vô vàn các sự vật, hiện tượng khác nhau, chúng không ngừng vận động và phát triển một cách đa dạng Có mối liên hệ bên ngoài, có mối liên hệ bên trong, có mối liên hệ chủ yếu, có mối liên hệ thứ yếu; có mối liên hệ chung bao quát một số lĩnh vực hoặc một lĩnh vực riêng biệt của hiện thực Có mối liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp Có mối liên hệ bản chất và có mối liên hệ không bản chất, có mối liên hệ tất nhiên, có mối liên hệ ngẫu nhiên Có mối liên hệ giữa các sự vật, có
Trang 6mối liên hệ giữa các mặt của mỗi sự vật Phân loại các mối liên hệ là cần thiết bởi vì mỗi loại liên hệ có vai trò khác nhau đối với sự vận động và phát triển của các sự vật
Sự phân loại còn là cơ sở để xác định phạm vi nghiên cứu của phép biện chứng duy vật
và của các ngành khoa học cụ thể Tuy nhiên, việc phân loại liên hệ chỉ có ý nghĩa tương đối vì mỗi loại liên hệ chỉ là một hình thức, một bộ phận, mỗi mắt khâu của mối liên hệ chung của toàn bộ thế giới Đây là cơ sở khoa học không chỉ để phân ngành các khoa học mà còn là cơ sở để hình thành các khoa học liên ngành.
b Ý nghĩa phương pháp luận về mối liên hệ phổ biến
Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ phổ biến, đa dạng, do đó muốn nhận thức đúng và từ đó có phương pháp tác động có hiệu quả vào mỗi sự vật phải có quan điểm toàn diện Quan điểm toàn diện đòi hỏi phải xem xét đầy
đủ các mối liên hệ của sự vật đó với các sự vật khác; liên hệ trực tiếp và cả mối liên hệ gián tiếp; đồng thời xem xét các mối liên hệ giữa các yếu tố, thuộc tính bên trong của
sự vật V.I Lênin viết: “ Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó”.
Quan điểm toàn diện bao hàm quan điểm lịch sử cụ thể: phải nhận thức đầy đủ các mối liên hệ của sự vật, nắm được bản chất bên trong, trực tiếp, đồng thời phải nhận thức được không gian, thời gian, điều kiện cụ thể của sự vật tồn tại và xuất hiện các mối liên hệ, trên cơ sở đó mới nắm bắt được xu hướng biến đổi của sự vật Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, là cách xem xét từng mặt, từng mối liên hệ tách rời nhau, không thấy được mối liên hệ nhiều vẻ đa dạng của sự vật Vận dụng quan điểm toàn diện vào hoạt động thực tiễn, V.I Lênin
đã nêu lên tư tưởng về sự kết hợp chặt chẽ giữa “Chính sách dàn đều ” và “Chính sách có trọng điểm” trong “chính sách kinh tế mới”
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã nêu lên quan điểm đổi mới toàn diện và bắt đầu từ đổi mới tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối chính sách đối nội, đối ngoại Đồng thời Đảng cũng tập trung vào nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục cuộc khủng hoảng về kinh tế- xã hội, tạo tiền đề vật chất và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta.
III Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam 1 Mối liên hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái.
Môi trường sinh thái là toàn bộ các điều kiện vô cơ, hữu cơ của các hệ sinh thái ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và mọi hoạt động khác của xã hội loài người Nó là những điều kiện tự nhiên, xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người Còn tăng trưởng kinh tế nhằm cải thiện và phát triển đời sống của con người.Vì vậy,giữa môi trường sinh thái và tăng trưởng kinh tế có mối liên hệ biện chứng chặt chẽ Như chúng ta đã biết môi trường sống được sinh ra và tồn tại một cách khách quan độc lập với ý thức con người Tuy nhiên, sự phát triển của môi trường lại hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức của con người,con người có thể tác động làm cho môi trường tốt lên hoặc xấu đi Tăng trưởng kinh tế lại được sinh ra, tồn tại và phát triển hoàn toàn phụ thuộc vào con người nên nó tồn tại chủ quan Môi trường chịu tác động trực tiếp của con người, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào con người
từ đó ta có thể thấy môi trường cũng chịu tác động của tăng trưởng kinh tế và ngược lại, mối quan hệ giữa chúng được thông qua một thực thể đó là con người Môi trường là địa bàn để tăng trưởng kinh tế diễn ra trên
Trang 7diện rộng và cần khai thác tài nguyên thiên nhiên nhằm phục vụ lợi ích của con người Nếu chỉ tăng trưởng kinh tế mà không nghĩ đến việc cải tạo môi trường thì một ngày nào
đó tăng trưởng kinh tế tăng trưởng kinh tế phải dừng lại do môi trường suy thoái Lúc đó con người phải gánh chịu tác động trực tiếp vì con người không thể sống mà không chịu
sự tác động của môi trường Ngược lại, nếu tăng trưởng kinh tế gắn với việc bảo vệ môi trường thì không những nó làm cho đời sống của con người ngày càng được cải thiện mà
nó còn làm cải thiện cả môi trường do kinh tế phát triển nhà nước có ngân sách cho những dự án bảo vệ môi trường, nguồn tài nguyên bị khai thác được thay thế dần bởi các nguồn tài nguyên tự tạo.
2 Kinh tế và môi trường sinh thái Việt Nam.
a Kinh tế công nghiệp
Khi xem xét kỹ hơn những xu hướng phát triển gần đây của nền kinh tế Việt Nam, có thể nhận ra rằng đất nước này đang chuyển mình nhanh chóng từ một nước nông nghiệp sang một nước công nghiệp Nói như vậy, Việt Nam đang chuyển từ kinh tế tập thể sang kinh tế thị trường Trong gần hai thập kỷ, kể từ khi có chính sách đổi mới, Việt Nam đã có nhiều tiến bộ Chính sách này đã mang lại những thay đổi lớn, tạo ra một nền kinh tế mới hiện đại, gồm nhiều thành phần, vận hành dưới sự chỉ đạo của Nhà nước trong khuôn khổ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam trở thành đối tác hợp tác tin cậy của nhiều quốc gia trên thế giới Quy mô, trình độ nền kinh
tế được nâng lên Cơ cấu các ngành công nghiệp chuyển dịch theo hướng giảm dần tỉ trọng ngành khai khoáng, tăng nhanh tỉ trọng ngành chế biến, chế tạo.
Đáng chú ý, một số sản phẩm công nghiệp xuất khẩu có quy mô lớn, chiếm vị trí vững chắc trên thị trường thế giới; năng lực cạnh tranh toàn cầu của ngành công nghiệp tăng lên (theo UNIDO, xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu của ngành công nghiệp Việt Nam tăng từ vị trí
58 năm 2015 lên thứ 42 vào năm 2019), phát triển công nghiệp từng bước đi vào chiều sâu.Kinh
tế phát triển cùng với một số ít các nhà máy công nghiệp lớn dần xuất hiện ở Việt Nam chắc chắn sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường Hiện nay, tổng lượng chất thải rắn của cả nước ước tính gần 49.000 tấn/ ngày, trong đó chất thải công nghiệp chiếm khoảng 27.000 tấn / ngày Công tác quản lý chất thải nguy hại đang gặp nhiều khó khăn, chưa có đủ kho chứa chất thải nguy hại này trước khi xử lý, chưa có nhà máy xử lý chất thải độc hại Hầu hết những chất thải độc hại này chỉ được chôn lấp cùng với rác sinh hoạt, thậm chí là đổ ngay tại chỗ gây nguy hại đến môi trường sống
Trang 8Sản xuất và chất thải của các xí nghiệp công nghiệp cũng là một vấn đề cần được bàn luận Ô nhiễm không khí chủ yếu do các nhà máy nhiệt điện và công nghiệp hóa chất gây ra Chẳng hạn, nồng độ bụi trung bình tại các điểm đo trong nhà máy nhiệt điện Phúc Lợi đều cao hơn tiêu chuẩn từ 1 đến 6 lần Tại nhà máy nhiệt điện Uông Bí, nồng độ bụi trong một giờ từ 4 đến 4,7mg/m3, cao gấp 13 đến 16 lần giá trị cho phép Xung quanh nhiều nhà máy, khu công nghiệp có nồng độ các khí độc hại như CO2, NO2, SO2, cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 2,5 lần Điều này gây ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe cây trồng và người dân sống trong khu vực rộng lớn xung quanh nhà máy Ngay cả trong thời gian qua, hầu hết các nhà máy đều lắp đặt thiết bị xử lý bụi nhưng ít nhà máy có thiết bị xử lý khí độc chủ yếu thải ra khí quyển, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người
Trong khi Việt Nam vẫn là một nước đang phát triển, quá trình công nghiệp hóa đang diễn ra với tốc độ nhanh và kéo theo đó là những hệ quả tiêu cực của quá trình công nghiệp hóa cũng ngày một gia tăng: ô nhiễm từ máy móc nhập khẩu nước ngoài, ô nhiễm tiếng ồn từ các nhà máy Đây là những vấn đề không thể không kể hết trong một bài tiểu luận như thế này, nhưng đây là những vấn đề mà theo em cần được
xử lý nhanh chóng và kịp thời.
b Kinh tế nông nghiệp
Ngành kinh tế đầu tiên của Việt Nam là nông nghiệp nên Việt Nam có lợi thế rõ ràng về nông nghiệp so với các nước Thực tế, tổng giá trị xuất khẩu nông sản của Việt Nam hiện nay vẫn vượt 50% Đây cũng là một thế mạnh của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế 15/15 chỉ tiêu chủ yếu của ngành nông nghiệp giai đoạn 2016-2020 đều đạt và vượt mục tiêu đề ra, nổi bật là: Tốc độ tăng trưởng GDP toàn ngành bình quân đạt 2,62%/năm; tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 190,5 tỷ USD, riêng năm 2020 đạt 41,25 tỷ USD; tỷ lệ che phủ rừng năm 2020 đạt 42%; hết năm 2020
có 62% xã đạt chuẩn nông thôn mới; thu nhập của cư dân nông thôn năm 2020 đạt 43 triệu đồng/người.
Cơ cấu lại ngành nông nghiệp một cách thực chất, hiệu quả hơn, đạt nhiều kết quả quan trọng; tạo được sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức của toàn xã hội Quy mô và trình độ sản xuất được nâng cao, chuyển dịch mạnh sang sản xuất hàng hóa trên cơ sở phát huy các tiềm năng, lợi thế từng vùng, miền để bảo đảm sức cạnh tranh, an toàn thực phẩm, thích ứng và giảm thiểu tác động biến đổi khí hậu và các rủi ro phi khí hậu gây ra
Trang 9Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cũng gây ra ô nhiễm môi trường nhiều hơn Hơn nữa, nhu cầu sản xuất nông nghiệp đã dẫn đến sự gia tăng trồng trọt trên đất và khai thác tài nguyên thiên nhiên: rừng và nước ngầm đang bị phá hủy Đây là một mối đe dọa nghiêm trọng phải được giải quyết nhanh chóng trước khi chúng
ta sử dụng hết các nguồn lực này Để tăng sản lượng rau quả người nông dân thường
sử dụng một số loại hóa chất, phun thuốc trừ sâu bừa bãi Điều này không chỉ nguy hiểm cho những người làm việc xung quanh khu vực sản xuất mà còn cho những người tiêu thụ trái cây từ những loại cây trồng này.
c Kinh tế du lịch biển
Với lợi thế bờ biển dài hơn 3.200 km, Việt Nam có nhiều tiềm năng về phát triển du lịch biển Các bãi biển đẹp trải dài từ bắc đến nam, với khoảng 125 bãi tắm, trong đó có nhiều bãi được xếp hạng trên thế giới Bờ biển Việt Nam có gần 50 vịnh lớn nhỏ, trong đó có nhiều vịnh được đánh giá cao trên thế giới như các vịnh Hạ Long, Nha Trang, Lăng Cô Biển đảo Việt Nam còn có tài nguyên sinh vật đa dạng, phong phú như các Vườn quốc gia Bái Tử Long, Cát
Bà, Côn Ðảo, Phú Quốc Ngoài ra, ở dải ven biển có hơn
1.000 di tích lịch sử văn hóa được Nhà nước xếp hạng; 195 lễ hội dân gian truyền thống và 150 làng nghề tại các địa phương Ðây là tiền đề để thu hút hàng triệu lượt du khách trong và ngoài nước đến du lịch tại các tỉnh, thành phố ven biển Việt Nam hằng năm Những điều này đã giúp Việt Nam ngày càng phát triển lớn mạnh hơn trong khía cạnh kinh tế
Trong khi tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hóa ở Việt Nam mang lại nhiều lợi ích, thì ngành du lịch cũng có tác động lớn đến môi trường Nhiều không gian mở
đã được phát triển cho cơ sở hạ tầng bao gồm đường cao tốc, khách sạn, cơ sở thể thao, công viên giải trí và những nơi khác Tất cả các hoạt động này đang có tác động tiêu cực hoặc hủy hoại đến môi trường của chúng ta và các môi trường sống tự nhiên.
Theo tiến sỹ Dư Văn Toán, Viện Nghiên cứu biển và hải đảo (Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam), dải ven biển hay đới bờ tại Việt Nam có nhiều nguồn tiềm ẩn gây ô nhiễm Hầu hết những chất gây ô nhiễm đều từ đất liền đổ ra sông và theo dòng sông đổ ra biển; bao gồm nước thải sinh hoạt trực tiếp từ khu vực đô thị, thành phố ven biển, nước thải công nghiệp từ các khu công nghiệp ven biển trực tiếp hay qua cống thải ngầm dưới biển, nước thải, dầu thải, hóa chất của tầu thuyền trên biển; sự cố dầu tràn của dàn khoan khai thác, tàu vận tải chuyên chở dầu.Báo cáo hiện trạng môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy, hàng năm các con sông thải ra biển 880km3 nước và 270-300 triệu tấn phù sa, kéo theo nhiều chất có thể gây ô nhiễm biển như: các chất hữu cơ, dinh dưỡng, kim
Trang 10loại nặng và nhiều chất độc hại từ các khu dân cư tập trung, các khu công nghiệp và đô thị, các khu nuôi trồng thủy sản ven biển và các vùng sản xuất nông nghiệp Những loại rác không phân hủy được trôi nổi ven biển, lắng xuống đáy biển, rác phân hủy được sẽ hòa tan và lan truyền trong toàn khối nước biển.
Ngoài ra, các khu du lịch phát triển nhanh nhưng thiếu quy hoạch, hệ thống xử
lý nước thải còn ít, chất thải…cộng với ô nhiễm từ nuôi trồng thủy sản một cách bừa bãi, nạn khai thác titan ồ ạt đã và đang tác động xấu đến môi trường biển Các số liệu thống kê cho thấy, khoảng 70% ô nhiễm biển và đại dương có nguồn gốc từ đất liền, xuất phát từ những chất xả thải của các thành phố, thị xã, thị trấn, từ các ngành công nghiệp, xây dựng, y tế, hóa chất… Trong đó đáng kể và nguy hại nhất là chất thải từ các nhà máy thông qua hệ thống thoát nước xả thẳng ra biển và đại dương một lượng lớn các chất bồi lắng, hóa chất, kim loại, nhựa, cặn dầu và thậm chí cả các chất phóng xạ.
d Gia tăng mức tiêu thụ
Việt Nam là một quốc gia đang ngày càng khẳng định được tên tuổi của mình trên thế giới, đặc biệt là về kinh tế Người dân nơi đây ngày càng hiểu rõ hơn về mức độ
họ cần hàng hóa để hỗ trợ cuộc sống hàng ngày của họ Một kết quả của việc nâng cao nhận thức này là sự gia tăng số lượng vật liệu tái chế được thải bỏ, tạo ra một lượng lớn rác một cách nhanh chóng Hơn hết, Việt Nam đang trong tình trạng dân số ngày càng đông với tốc độ ổn định, đồng nghĩa với việc lưu lượng phương tiện giao thông trên đường và thậm chí là lượng ô nhiễm không khí đang tăng lên nhanh chóng Thêm vào
đó, rừng của Việt Nam đang bị thu hẹp ở mức báo động vì người dân đang dọn đất rừng
để nhường chỗ cho các tòa nhà khi các thành phố tiếp tục phát triển lớn hơn Nói tóm lại, con người đang làm cạn kiệt nguồn tài nguyên nhanh chóng, nhưng không có nhiều chương trình tái chế được đưa ra để giúp điều chỉnh tất cả chất thải này Thế giới đang dần bị hủy diệt trước mắt chúng ta khi chúng ta bất lực đứng nhìn nó xảy ra…
Ô nhiễm môi trường để lại nhiều hậu quả nặng nề ảnh hưởng đến sức khỏe con người, gây
ra các bệnh hiểm nghèo, tăng gánh nặng về y tế, gia tăng thiên tai (bão, lũ lụt, hạn hán, ), ảnh hưởng đến
đa dạng sinh học, sự cân bằng của hệ sinh thái, biến đổi khí hậu, suy giảm, cạn kiệt nguồn tài nguyên Nó còn gây thiệt hại cho nền kinh tế, mỹ quan đô thị bị giảm sút dẫn đến nền du lịch phát triển kém Mưa axít, thủng tầng ô zôn, tăng hiệu ứng nhà kính làm Trái Đất nóng lên, băng hai cực tan chảy nước biển dâng cao… Sinh ra các bệnh đường hô hấp, ung thư da… Hủy diệt các sinh vật sống trong nước Gây hậu quả nghiêm trọng đến sự sống và sức khỏe con người Thiếu nước ngọt cho sinh hoạt Ô nhiễm,