1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tổng hợp câu hỏi phản biện môn luật tài chính 2022

103 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHÓM 2 TRẢ LỜI CÂU HỎI PHẢN BIỆN Câu 1 Nhóm bạn có đề cập “Thông qua quá trình thu ngân sách nhà nước thì những điều tiết kinh tế và xã hội sẽ được hạn chế” Các bạn hãy làm rõ cơ sở chứng minh điều này ? Để đảm bảo nguồn lực phát triển kinh tế xã hội Đảng và nhà nước ta sẽ phải dự tính ước lượng để làm sao cân bằng được mức thu, chi trong ngân sách nhà nước hướng tướng sự phát triển ổn định Đúng vậy, khi chúng ta thu ngân sách nhà nước và cân bằng được nó thì những điều tiết về kinh tế xã hội sẽ.

Trang 1

NHÓM 2 - TRẢ LỜI CÂU HỎI PHẢN BIỆN Câu 1: Nhóm bạn có đề cập “Thông qua quá trình thu ngân sách nhà nước thì những điều tiết kinh tế và xã hội sẽ được hạn chế” Các bạn hãy làm rõ cơ sở chứng minh điều này ?

Để đảm bảo nguồn lực phát triển kinh tế xã hội Đảng và nhà nước ta sẽ phải dự tính ước lượng để làm sao cân bằng được mức thu, chi trong ngân sách nhà nước hướng tướng

sự phát triển ổn định Đúng vậy, khi chúng ta thu ngân sách nhà nước và cân bằng được nó thì những điều tiết về kinh tế xã hội sẽ được hạn chế, một ví dụ mình đưa ra sau đây: năm

2021 do tình hình dịch bệnh lên các khoản chi về trang thiết bị y tế tăng cộng với nhiều hệ lụy như dãn cách khiến ngân sách nhà nước chi nhiều hơn thu, với trường hợp này ngân sách nhà nước đã bị bội chi do tình hình dịch bệnh và nhà nước sẽ phải điều tiết kinh tế và

xã hội bằng cách tung tiền ra để những doanh lớn vay vốn, hay điều tiết bằng cách giảm thuế để các doanh nghiệp không bị phá sản giúp họ ổn định được công ty trong mùa dịch Một ví dụ nữa là vào năm 2018 khi đất nước vẫn ở trong mức ổn định, chưa bị sự tác động của đại dịch thì mức thu chi ngân sách nhà nước ở mức cân bằng với sự cân bằng này thì tất cả nguồn lực trong xã hội vẫn hoạt động ở mức bình thường những sự can thiệp của nhà nước về kinh tế, xã hội sẽ được hạn chế

Câu 2: Để hỗ trợ doanh nghiệp & người lao động vượt qua khó khăn trong giai đoạn dịch bệnh Covid – 19 Chính phủ đã cho phép về gia hạn nộp một số loại thuế Tuy nhiên một vài lĩnh vực vẫn phát triển bình thường và có tốc độ tăng, vậy khi áp dụng gia hạn nộp thuế có ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách không? tại sao?

Hiện nay trong bối cảnh dịch bệnh covid -19 toàn cầu và diễn ra trong khoảng thời gian dài, bắt buộc chúng ta phải thay đổi và thích nghi với tình hình mới Và đã góp phần bình thường hoá lại các hoạt động đó chính phủ đã có những giải pháp rất thiết thực và cụ thể như giảm thuế, gia hạn thuế Điều đó có tính chất then chốt trong tình hình kinh tế hiện nay góp phần phục hồi lại thị trường lao động và giảm thiểu lạm phát Việc gia hạn thu

Trang 2

thuế về cơ bản là hợp lý vì tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ổn định lại cơ cấu sản xuất đảm bảo được diễn ra 1 cách thông suốt, liên tục

Câu 3: Thu ngân sách nhà nước phải phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội quốc gia trong những giai đoạn nhất định Vậy bội thu ngân sách có đồng nghĩa với tăng trưởng kinh tế nhanh và đời sống của người dân được nâng cao ?

Vấn đề thiếu hụt ngân sách thường làm đau đầu các chính trị gia giữa một bên là phát triển bền vững, duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế với một bên là nguồn lực có hạn Đòi hỏi các chính trị gia phải lựa chọn để phù hợp với yêu cầu phát triển thực tế và sự phát triển trong tương lai Từ sự lựa chọn đó họ đưa ra mức bội chi "hợp lý", bảo đảm nhu cầu tài trợ cho chi tiêu cũng như đầu tư phát triển kinh tế, đồng thời bảo đảm cho nợ quốc gia ở mức hợp lý Bội chi NSNN được hiểu một cách chung nhất là sự vượt trội về chi tiêu

so với tiền thu được trong năm tài khóa hoặc thâm hụt NSNN do sự cố ý của chính phủ tạo

ra nhằm thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô Có nhiều cách để chính phủ bù đắp thiếu hụt ngân sách như tăng thu từ thuế, phí, lệ phí; giảm chi ngân sách; vay nợ trong nước, vay nợ nước ngoài; phát hành tiền để bù đắp chi tiêu; Sử dụng phương cách nào, nguồn nào tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia

Bội chi NSNN tác động đến kinh tế vĩ mô phụ thuộc nhiều vào các giải pháp nhằm

bù đắp bội chi NSNN Mỗi giải pháp bù đắp đều làm ảnh hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mô

Về cơ bản, các quốc gia trên thế giới thường sử dụng các giải pháp chủ yếu nhằm xử lý bội chi NSNN như sau:

Thứ nhất: Nhà nước phát hành thêm tiền Việc xử lý bội chi NSNN có thể thông qua việc nhà nước phát hành thêm tiền và đưa ra lưu thông Tuy nhiên, giải pháp này sẽ gây ra lạm phát nếu nhà nước phát hành thêm quá nhiều tiền để bù đắp bội chi NSNN Đặc biệt, khi nguyên nhân bội chi NSNN là do thiếu hụt các nguồn vốn đối ứng để đầu tư cho phát triển gây "tăng trưởng nóng" và không cân đối với khả năng tài chính của quốc gia

Thứ hai: Vay nợ cả trong và ngoài nước Để bù đắp thâm hụt NSNN, nhà nước có thể vay nợ nước ngoài và trong nước Việc vay nợ nước ngoài quá nhiều sẽ kéo theo vấn

đề phụ thuộc nước ngoài cả về chính trị lẫn kinh tế và làm giảm dự trữ ngoại hối quá nhiều

Trang 3

khi trả nợ, làm cạn dự trữ quốc gia sẽ dẫn đến khủng hoảng tỷ giá Vay nợ trong nước sẽ làm tăng lãi suất, và cái vòng nợ - trả lãi - bội chi sẽ làm tăng mạnh các khoản nợ công chúng và kéo theo gánh nặng chi trả của NSNN cho các thời kỳ sau

Thứ ba: Tăng các khoản thu, đặc biệt là thuế Việc tăng các khoản thu, đặc biệt là thuế có thể sẽ bù đắp sự thâm hụt NSNN và giảm bội chi NSNN Tuy nhiên, đây không phải là giải pháp cơ bản để xử lý bội chi NSNN, bởi vì nếu tăng thuế không hợp lý sẽ dẫn đến làm giá cả hàng hóa tăng gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống nhân dân, nghiêm trọng hơn sẽ triệt tiêu động lực của các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất kinh doanh

và làm mất đi khả năng cạnh tranh của nền kinh tế đối với các nước trong khu vực và trên thế giới

Thứ tư: Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công và chi thường xuyên từ NSNN Đây là một giải pháp tuy mang tính tình thế, nhưng vô cùng quan trọng với mỗi quốc gia khi xảy ra bội chi NSNN và xuất hiện lạm phát Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công

có nghĩa là chỉ đầu tư vào những dự án mang tính chủ đạo, hiệu quả nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt những dự án chưa hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm, thậm chí không đầu tư Mặt khác, bên cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công, những khoản chi thường xuyên của các cơ quan nhà nước cũng phải cắt giảm nếu những khoản chi này không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết

Thứ năm: Tăng cường vai trò quản lý nhà nước nhằm bình ổn giá cả, ổn định chính sách vĩ mô và nâng cao hiệu quả hoạt động trong các khâu của nền kinh tế Để thực hiện vai trò của mình, nhà nước sử dụng một hệ thống chính sách và công cụ quản lý vĩ mô để điều khiển, tác động vào đời sống kinh tế - xã hội, nhằm giải quyết các mối quan hệ trong nền kinh tế cũng như đời sống xã hội, nhất là mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với giữ gìn môi trường v.v Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi lạm phát là một vấn nạn của các nước trên thế giới, vấn đề tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với quản lý NSNN nói chung và xử lý bội chi NSNN nói riêng có ý nghĩa vô cùng cấp thiết

Câu 4: Trong phần giải pháp các bạn có đề xuất Việt Nam cần cân nhắc đến việc tiếp thu tinh thần pháp luật Đức và một trong số đó là đánh thuế dựa trên tình trạng gia

Trang 4

đình Trong khi Đức có hệ thống kiểm soát thu nhập cá nhân khá chặt chẽ thì nước

ta lại chưa thể đảm bảo được điều này Nếu áp dụng việc đánh thuế như vậy, so với hoàn cảnh Việt Nam có đảm bảo tính khả thi hay không ? Quan điểm của nhóm ?

• Thứ nhất, nhóm mình không đề xuất áp dụng cứng nhắc, khuôn mẫu mô hình thu thuế thu nhập cá nhân của Đức vào Việt Nam và chỉ đề xuất trên tinh thần nghiên cứu, học hỏi những điểm phù hợp với Việt Nam Một trong những điểm có thể học hỏi ở đây là việc đánh thuế thu nhập cá nhân không chỉ cần căn cứ vào thu nhập mà còn căn cứ vào một số yếu tố khác như yếu tố về gia đình để việc đánh thuế thật sự

là chính xác, hiệu quả

• Thứ hai, đề xuất này của nhóm là giải pháp mang định hướng lâu dài, không phải ngày một, ngày hai, nên nếu xét về tính khả thi thì trong tương lai sẽ khả thi vì quá trình chuyển đổi số ở VN đang được quan tâm thúc đẩy, kéo theo đó là việc quản lý

dữ liệu cá nhân cũng như thông tin tài sản… từ đó, việc quản lý thuế thu nhập cá nhân sẽ khả thi hơn

Câu 5: Với sự phát triển của thương mại điện tử như các sàn mua sắm; các trang mạng xã hội, kinh doanh online việc thu thuế gặp nhiều khó khăn, bất cập Theo bạn thì giải pháp cụ thể nào để nâng cao hiệu quả việc thu thuế trong trường hợp này?

Hiện nay với sự phát triển của công nghệ 4.0, các giao dịch buôn bán qua online, sàn giao dịch điện tử rất khó để thu thuế về nó diễn ra nhiều và mang tính nhỏ lẻ và rất nhiều cơ sở kinh doanh không đăng kí kinh doanh Vì vậy để giải quyết được vấn đề này chúng ta phải có các công tác hiện đại hoá công tác quản lý thuế, xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin điện tử, kiểm tra, giám sát đối chiếu thông tin với các hoạt động thương mại điện tử…

Câu 6: Thực tế, nguồn thu thuế từ dầu thô ở nước ta góp phần không nhỏ trong ngân sách nhà nước Vậy với đề xuất giảm thuế để bình ổn giá dầu như hiện nay thì có ảnh hưởng lớn đến nguồn thu ngân sách hay không ?

Thuế thu cho xăng dầu tại Việt Nam gồm rất nhiều loại, trong đó có 2 loại chính gồm: loại thuế cố định (không phụ thuộc vào giá thị trường), và những loại thuế không cố định (phụ thuộc vào giá thị trường)

Trang 5

Thuế cố định ở đây đối với xăng dầu là thuế bảo vệ môi trường áp trên từng loại xăng, dầu từ (1000 - 4000đ) Đây là một loại thuế không thay đổi, dù giá xăng dầu của thị trường có tăng hay giảm

Thuế không cố định bao gồm: thuế giá trị gia tăng, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt Các loại thuế này phụ thuộc trực tiếp vào giá cả xăng dầu của thị trường, có nghĩa rằng với giá xăng dầu tăng đồng nghĩa với việc nguồn thu thuế từ các loại thuế này sẽ tăng,

• Đánh giá thêm về việc bình ổn giá xăng dầu đối với nền kinh tế vĩ mô: Việc bình ổn giá xăng dầu trong kinh tế rất quan trọng, bởi xăng dầu ảnh hưởng đến toàn nền kinh tế trong đó quan trọng nhất đến các ngành sản xuất, vận tải, đi lại của người dân… Nếu giá xăng dầu tăng quá cao, chi phi sản xuất tăng, chi phí vận tải tăng => giá cả hàng hoá tăng => GDP giảm => làm tăng nguy cơ lạm phát

- Giá cả chi phí tăng, các doanh nghiệp khó có thể mở rộng đầu tư mở rộng để phát triển, thậm chí có nhiều doanh nghiệp thua lỗ, phá sản, người dân cũng

sẽ tiết chế mua hàng hoá để cân đối với nguồn thu của mình điều này dẫn đến nguồn thu ngân sách cũng bị ảnh hưởng về lâu dài

Câu 7: Đánh giá thực tế, ngân sách nhà nước Việt Nam thường trong tình trạng chi lớn hơn thu Vậy nguồn thu nào sẽ bù đắp vào sự thiếu hụt này? Quan điểm của nhóm

về vấn đề này?

Bội thu ngân sách nhà nước được hiểu là (Tổng số) thu lớn hơn (tổng số) chi trong năm ngân sách Bội thu ngân sách là biểu hiện tình trạng lành mạnh và ổn định của ngân sách nhà nước, tạo cơ sở để tăng cường dự trữ tài chính của quốc gia Như vậy

có thể nói trên lý thuyết việc bội thu ngân sách nhà nươc là một dấu hiệu tích cực cho thấy

Trang 6

nhà nước đang có nguồn ngân sách dư điều này giảm áp lực cho nhà nước,với nguồn ngân sách đó sẽ dễ dàng cho nhà nước phân bố, chi tiêu nguồn lực tài chính phát triển kinh tế và giúp cuộc sống của người dân được cải thiện tốt hơn

Tuy nhiên phải xem xét ca trên thực tế, có thể thấy việc bội thu ngân sách là việc hiếm thấy, tình trạng bội chi ngân sách của Việt Nam đã liên tục sảy ra tính từ đầu năm đến ngày 15 tháng 11 năm 2020, ngân sách Nhà nước bội chi gần một trăm ba mươi nghìn

tỷ đồng Những năm trước đó cũng bội chi hàng trăm ngàn tỷ đồng, chẳng hạn năm 2016 bội chi hơn một trăm chín mươi hai ngàn tỷ đồng; năm 2015, bội chi hai trăm năm mươi sáu ngàn tỷ đồng; năm 2014 là hơn hai trăm bốn mươi chín ngàn tỷ đồng

Gần đây, Tổng cục Thống kê (GSO) vừa công bố báo cáo về tình hình kinh tế – xã hội tháng 02/2022, trong đó cập nhật một số thông tin về thu, chi ngân sách nhà nước (NSNN) ước tính sau hai tháng đầu năm, lũy kế 2 tháng đầu năm, NSNN bội thu khoảng 95,6 nghìn tỷ đồng, tăng thêm 26 nghìn tỷ so với tháng đầu năm Với số liệu hiện tại thì hiện nay nhà nước đang bội thu, nhưng xem xét thực tế với ảnh hưởng của dịch bệnh vẫn tiếp diễn số ca F0 vẫn tăng nhanh chóng mặt và kèm theo xung đột giữa Nga và Ucraina ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế, giá xăng dầu leo thang

Với tình hình đó nhà nước sẽ phải chi rất nhiều tiền để kích thích kinh tế vừa phải đảm bảo chi phí dự phòng, dự trữ quốc gia để đảm bảo xử lý kịp thời các trường hợp cấp bách phát sinh trong năm

Từ minh chứng trên có thể thấy không phải việc bội thu ngân sách hoàn toàn đồng nghĩa là kinh tế đang tăng trưởng nhanh và đời sống của người dân được nâng cao Nhưng

ít nhất việc bội thu ngân sách cũng giúp nhà nước có cơ sở, dễ dàng hơn để giải quyết các vấn đề, kích thích kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội trở nên ngày càng tốt hơn

Ngoài ra, không đồng nghĩa với việc kinh tế tăng trưởng, đời sống tăng cao là vì thu NSNN xuất phát từ nhiều nguồn, ngoài nguồn từ kinh tế của người dân thì còn rất nhiều loại nguồn thu khác, có những nguồn thu từ ngoài hoạt động kinh tế do đó nếu nói bội thu đồng nghĩa với kte ptrien thì là sự quy chụp thiếu căn cứ; còn đời sống người dân tăng cao thì còn phụ thuộc vào nguồn chi của NSNN (chi cho cơ sở vật chất, đầu tư giáo dục, y tế,

an sinh xã hội) chứ không hẳn phụ thuộc vào mình nguồn thu, nếu bội thu mà không chi

Trang 7

hợp lý thì chính việc bội thu sẽ khiến đời sống người dân trở nên vất vả, chật vật hơn vì thuế

Câu 8: Theo các bạn thì việc lập dự toán ngân sách thu ngân sách nhà nước tác động như thế nào đến thu ngân sách? Thu ngân sách có phải lúc nào cũng luôn đi theo dự toán đã lập ra trước đó hay không? Vì sao?

Việc lập dự toán thu ngân sách nhà nước có tác động rất lớn đến việc thu ngân sách của một quốc gia và thu ngân sách luôn phải đi theo dự toán thu ngân sách Bởi mục đích của lập dự toán là đưa ra những tính toán dự kiến một bản kế hoạch chi tiết nêu ra những khoản thu trong thời gian nhất định, lập dự toán phải căn cứ vào mức tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu liên quan và các quy định của pháp luật về thu ngân sách, dự toán cách thức thu, những khoản được phép thu thông qua dự toán thu ngân sách nhà nước có thể giám sát tập trung nắm giữ những nguồn thu, xây dựng dự toán thu ngân sách nhà nước là khâu đầu tiên tạo tiền đề, cơ sở cho các khâu tiếp theo của quá trình ngân sách nhà nước,đây là giai đoạn xây dựng và quyết định dự toán ngân sách của Nhà nước trong thời hạn một năm

-HẾT-

Trang 8

NHÓM 3: PHẦN TRẢ LỜI CÂU HỎI PHẢN BIỆN

Câu 1: Ngân sách nhà nước liên quan như thế nào đối với ng dân ?

Chúng ta thấy, NSNN đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển đất nước Nói đến vấn đề NSNN trong quan hệ vs nhân dân thì chúng em đưa ra một số điểm như sau

“ NSNN là của nhân dân, do dân đóng góp và phục vụ lợi ích của ng dân”

Có thể nói đây là mối liên hệ mang tính hai chiều

Thứ nhất: NSNN do ng dân đóng góp để đảm bảo sự vận hành của đất nước Đây là nguồn đóng góp chủ yếu của NSNN Khi đảm bảo đc nguồn thu NSNN thì mới có thể thực hiện đc các hoạt động khác Mà chúng ta thg nói “ có thực mới vực đc đạo”

Thứ hai: NSNN huy động nguồn tài chính bảo đảm nhu cầu chi tiêu và phục vụ phát triển đất nc và đời sống nhân dân: an sinh xã hội; các công trình công cộng; gói hỗ trợ kinh tế, Trợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu, các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số chính sách làm, chống mù chữ và hỗ trợ đồng bào bão lụt, ảnh hưởng dịch bệnh, tạo công ăn việc làm,

Thứ ba: NSNN là công cụ để điều tiết thị trường, chống lạm phát và bình ổn giá Điều này tác động trực tiếp đến các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đặc biệt là doanh nghiệp Do đó để bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp và ng tiêu dùng, nhà nước thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế xuất nhập khẩu, dự trữ quốc gia., phát hành trái phiếu, thu hút viện trợ nc ngoài

Thứ tư: NSNN là công cụ định hướng phát triển sản xuất Chính phủ định hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo đã đc hoạch định để tạo điều kiện phát triển nền kinh tế

Thứ năm: NSNN là công cụ điều chỉnh thu nhập các tầng lớp dân cư trong xã hội Dưới sự tác động của nền kinh tế thị trg dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày càng mạnh mẽ buộc NN cần phải có chính sách phân phối lại thu nhập một cách hợp lí nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư Thứ sáu: NSNN đc đảm bảo bới các nguồn thu ngân sách nhưu thuế, phí, lệ phí, Trong đó nguồn thu nội địa là chiếm tỉ trọng lớn nhất, do vậy sự đóng góp của nhân dân đặc biệt từ thuế đảm bảo sự vận hành của NSNN Do đó ng dân phải có nghĩa vụ nộp thuế Nếu các chủ thể có nghĩa vụ không nộp, trốn thuế, sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến NSNN =>

đó là một trong những nguyên nhân gây thất thu

Trang 9

Thứ bảy: NSNN phải đảm bảo sự phù hợp và đáp ứng điều kiện hoàn cảnh đất nước trong giai đoạn nhất định Tránh tình trạng thu quá cao, thu quá nhiều ảnh hưởng đến lợi ích của ng dân Mục tiêu của NSNN k chỉ đơn thuần là thu mà quan trọng hơn sử sụng nguồn tiền đó một cách hợp lí để đấp ứng các yêu cầu phát triển đất nước NN bên cạnh vc đặt ra các sắc thuế cần tính toán một cách hợp lí, điều chỉnh linh hoạt theo bối cảnh đất nước để tạo động lực cho các chủ thể xã hội phát triển cũng như là mở ra cơ hội để nâng

đỡ họ, dân có giàu thì nc mới mạnh Để hiệu quả hóa việc này, thì vai trò của công tác quản

lí NSNN là rất lớn

Câu 2: Dịch bệnh covid hiện nay có ảnh hưởng như thế nào đến việc quản lý ngân sách nhà nước?

Thứ nhất, Nguồn thu NSNN sụt giảm so với các năm trước đó do chúng ta vừa phải

đảm bảo mục tiêu kép : chống dịch và phát triển kinh tế và hỗ trợ ng dân vượt qua đại dịch

Cụ thể: thu nội địa từ thuế, phí từ mức tăng 9,1% của tháng 6, sang tháng 7 giảm 10,8%, tháng 8 giảm 21% và tháng 9 giảm 26,5% so với cùng kỳ năm 2020

Thứ hai, pháp luật về NSNN nói chung và pháp luật về thuế nói riêng có sự điều

chỉnh để phù hợp với điều kiện xã hội trong giai đoạn dịch bệnh như: giảm thuế, gia hạn thuế, Điều này tác động đến việc quản lí thu NSNN để làm sao có sự quản lí hiệu quả và thcish nghi với sự thay đổi chung Cụ thể : giảm 15% tiền thuê đất phải nộp của năm 2020 đối với các đối tượng trả tiền thuê đất hàng năm bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19 phải ngừng sản xuất kinh doanh từ 15 ngày trở lên; giảm 30% tiền thuê đất phải nộp của năm 2021 đối với tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân đang được Nhà nước cho thuê đất trực tiếp theo quyết định hoặc hợp đồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dưới hình thức trả tiền thuê đất hàng năm; giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2020 đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và tổ chức khác có tổng doanh thu năm 2020 không quá 200 tỷ đồng; giảm 30% mức thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay từ ngày 1/8/2020 đến hết ngày 31/12/2021 để hỗ trợ ngành hàng không

Ngoài ra, thực hiện giảm trừ nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân: điều chỉnh tăng mức giảm trừ gia cảnh của người nộp thuế (từ 9 triệu đồng/tháng lên 11 triệu đồng/tháng) và người phụ thuộc (từ 3,6 triệu đồng/tháng lên 4,4 triệu đồng/tháng) để giảm nghĩa vụ thuế cho cá nhân; hướng dẫn về thực hiện chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản chi ủng hộ, tài trợ của doanh nghiệp, tổ chức cho các hoạt động phòng, chống dịch COVID-19, áp dụng trong năm 2020 và 2021

Cùng với đó, thực hiện giảm nhiều loại phí, lệ phí: giảm mức thu hơn 30 khoản phí,

lệ phí nhằm hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch COVID-19 đến hết ngày 31/12/2021; miễn thuế nhập khẩu đối với các mặt

Trang 10

hàng để phục vụ việc phòng chống dịch bệnh như khẩu trang y tế, nguyên liệu để sản xuất khẩu trang, nước rửa tay sát trùng ; miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đến hết năm 2025 Trước tình hình dịch COVID-19 bùng phát lần thứ 4 tiếp tục ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất kinh doanh, nhằm chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp, người dân, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 406/NQ-UBTVQH15 ngày 19/10/2021 về ban hành một số giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, người dân chịu tác động của dịch COVID-19 Bộ Tài chính cũng đã khẩn trương trình Chính phủ ban hành Nghị định số 92/2021/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Nghị quyết số 406/NQ-UBTVQH15 nêu trên, trong đó hướng dẫn 4 nhóm giải pháp miễn, giảm thuế

Thứ ba, đặc biệt là mục tiêu hiện đại hóa cơ sở kĩ thuật và hạ tầng đc đẩy mạnh đặc

biệt Trong giai đoạn dịch bệnh khi nhiều nơi cách li xã hội nhiều hoạt trong lĩnh vực thuế được thực hiện số hóa, trực tuyến => cần phải nâng cấp hạ tầng, nâng cao đội ngũ quản lí

sử dụng dịch vụ hoàn thuế điện tử

Thứ tư: Công tác quản lí thu thuế: mặc dù NN có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp

vượt qua khó khăn trong dịch bệnh covid -19, tuy nhiên trong giai đoạn kinh tế khó khăn tình trạng trốn thuế, nợ đọng, càng nhiều Nhiều doanh nghiệp phá sản k thể hoàn thuế, tuy nhiên cũng có tình trạng lợi dụng chính sách gia hạn thuế của nhà nước để trây ỳ nộp thuế, => ảnh hưởng rất lớn đến NSNN mà haostj động quản lí nguồn thu k thể khắc phcuj

và giải quyết một cách hiệu quả Cụ thể:

Về công tác thu nợ thuế, do ảnh hưởng của dịch bệnh, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, nên chưa nộp kịp thời tiền thuế nợ vào ngân sách nhà nước, khiến công tác thu hồi nợ của ngành Thuế đang bị chậm lại Bên cạnh đó, phát sinh thêm tiền chậm nộp tính theo mức 0,03%/ngày trên tổng số tiền thuế nợ làm tăng nợ thuế, nên số thu nợ giảm mạnh qua từng tháng Cụ thể, tính riêng trong tháng 9/2021, toàn ngành Thuế ước thu đạt 1.100 tỷ đồng nợ thuế Thu nợ quý III/2021 ước đạt 5.698 tỷ đồng, bằng 78,8% so với quý II/2021, bằng 106% so với cùng kỳ Lũy kế tính đến thời điểm ngày 30/9/2021, toàn ngành Thuế thu được 22.000 tỷ đồng nợ thuế, đạt 73,1% chỉ tiêu thu nợ được giao; trong đó, thu bằng biện pháp quản lý nợ là 15.220 tỷ đồng; thu bằng biện pháp cưỡng chế nợ là 6.780 tỷ đồng

Trang 11

Bên cạnh đó hoạt động thanh , kiểm tra cũng luôn được tăng cường để hạn chế tình trạng thất thu, đảm bảo nguồn NSNN đặc biệt trong giai đoạn dịch bệnh khi nhu cầu chi tiêu đất nước là rất lớn

Đặc biệt, trong 9 tháng đầu năm 2021, toàn ngành Thuế đã tiến hành thanh tra, kiểm tra được 232 doanh nghiệp có hoạt động giao dịch liên kết; đã truy thu, truy hoàn và phạt 667,24 tỷ đồng; Giảm lỗ 2.255,92 tỷ đồng; Giảm khấu trừ 6,85 tỷ đồng và điều chỉnh tăng thu nhập chịu thuế 1.398,13 tỷ đồng Trong đó, thực hiện thanh tra, kiểm tra xác định lại giá thị trường đối với giao dịch liên kết đã truy thu 395,81 tỷ đồng, giảm lỗ 1.691,07 tỷ đồng, điều chỉnh tăng thu nhập chịu thuế 1.225,68 tỷ đồng

Đối với thanh tra, kiểm tra sau hoàn thuế giá trị gia tăng, trong 9 tháng qua, toàn ngành Thuế đã thực hiện được 3.008 cuộc thanh tra, kiểm tra sau hoàn, tương ứng với tổng

số tiền hoàn là 29.928,23 tỷ đồng; Trong đó, số quyết định ban hành trong năm 2021 là

346 quyết định, tương ứng với tổng số tiền hoàn là 2.746,91 tỷ đồng; số quyết định ban hành trước năm 2021 là 2.662 quyết định, tương ứng với tổng số tiền hoàn là 27.181,32 tỷ đồng Tổng số thuế truy hoàn và phạt là 689,88 tỷ đồng; trong đó, số thuế truy hoàn là 548,43 tỷ đồng, phạt là 141,45 tỷ đồng, đã nộp ngân sách nhà nước là 243,59 tỷ đồng

Thứ năm: Vấn đề quản lí hoạt động Thương mại điện tử, các sàn thương mại ( Meta,

Shoppee, lazala, ) khi nhu cầu mua bán online của mọi ng phổ biến, trong khi đó thủ đoạn lách thuế ngày tinh vi nhất là trên không gian mạng , điều này tương quan với hạ tầng cơ

sở, quản lí thông tin ng dùng, cũng như đội ngũ quản lí,

Thứ sáu: hoạt động đi lại hạn chế => ảnh hưởng đến hoạt động và hiệu quả công tác

quản lí thu Bên cạnh đó, việc xây dựng dự toán thu NSNN làm sao để phù hợp với thực tiễn khi dịch bệnh diễn biến khó lường cũng là một thách thức lớn cho công tác quản lí thu NSNN

Câu 3: Dự đoán/ đề xuất hình thức xử lý với hành vi trốn thuế hơn 10.000 tỷ đồng của chủ tiệm vàng ở An Giang?

Qua điều tra mở rộng vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh An Giang đã ra quyết định trưng cầu giám định về thuế, đồng thời xác định Nguyễn Thanh Bình đã không xuất hóa đơn và không kê khai nộp thuế trên 10.000 tỷ đồng, có dấu hiệu tội phạm "Trốn thuế", quy định tại khoản 3, điều 200, Bộ luật Hình sự 2015 “ 3 Phạm tội trốn thuế với

số tiền 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 4.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”

Tùy vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, cá nhân, pháp nhân thương mại còn

có thể bị xử lý hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với tội danh trốn thuế khi thực hiện các hành vi: sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp

Trang 12

pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn; không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp

Dự đoán và đề xuất mức hình phạt tiền mức cao nhất, hoặc chịu mức phạt tù khi thực hiện các hành vi trốn thuế Buộc nộp đủ số tiền thuế trốn vào ngân sách nhà nước Buộc điều chỉnh lại số lỗ, số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ trên hồ sơ thuế (nếu có)

Câu 4: Hiện nay việc vận dụng các kinh nghiệm quản lí thu ngân sách của các nước trên thế giới đã giúp cho Việt Nam đạt được những ưu , nhược điểm gì ?

Chúng ta thấy việc vận dụng kinh nghiệm của các nước trong việc quản lí thu NSNN

là điều rất cần thiết trong quá trình phát triển đất nước của Việt Nam Nó giúp chúng ta phần nào trả lời được câu hỏi quản lí nguồn thu ra sao cho hiệu quả ?

Về ưu điểm: mô hình, cách thức tổ chức,điều tiết, cùng một lúc có thể vận dụng kết hợp đc nhiều PP quản lsi, tránh đc những rủi do trc gặp phải,

Nhược: khó thích nghi và lựa chọn; vận dụng thiếu linh hoạt, thiếu chọn lọc;

Ví dụ:

• Lập kế hoạch tài chính trung hạn: Đây là một công cụ nhằm liên kết giữa chính sách,

kế hoạch và ngân sách trong một khoản thời gian trung hạn (3-5 năm) tại cấp độ chính quyền Trung ương Với phương thức này, việc xây dựng và phân bổ dự toán ngân sách phải có mối liên hệ chặt chẽ giữa mức dự toán ngân sách dự kiến sẽ cấp với việc thực hiện mục tiêu, qua đó sẽ đạt được một kết quả đầu ra

• Điển hình là tại Na Uy, nước này đã thiết lập mô hình quản lý ngân sách dựa trên kết quả hoạt động, qua đó hướng đến việc thực hiện một cách nghiêm túc, mang tính kỷ luật tài chính cao liên quan đến khuôn mẫu kinh tế vĩ mô

Ưu nhược điểm áp dụng đó tại VN

Trang 13

• Cần có hệ thống khuôn khổ pháp lý đầy đủ, hạ tầng công nghệ thông tin, đội ngũ cán bộ quản lý với tư duy và trình độ đủ để tiếp cận với phương thức mới

• Việc triển khai kế hoạch tài chính trung hạn và các tác động đối với quản lý ngân sách và hoạt động tài khóa ở các nước là khác nhau và được quyết định bởi nhiều điều kiện khác nhau cho nên cần linh hoạt hơn trong việc triển khai

Câu 5: Chức năng tư vấn của cơ qua Kiểm toán nhà nước được thể hiện như thế nào? Việc thực hiện chức năng này của cơ quan Kiểm toán nhà nước có ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước và điều hành hoạt động quản lý nhà nước không? Tại sao?

• Chức năng tư vấn của cơ quan kiểm toán nhà nước được thể hiện ntn?

- Bản chất của KTNN là cơ quan kiểm tra tài chính công của Nhà nước, vị trí, tác dụng của nó đã được xã hội công nhận và không một cơ quan chức năng nào khác thay thế được trong việc tăng cường kiểm soát, thực hiện mục đích sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn lực tài chính của các cơ quan công quyền, các tổ chức, đơn vị có sử dụng NSNN

Ở Việt Nam, theo quy định của Luật KTNN Điều 9 Luật Kiểm toán nhà nước 2015:

"Kiểm toán nhà nước có chức năng đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị đối với việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công."

Kiểm toán nhà nước thực hiện chức năng tư vấn thông qua việc bày tỏ ý kiến Chức năng này xuất phát từ mục tiêu kiểm toán ngân sách nhà nước, giúp hoàn thiện việc quản

lý, điều hành, sử dụng ngân sách nhà nước của các khách thể kiểm toán Thông qua những phát hiện của mình trong khuôn khổ từng cuộc kiểm toán ngân sách nhà nước, kiểm toán nhà nước đưa ra các khuyến nghị, giải pháp để khắc phục, sửa chữa những sai sót, vi phạm chế độ quản lý tài chính – kế toán của Nhà nước, ngăn ngừa không cho chúng lặp lại trong tương lai, góp phần làm lành mạnh nền tài chính quốc gia

1 Kiểm toán nhà nước phải báo cáo và tư vấn cho Quốc hội về những vấn đề có liên quan trong quá trình ra các quyết định của Quốc hội Do Quốc hội là cơ quan giám sát cơ quan hành pháp, là cơ quan ban hành Luật Ngân sách nhà nước và các đạo luật chuyên môn có hiệu lực trong lĩnh vực tài chính

2 Kiểm toán nhà nước phải báo cáo, tư vấn và giải toả trách nhiệm cho Chính phủ,

cụ thể là cho các cấp quản lý hành chính Nhà nước, các Bộ, ban, ngành trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình, cũng như về tác động tài chính của những biện pháp đề ra

3 Thông qua hoạt động kiểm toán, kiến nghị với đơn vị được kiểm toán sửa chữa những sai phạm, chấn chỉnh và hoàn thiện công tác quản lý kinh tế, tài chính và chế độ kế toán; kiến nghị với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách và pháp luật cho phù hợp

Trang 14

Việc thực hiện chức năng này của cơ quan Kiểm toán nhà nước có ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước và điều hành hoạt động quản lý nhà nước không? Tại sao?

Có Vì:

1.Thông qua báo cáo, KTNN góp phần đảm bảo quy trình tạo điều kiện cho việc quản

lí thu NSNN thực hiện đồng bộ, thống nhất theo quy định PL

2 Kiểm toán nhà nước phải báo cáo và tư vấn cho Quốc hội về những vấn đề có liên quan trong quá trình ra các quyết định của Quốc hội về các hoạt động tài chính công Điều này,không chỉ tạo ra sự chặt chẽ về mặt thủ tục mà còn tạo sự giám sát chặt chẽ đỗi với các

cơ quan thực hiện chức năng quản lí thu NSNN Từ đó để có những điều chỉnh cụ thể về pháp luật phù hợp với thực tiễn quản lí và yêu cầu xã hội

3 Thông qua hoạt động kiểm toán, kiến nghị với đơn vị được kiểm toán sửa chữa những sai phạm, chấn chỉnh và hoàn thiện công tác quản lý kinh tế, tài chính và chế độ kế toán; kiến nghị với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách và pháp luật cho phù hợp

4 Chức năng tư vấn còn tạo điều kiện cho các chủ thể có được quyết định về việc sửa đổi, để các chủ thể quản lí thu NSNN có thể tự điều chỉnh trên cơ sở tư vấn của KTNN kiểm toán nhà nước sẽ đưa ý kiến tư vấn cho đơn vị điều chỉnh chứ không cưỡng bức thi hành Việc điều chỉnh hay không là tùy thuộc đơn vị, nếu đơn vị không điều chỉnh, Cơ quan Kiểm toán nhà nước không có quyền trực tiếp xử phạt mà chỉ có thể đệ trình lên các cấp có thẩm quyền để xử phạt

Câu 6 : Tại sao thanh tra tài chính là một hoạt động quan trọng quan quá trình quản

lý nguồn thu ngân sách nhà nước? Phân tích các ưu điểm và hạn chế của thanh tra tài chính trong việc đảm bảo quản lý hiệu quả ngân sách nhà nước

Nghị định số 82/2012/NĐ-CP ngày 9/10/2012 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động Thanh tra Tài chính Theo đó, Các tổ chức Thanh tra Tài chính và cơ quan thực hiện chức năng thanh tra tài chính được thành lập từ Trung ương đến cấp huyện

Thanh tra tài chính là hoạt động kiểm soát, xem xét, đánh giá của cơ quan thanh tra nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ về quản lí tài chính, sử dụng vốn và tài sản nhà nước của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền được quy định, nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý các sai phạm về tài chính

Tại sao thanh tra tài chính là một hoạt động quan trọng quan quá trình quản lý nguồn thu ngân sách nhà nước?

Thứ nhất, Thanh tra là phương thức bảo đảm trật tự, kỷ cương trong quản lý, góp phần tăng

cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Với chức năng giám sát hoạt động của các đối tượng bị quản lý, bao gồm giám sát việc chấp hành chính sách, pháp luật, chức trách, nhiệm vụ của

Trang 15

cơ quan hành chính nhà nước và công chức nhà nước; việc chấp hành chính sách, pháp luật của các tổ chức, cá nhân và các đối tượng khác chịu sự quản lý của Nhà nước; thanh tra kịp thời phát hiện những sai phạm và có biện pháp xử lý Với chức năng, nhiệm vụ xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các quyết định hoặc hành vi hành chính của cán bộ, công chức nhà nước trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, cũng như trách nhiệm và quyền hạn được giao; kết luận và xử lý kịp thời những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước góp phần bảo đảm trật tự kỷ cương trong quản lý, làm trong sạch bộ máy nhà nước

- Thứ hai, việc thanh tra còn nhằm mở rộng và bảo đảm cho quyền dân chủ của nhân dân

được thực thi một cách nghiêm minh Theo lý thuyết, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, cho nên Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người dân, tạo mọi điều kiện cho họ thực hiện các quyền về dân chủ - chính trị của mình như: quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quyền tự do lập hội, tự do ngôn luận, quyền khiếu nại, tố cáo Do đó, pháp luật Việt nam không chỉ ghi nhận các quyền của cong dân mà còn ghi nhận các cơ chế đảm bảo thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân thông qua hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện như quyền kiểm tra, giám sát thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước do mình bầu ra, các tổ chức chính trị -

xã hội, xã hội - nghề nghiệp mà mình là thành viên và các Ban Thanh tra nhân dân Mặt khác, việc xem xét, kết luận và kiến nghị giải quyết khiếu nại, tố cáo, các tổ chức Thanh tra giúp Đảng và Nhà nước phát hiện kịp thời những vi phạm của cán bộ, công chức, loại trừ những biểu hiện quan liêu, cửa quyền, mất dân chủ, thiếu công bằng, xa rời lợi ích của nhân dân, từ đó có các biện pháp xử lý, khắc phục, góp phần xây dựng và hoàn thiện

bộ máy nhà nước Bên cạnh đó, hoạt động Thanh tra còn nhằm tìm ra những sơ hở, yếu kém trong công tác quản lý, phát hiện những nội dung chưa phù hợp với yêu cầu thực tế khách quan, từ đó có các biện pháp sửa đổi, bổ sung, khắc phục kịp thời có ý nghĩa tích cực trong việc củng cố trật tự, kỷ cương, hoàn thiện cơ chế quản lý Tuy nhiên, cũng phải hiểu rằng chỉ phát hiện, tìm kiếm sai phạm, sơ hở, yếu kém trong quản lý thì chưa đủ, mà Thanh tra còn phải phát hiện và khẳng định, đồng thời tạo điều kiện cho những nhân tố mới, cơ chế mới nảy sinh phát triển Có như vậy thì hiệu quả công tác quản lý mới đáp ứng được yêu cầu phát triển của thực tiễn

- Thứ ba, khi xem xét vai trò của Thanh tra trong các giai đoạn lịch sử cho thấy, vai trò

quan trọng nữa của Thanh tra là nhằm thực hiện tham mưu cho các cấp chính quyền trong giải quyết khiếu nại hành chính, nhất là trong việc thực hiện nhiệm vụ theo dõi, đôn đốc các cấp, các ngành trong việc tiếp công dân, nhận các khiếu nại, tố cáo, giải quyết khiếu nại, tố cáo và thi hành quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo

Phân tích các ưu điểm và hạn chế của thanh tra tài chính trong việc đảm bảo quản lý hiệu quả ngân sách nhà nước

Trang 16

Ưu điểm:

Thứ nhất, thanh tra tài chính là hoạt động thanh tra chuyên ngành Đặc biệt là trong

hoạt động thu ngân sách nhà nước Việc sử dụng đúng quyền hạn, đúng thời điểm, phù hợp với mục đích, yêu cầu, nội dụng thanh tra đặt ra, không có tình trạng lộng quyền, lạm quyền trong quá trình thực hiện các quyền trong hoạt động thanh tra

Thứ hai, về cơ bản thì các chủ thể tiến hành thanh tra tuân thủ chặt chẽ quy định pháp

luật về trình tự, thủ tục và thực hiện quyền trong hoạt động thanh tra

Thứ ba, thanh tra để có biện pháp xử lý phù hợp với từng trường hợp cụ thể theo luật

định, đồng thời cũng chú trọng thực hiện tốt nguyên tắc coi trọng công tác chính trị tư tưởng, thông qua đó để giáo dục, thuyết phục, giải thích cho cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra hiểu và nắm bắt được các quyền và nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện các yêu cầu, kiến nghị, quyết định trong quá trình thực hiện các quyền thanh tra, thực hiện tốt việc công khai, dân chủ trong hoạt động thanh tra thanh tra đã có tác dụng thiết thực, giúp Đoàn thanh tra hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra

Nhược điểm:

Thứ nhất, thấy rõ sự phụ thuộc quá lớn của các cơ quan thanh tra nhà nước vào cơ

quan quản lý nhà nước cùng cấp cả về về tổ chức, nhân sự, kinh phí, trong việc xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra, trong quá trình tiến hành thanh tra cũng như giai đoạn kết thúc, kết luận và kiến nghị xử lý Điều này phần nào ảnh hưởng đến tính chủ động và độc lập trong hoạt động thanh tra

Thứ hai, thời hạn các cuộc thanh tra thường kéo dài, vi phạm thời gian theo quy định

của pháp luật, không đáp ứng được yêu cầu khẩn trương, kịp thời của công tác quản lý nhà nước Hàng năm, số lượng Đoàn thanh tra không thực hiện đúng tiến độ theo quy định pháp luật và phải chuyển sang năm sau để tiếp tục thực hiện chiếm tỷ lệ khá cao

Thứ ba, về việc xây dựng báo cáo kết quả thanh tra và ban hành kết luận thanh tra:

Một thực tế trong thời gian vừa qua, sau khi kết thúc thanh tra tại đơn vị các Đoàn thanh tra mới bắt đầu tập trung soạn thảo Báo cáo kết quả thanh tra nên thời gian viết báo cáo thường kéo dài hơn so với quy định Nội dung báo cáo thường dàn trải, chất lượng báo cáo còn hạn chế, chưa nêu bật được tính chất, mức độ sai phạm và trách nhiệm của cá nhân

có liên quan; các nội dung nêu trong dự thảo báo cáo chỉ dừng lại mô tả sự việc, chưa xem xét đầy đủ các sự kiện có liên quan, chứng cứ chưa chắc chắn nên khi đánh giá, kết luận rất khó và thường có ý kiến khác nhau giữa các thành viên Đoàn thanh tra;

Thứ tư, các Kết luận thanh tra, mặc dù Luật quy định thuộc quyền hạn của người ra

quyết định thanh tra, nhưng trên thực tế vẫn phải chờ xin ý kiến của cấp trên vì thường liên

Trang 17

quan đến trách nhiệm quản lý của các cán bộ chủ chốt Mặt khác, việc thi hành chủ yếu phụ thuộc vào thủ trưởng cơ quan quản lý và ý thức chấp hành của đối tượng thanh tra

Thứ năm, thanh tra tỉnh chưa chủ động trong việc tiến hành thanh tra Các cuộc thanh

tra kinh tế - xã hội hàng năm do Thanh tra tỉnh tiến hành chủ yếu thực hiện theo ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh Việc xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra còn phụ thuộc quá nhiều vào việc phê duyệt của Chủ tịch UBND tỉnh, điều này làm mất đi tính độc lập, chủ động và tự chịu trách nhiệm đối với công tác thanh tra của ngành

Thứ sáu, hoạt động thanh tra vẫn còn sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa

Thanh tra Bộ, Thanh tra tỉnh với Thanh tra sở, ngành Trên thực tế, có những doanh nghiệp của Trung ương đóng trên địa bàn địa phương vừa chịu sự kiểm tra, thanh tra của Thanh tra bộ quản lý chuyên ngành, vừa chịu sự kiểm tra, thanh tra của Thanh tra sở và Thanh tra tỉnh Sự chồng chéo như trên xuất phát từ lý do, nền hành chính của nước ta hiện nay có

xu hướng chia cắt theo chiều ngang

Câu 7: Những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay?

Thứ nhất, gian lận thuế xuất nhập khẩu ngày càng phức tạp

Theo đánh giá của Tổng cục Hải quan, trong vài năm trở lại đây, tình trạng gian lận thuế xuất nhập khẩu ngày càng trở nên phức tạp Ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính cho rằng nguyên nhân nằm ở chỗ ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp chưa cao, trong khi đó cơ chế chính sách trong lĩnh vực quản lý hải quan còn nhiều kẽ hở, thiếu tính đồng bộ

Thứ hai, về thực tiễn áp dụng pháp luật về giá tính thuế nhập khẩu

Một số thủ đoạn gian lận giá có tính phổ biến và điển hình trong quá trình áp dụng pháp luật về giá tính thuế nhập khẩu như là khai báo không trung thực, khai thấp về chất lượng hàng hóa, khai báo hàng không thanh toán, thủ đoạn đánh đồng tên hàng nhưng chất lượng và phẩm cấp thương mại cao hơn…

Thứ ba, về thực tiễn áp dụng pháp luật về thuế suất thuế nhập khẩu

Thuế suất thuế nhập khẩu là căn cứ quan trọng nhất để xác định số thuế nhập khẩu

mà doanh nghiệp phải nộp cho nhà nước Trong quá trình hội nhập kinh tế chúng ta đã cam kết cắt giảm hàng rào thuế quan theo lộ trình nhất định Việc quy định thuế suất là rõ ràng trong các văn bản pháp luật và các cam kết quốc tế, song việc áp dụng thuế suất trên thực

tế lại vô cùng phức tạp Các nhà nhập khẩu có vô vàn cách biến hóa nhằm trốn thuế, hoặc hưởng thuế suất thấp hơn để thoát khỏi hoặc giảm bớt một phần nghĩa vụ thuế đối với nhà nước

Thứ tư, hạn chế trong quy trình hành thu thuế nhập khẩu

Trang 18

-Về khai thuế nhập khẩu: Nội dung kê khai thuế trong các tờ khai hải quan bao gồm kê khai về mặt hàng nhập khẩu, số lượng hàng nhập khẩu và giá trị hải quan Trên thực tế thì đều không được kê khai một cách trung thực và khó có thể dựa trên ý thức tự giác của nhà nhập khẩu bởi việc kê khai thuế nhập khẩu do chủ thể tiến hành hoạt động nhập khẩu tự thực hiện, điều này đòi hỏi nhà nhập khẩu phải thực hiện tự giác, trụng thực và nghiệm chỉnh

- Về vấn đề hàng hóa, rất khó có thể phân biệt và mã hóa loại hàng hóa nhập khẩu một cách chính xác, bởi lẽ hàng hóa nhập khẩu là vô cùng đa dạng về chủng loại

- Về miễn, giảm thuế nhập khẩu: Một trong những nội dung quan trọng của quá trình hành thu thuế phập khẩu là vấn đề xác định hàng hóa nhập khẩu nào nằm trong diện được miễn thuế nhập khẩu Lợi dụng những ưu đãi của pháp luật, nhiều người đã nhập khẩu hàng hóa dưới chiêu bài “hàng miễn thuế” trá hình

Trang 19

I Ộ

C GIA HÀ N Ố

C QU Ọ

I H Ạ Đ

KHOA LUẬT

NHÓM 4 PHÁP LUẬT VỀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Hà Nội, 2022

Trang 21

MỤC LỤC

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHI NGÂN SÁCH

NHÀ NƯỚC 4

I Những vấn đề lý luận về chi ngân sách nhà nước 4

1 Khái niệm 4

2 Đặc điểm của hoạt động chi ngân sách nhà nước 4

3 Phân loại chi ngân sách nhà nước 5

4 Các yếu tố ảnh hưởng tới chi ngân sách nhà nước 6

5 Vai trò, ý nghĩa của hoạt động chi ngân sách nhà nước 7

II Khái quát nội dung pháp luật về chi ngân sách nhà nước 8

1 Điều kiện chi ngân sách nhà nước 8

2 Chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật chi ngân sách nhà nước 9

3 Các nguyên tắc chi ngân sách nhà nước 10

4 Quy định pháp luật về các khoản chi ngân sách nhà nước 13

5 Phương thức và thủ tục chi ngân sách nhà nước 13

6 Các nhân tố ảnh hưởng tới pháp luật chi ngân sách nhà nước 16

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 18

I Thực trạng hoạt động chi ngân sách nhà nước 18

II Bội chi ngân ngân sách nhà nước 22

1 Nguyên nhân bội chi ngân sách nhà nước 22

2 Thực trạng tình hình bội chi năm 2021 22

3 Ảnh hưởng của bội chi ngân sách nhà nước 23

4 Kế hoạch năm 2022 24

III Một số bất cập, hạn chế trong quy định pháp luật hiện nay về chi ngân sách nhà nước 25

CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 27

I Định hướng của vấn đề chi ngân sách nhà nước 27

II Giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện chi ngân sách Nhà nước 28

CHƯƠNG IV: KINH NGHIỆM Ở MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở MỘT SỐ QUỐC GIA 29

I Vấn đề chi ngân sách nhà nước ở một số quốc gia 29

II Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 31

Trang 22

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

I Những vấn đề lý luận về chi ngân sách nhà nước

1 Khái niệm

Chi ngân sách Nhà nước là quá trình phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước

để thực hiện các chức năng của Nhà nước Chi ngân sách là một trong những hoạt động quan trọng của ngân sách Nhà nước, nó là một mặt của chức năng phân phối tài chính

Xét về bản chất, chi ngân sách Nhà nước là hệ thống những quan hệ phân phối lại khoản thu nhập phát sinh trong quá trình sử dụng có kế hoạch quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực hiện tăng trưởng kinh tế, từng bước phát triển sự nghiệp văn hóa – xã hội, duy trì hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước và đảm bảo an ninh quốc phòng

Tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động chi ngân sách nhà nước giữa các chủ thể tạo thành pháp luật về chi ngân sách nhà nước Như vậy, pháp luật chi ngân sách nhà nước là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước

2 Đặc điểm của hoạt động chi ngân sách nhà nước

Chi NSNN gắn với bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế chính trị, xã hội mà Nhà nước đảm đương trong từng thời kỳ

Chi NSNN gắn với quyền lực của Nhà nước Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất quyết định quy mô, nội dung, cơ cấu chi NSNN và phân bổ vốn NSNN cho các mục tiêu quan trọng nhất, bởi vì Quốc hội là cơ quan quyết định các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia Chính phủ là cơ quan hành pháp, có nhiệm vụ quản lý, điều hành các khoản chi NSNN

Hiệu quả chi NSNN khác với hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp, nó được xem xét trên tầm vĩ mô và là hiệu quả kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng,… dựa vào việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng,… mà các khoản chi NSNN đảm nhận

Chi NSNN là những khoản chi không hoàn trả trực tiếp Các khoản chi cấp phát từ NSNN cho các ngành, các cấp, cho các hoạt động văn hóa, xã hội, giúp đỡ người nghèo Các đối tượng thụ hưởng không phải trả giá hoặc hoàn lại cho Nhà nước Đặc điểm này giúp

Trang 23

phân biệt các khoản chi NSNN với các khoản tín dụng Tuy nhiên, NSNN cũng có những khoản chi cho việc thực hiện chương trình mục tiêu mà thực chất là cho vay ưu đãi có hoàn trả gốc với lãi suất rất thấp hoặc không có lãi (chi giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo,…)

Chi NSNN là một bộ phận cấu thành luồng vận động tiền tệ và nó gắn liền với sự vận động của các phạm trù giá trị khác như giá cả, tiền lương, tín dụng, thuế, tỷ giá hối đoái…

Chi NSNN để thực hiện vai trò Nhà nước là người đảm bảo hệ thống Luật pháp, sản xuất một phần hàng hoá dịch vụ cá nhân, cung ứng hàng hoá dịch vụ công cộng và phân phối lại thu nhập Như vậy chi NSNN là công cụ để Nhà nước điều hành nền kinh tế theo mục đích của mình, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, giải quyết những vấn đề xã hội phát sinh như giảm bớt sự chênh lệch giàu nghèo, giải quyết công bằng xã hội và khắc phục khiếm khuyết của thị trường Chi NSNN chủ yếu không vì mục tiêu lợi nhuận và không trực tiếp thu được lợi nhuận, vì vậy không được hoàn trả trực tiếp Việc hoàn trả được thông qua

hệ thống luật pháp về thuế và một phần được thu lại từ phí

3 Phân loại chi ngân sách nhà nước

Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ:

- Chi phát triển kinh tế: gồm các khoản chi: đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chi cho các ngành kinh tế mũi nhọn để duy trì các hoạt động kinh tế của Nhà nước, trợ giá, trợ

cấp cho các doanh nghiệp Nhà nước

- Chi văn hóa xã hội: Gồm các khoản chi cho các tổ chức thuộc lĩnh vực văn

hóa xã hội như chi lương, phụ cấp, chi mua sắm trang thiết bị phương tiện làm việc

- Chi quản lý hành chính: Là khoản chi để duy trì hoạt động của các cơ quan quản lý hành chính, các cơ quan chính quyền như chi về lương, phụ cấp, chi mua sắm, bảo

dưỡng trang thiết bị, phương tiện làm việc

- Chi an ninh quốc phòng: Gồm các khoản chi mua sắm bảo dưỡng các phương

tiện kỹ thuật, phục vụ cho an ninh quốc phòng như chi lương, nuôi quân…

- Chi khác: chi viện trợ, trả nợ, cho vay

=> Cách phân loại này có tác dụng phân tích, đánh giá các mặt hoạt động của nhà nước

Căn cứ theo tính chất kinh tế, nội dung chi NSNN được chia thành:

Trang 24

- Chi thường xuyên: là quá trình phân phối sử dụng vốn từ quỹ NSNN, đáp ứng các nhu cầu chi gắn với thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước về quản lý kinh

tế xã hội Ví dụ minh họa: chi cho giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, phát thanh truyền hình, chi cho các hoạt động quản lý hành chính, chi cho quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội, trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội, hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội…

- Chi đầu tư phát triển: đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, phát triển sản xuất, góp vốn, chuyển nhượng đầu tư…

- Chi trả nợ và viện trợ: trả nợ các khoản đã vay trong nước và ngoài nước, khoản chi làm nghĩa vụ quốc tế

- Chi dự trữ, dự phòng là khoản chi ngân sách để dự phòng, để bổ sung quỹ dự trữ

4 Các yếu tố ảnh hưởng tới chi ngân sách nhà nước

Căn cứ vào đặc điểm của hoạt động chi NSNN có thể nhận thấy chi ngân sách phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố như sau:

Nhiệm vụ về phát triển kinh tế- xã hội của đất nước trong từng thời kỳ: Một trong những đặc điểm của chi ngân sách nhà nước là để phục vụ các hoạt động kinh tế, xã hội chung, mục tiêu là tăng trưởng và phát triển của toàn xã hội Do vậy các khoản chi ngân sách nhà nước sẽ tăng lên khi đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế cần sự trợ giúp của chính phủ để kích thích sự tăng trưởng và ổn định nền kinh tế

Khả năng tích tụ và tích lũy của nền kinh tế: với một quốc gia, nếu khả năng này của nền kinh tế tốt thì không những hạn chế được mức chi của ngân sách, ,mà còn cho thấy sự hoạt động tốt của nền kinh tế, một đồng bỏ ra có hiệu quả cho tăng trưởng và phát triển, không lãng phí

Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, hạn hán, động đất, dịch bệnh: Chi ngân sách nhà nước luôn đảm bảo vì lợi ích chung và đảm bảo sự công bằng cho một bộ phận những người

có hoàn cảnh đặc biệt Khi quốc gia gặp thiên tai, thì việc tăng chi tiêu để trợ cấp cho những gia đình gặp khó khăn, khắc phục hậu quả, giữ ổn định kinh tế là điều tất yếu phải làm của chi ngân sách nhà nước Và do đó, mức chi ngân sách cũng sẽ tăng

Hiệu quả chi của bộ máy chi Ngân sách nhà nước: Cũng giống như thu ngân sách nhà nước,

bộ máy chi ngân sách nhà nước đạt hiệu quả tốt sẽ tránh được tình trạng lãng phí, tham ô

Trang 25

trong quá trình chi tiêu thì sẽ tiết kiệm được cho quốc gia một khoản chi lớn, số chi vô ích

sẽ giảm đi đáng kể

5 Vai trò, ý nghĩa của hoạt động chi ngân sách nhà nước

Điều tiết kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế:

Ngân sách quốc gia là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền Trước hết, Chính phủ sẽ hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà Chính phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bề vững Thông qua hoạt động chi NSNN, Nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ sở đó tạo môi trường

và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế ( có thể thấy rõ nhất tầm quan trọng của điển lực, viễn thông, hàng không đến các

hoạt động kinh doang của doang nghiệp)

Bên cạnh đó, việc cấp phát vốn hình thành các doanh nghiệp Nhà nước là một trong những biện pháp căn bản chống độc quyền và tránh cho thị trường rơi và tỉnh trạng cạnh tranh không hoàn hảo Và trong những điều kiện cũ thể, nguồn kinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển các doang nghiệp, đảm bảo tính ổn

định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý hơn

Giải quyết các vấn đề xã hội:

Chính sách ngân sách, cụ thể là chính sách thuế và chính sách chi ngân sách, góp phần làm giảm bớt sự chênh lệch quá lớn về thu nhập và tiền lương giữa những người làm việc trong lĩnh vực sản xuất, kinh doang, khu vực hành chính, sự nghiệp, an ninh quốc gia; giữa những người sống ở thành thi, nông thôn, miền núi, hải đảo nhằm ổn định đời sống của các tầng lớp dân cư trong phạm vi cả nước

Nhà nước trợ giúp trực tiếp giành cho những người có thu nhập thấp, hoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp cho các mặt hàng thiêt yếu, các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách làm việc, chống mù chữ…

Góp phần ổn định thị trường chống lạm phát:

Đối với thị trường hàng hóa, hoạt động điều tiết của Chính phủ được thực hiện thông qua việc sử dụng các quỹ dữ trự của Nhà nước ( bằng tiền, bằng ngoại tệ, các loại hàng hóa,

Trang 26

vật tư, ) được hình thành từ nguồn thu NSNN Mọt cách tổng quát, cơ chế điều tiết khi giá

cả của môt loại hàng hóa nào lên cao, để kìm hãm và chống đầu cơ, Chính phủ đưa dự trữ hàng hóa đó ra thị trường để tăng cung trên cơ sở đó bình ổn giá cả và hạn chế khả năng tăng giá đồng loạt, gây lạm phát chung cho nền kinh tế Khi giá cả của hàng hóa đó giảm mạnh, có khả năng gây thiệt hại cho người sản xuất và tạo ra xu hướng di chuyển sang lĩnh vực khác Chính phủ sẽ bỏ tiền ra để mua hàng hóa đó theo môt giá nhất định nhằm đảm bảo cho người sản xuất

Đối với thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường sức lao động, hoạt động điều tiết của Chính phủ thông qua việc thực hiện một cách đồng bộ giữa các công cụ tài chính, tiền tệ, giá cả, trong đó công cụ ngân sách với các biện pháp như phát hành công tráu, chi trả nợ, các biện pháp chi tiêu dùng cho Chính phủ cho toàn xã hội, đào tạo

Còn khi lạm phát xảy ra, giá cả hàng hóa tăng lên do cung mất cân đối (cung nhỏ hơn cầu), Chính phỉ có thể sử dụng biện pháp thuế như tăng thuế tiêu dùng giảm thuế đối với đầu tư và thắt chặt chi tiêu của NSNN, nhất là các khoản chi tiêu cho tiêu dùng để nâng đỡ cung và giảm bớt cầu

Tăng cường sức mạnh bộ máy nhà nước, bảo vệ đất nước và giữ gìn an ninh:

NSNN là công cụ tài chính quan trọng nhất để cung ứng tà chính cho hoát động bộ máy nhà nước từ trung ương đến xã, phường ở nước ta, nguồn NSNN hầu như là nguồn duy nhất để phục vụ cho hoạt động của bộ máy nhà nước đến các cơ quan quyền lực, cơ quan hành chính Nhà nước đến cơ quan tư pháp NSNN còn cung ứng nguồn tài chính cho Đảng cộng sản để lãnh đạo các hoạt động, tài trợ cho các tổ chức xã hội mà nguồn tài chính của các tổ chức này không ổn định Như vậy chi NSNN có vai trò quan trọng trong việc quản lý

và duy trì hệ thống chính trị nước ta

II Khái quát nội dung pháp luật về chi ngân sách nhà nước

1 Điều kiện chi ngân sách nhà nước

Việc thực hiện chi ngân sách nhà nước không chỉ phải đảm bảo các nguyên tắc đã được quy định một cách rõ ràng và cụ thể mà còn phải được thực hiện theo các điều kiện cụ thể được quy định tại khoản 2 điều 12 của Luật ngân sách nhà nước 2015 Cụ thể như sau:

“2 Chi ngân sách nhà nước chỉ được thực hiện khi đã có trong dự toán ngân sách được giao, trừ trường hợp quy định tại Điều 51 của Luật này; đã được thủ trưởng đơn vị sử

Trang 27

dụng ngân sách, chủ đầu tư hoặc người được ủy quyền quyết định chi và đáp ứng các điều kiện trong từng trường hợp sau đây:

a) Đối với chi đầu tư xây dựng cơ bản phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật về đầu tư công và xây dựng;

b) Đối với chi thường xuyên phải bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; trường hợp các cơ quan, đơn vị

đã được cấp có thẩm quyền cho phép thực hiện theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về

sử dụng biên chế và kinh phí thì thực hiện theo quy chế chi tiêu nội bộ và phù hợp với dự toán được giao tự chủ;

c) Đối với chi dự trữ quốc gia phải bảo đảm các điều kiện theo quy định của pháp luật về dự trữ quốc gia;

d) Đối với những gói thầu thuộc các nhiệm vụ, chương trình, dự án cần phải đấu thầu để lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp phải tổ chức đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu;

đ) Đối với những khoản chi cho công việc thực hiện theo phương thức Nhà nước đặt hàng, giao kế hoạch phải theo quy định về giá hoặc phí và lệ phí do cơ quan có thẩm quyền ban hành.”

Tại khoản 2 điều 12 đã ghi rất cụ thể về từng điều kiện để thực hiện việc chi ngân sách nhà nước Việc chi ngân sách nhà nước cần phải được xác định trong dự toán ngân sách đã được phê duyệt, các khoản chi cần phải thực hiện đúng chế độ, tiêu chuẩn và định mức do nhà nước quy định và việc chi cần phải có đầy đủ các giấy tờ có liên quan Những điểm ở khoản 2 là điều kiện cụ thể đối với trường hợp đầu tư hoặc người được ủy quyền quyết định chi Việc quy định rõ ràng hơn này sẽ giúp cho việc chi ngân sách được thực hiện dễ dàng hơn và đảm bảo tính đúng đắn hơn

2 Chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật chi ngân sách nhà nước

Nhà nước là chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật chi ngân sách nhà nước với hai

tư cách, đó là:

Chủ thể thường: tham gia với tư cách là chii mua sắm, chi đấu thầu, đầu tư các công trình phúc lợi và các công trình mang tính quản lý của nhà nước

Trang 28

Chủ thể có quyền lực được nhân dân trao như: các cơ quan Quốc hội, Ủy ban thường

vụ Quốc hội…

Theo quy định tại Điều 2 Luật ngân sách năm 2015 quy định: Đối tượng áp dụng chi ngân sách nhà nước:

“1 Các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội

2 Các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được ngân sách nhà nước hỗ trợ theo nhiệm vụ Nhà nước giao

3 Các đơn vị sự nghiệp công lập

4 Các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến ngân sách nhà nước.”

3 Các nguyên tắc chi ngân sách nhà nước

Nguyên tắc thu chi cân bằng ngân sách nhà nước:

“ Điều 7 Nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước

1 Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật được tổng hợp đầy đủ vào cân đối ngân sách nhà nước, theo nguyên tắc không gắn với nhiệm vụ chi cụ thể Trường hợp có khoản thu cần gắn với nhiệm vụ chi cụ thể theo quy định của pháp luật thì được bố trí tương ứng từ các khoản thu này trong dự toán chi ngân sách để thực hiện Việc ban hành chính sách thu ngân sách phải bảo đảm nguyên tắc cân đối ngân sách trong trung hạn, dài hạn và thực hiện các cam kết về hội nhập quốc tế

2 Ngân sách nhà nước được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngày càng cao để chi đầu tư phát triển; trường hợp còn bội chi thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách; trường hợp đặc biệt Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định Trường hợp bội thu ngân sách thì được sử dụng để trả nợ gốc và lãi các khoản vay của ngân sách nhà nước

3 Vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước chỉ được sử dụng cho đầu tư phát triển, không sử dụng cho chi thường xuyên

4 Bội chi ngân sách trung ương được bù đắp từ các nguồn sau:

a) Vay trong nước từ phát hành trái phiếu chính phủ, công trái xây dựng Tổ quốc và các khoản vay trong nước khác theo quy định của pháp luật;

b) Vay ngoài nước từ các khoản vay của Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế và phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường quốc tế, không bao gồm các khoản vay về cho vay lại

Trang 29

5 Bội chi ngân sách địa phương:

a) Chi ngân sách địa phương cấp tỉnh được bội chi; bội chi ngân sách địa phương chỉ được sử dụng để đầu tư các dự án thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định;

b) Bội chi ngân sách địa phương được bù đắp bằng các nguồn vay trong nước từ phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, vay lại từ nguồn Chính phủ vay về cho vay lại

và các khoản vay trong nước khác theo quy định của pháp luật;

c) Bội chi ngân sách địa phương được tổng hợp vào bội chi ngân sách nhà nước và

do Quốc hội quyết định Chính phủ quy định cụ thể điều kiện được phép bội chi ngân sách địa phương để bảo đảm phù hợp với khả năng trả nợ của địa phương và tổng mức bội chi chung của ngân sách nhà nước

6 Mức dư nợ vay của ngân sách địa phương:

a) Đối với thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh không vượt quá 60% số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp;

b) Đối với các địa phương có số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp lớn hơn chi thường xuyên của ngân sách địa phương không vượt quá 30% số thu ngân sách được hưởng theo phân cấp;

c) Đối với các địa phương có số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp nhỏ hơn hoặc bằng chi thường xuyên của ngân sách địa phương không vượt quá 20%

số thu ngân sách được hưởng theo phân cấp.”

Từ điều 7 luật ngân sách 2015 có thể thấy, việc cân đối ngân sách nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp tới Nhà nước và xã hội Do vậy, nguyên tắc cân đối này được đặt lên hàng đầu và chiếm vị trí quan trọng trong việc thực hiện chi ngân sách nhà nước Mối tương quan giữa hoạt động thu, chi ngân sách Nhà nước tác động trực tiếp tới tình trạng ngân sách Nhà nước và toàn xã hội Bởi vậy, trong quản lý ngân sách Nhà nước, cân bằng giữa thu và chi ngân sách Nhà nước là một trong những nguyên tắc quan trọng trong chi ngân sách nhà nước Nguyên tắc này cần phải được quán triệt trong toàn bộ quá trình ngân sách, đặc biệt là khâu chấp hành ngân sách

Theo nguyên tắc này, các khoản thu, chi thể hiện trong dự toán ngân sách nhà nước phải đảm bảo tính cân đối Các khoản chi chỉ được xây dựng trên cơ sở nguồn thu đã được xác định Ngược lại, các nguồn thu cho ngân sách nhà nước sẽ nhằm đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu đã được hoạch định Ngân sách nhà nước sẽ được cân bằng theo cách xác định tổng

Trang 30

số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên của ngân sách và góp phần tích lũy ngày càng cao để phục vụ cho nhu cầu chi đầu tư phát triển Trường hợp ngân sách nhà nước bội chi, số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tạo điều kiện tiến đến cân bằng ngân sách nhà nước

Trên thực tế, đôi khi khả năng nguồn thu bị hạn chế và tăng chậm trong khi các khoản chi lại tăng nhanh hơn nên tình trạng bội chi ngân sách luôn có thể xảy ra Để xử lý bội chi ngân sách nhà nước, một trong những giải pháp là đi vay trong hoặc ngoài nước Trong trường hợp này, việc sử dụng nguồn vay để bù đắp bội chi chỉ nhằm mục đích đầu tư phát triển nhằm đảm bảo khả năng chi trả nợ của nhà nước, mà tuyệt đối không được sử dụng các khoản vay để thực hiện những khoản chi mang tính chất tiêu dùng

Nguyên tắc chi đúng mục đích, đúng kế hoạch và sử dụng vốn ngân sách nhà nước cấp có hiệu quả kinh tế:

Theo nguyên tắc này, các cơ quan quản lý ngân sách nhà nước phải cấp phát đầy đủ, đúng kế hoạch, đúng thời hạn các nguồn kinh phí vốn cho các tổ chức, đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước, phù hợp với thông báo hạn mức kinh phí được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Đơn vị cần sử dụng đến đâu, ngân sách nhà nước cấp phát đến đó, đó theo sát tình hình và mức độ thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, kế hoạch công tác Việc cấp phát vốn phải đúng đối tượng được hưởng kinh phí, vốn; phải đúng nội dung mục đích chi đã được xác định trong dự toán ngân sách nhà nước

Đối với các tổ chức, đơn vị thụ hưởng vốn ngân sách nhà nước phải sử dụng vốn ngân sách được cấp phục vụ cho các nhu cầu phù hợp với chức năng hoạt động, số vốn bỏ ra

ít nhất nhưng đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất

Nguyên tắc tăng cường thu, tiết kiệm chi ngân sách nhà nước:

Trong cơ chế thị trường, việc nhà nước cắt bỏ một vài khoản chi tiêu không đồng nghĩa với việc gánh nặng chi tiêu của ngân sách nhà nước sẽ được giảm bớt Trong điều kiện nền kinh tế của nước ta nguồn thu ngân sách Nhà nước hạn hẹp, nhu cầu chi tiêu rất lớn, chỉ có tiết kiệm chi thì mới có thể đủ nguồn tài chính trang trải được các nhu cầu cấp bách Quá trình hoạch định chính sách, hình thành và thực hiện ngân sách Nhà nước cũng không thể dự liệu trước được từ đầu năm Thêm vào đó, các thông tin để xây dựng kế hoạch ngân sách không đủ mức chính xác cần thiết, nên mặc dù trong các dự toán ngân sách Nhà nước hàng năm, người ta đã luôn bố trí một khoản dự phòng khoảng 2– 5% tổng số dự toán chi ngân sách Nhà nước, nhưng số dự phòng trên cũng không thể bảo bảo cho quá trình điều

Trang 31

hành ngân sách Nhà nước Vì vậy, tiết kiệm chi và đẩy mạnh thu là một trong 3 nguyên tắc phải được quán triệt ngay từ đầu khi bắt đầu một chu trình ngân sách

Tiết kiệm chi không phải là đơn thuần cắt bỏ các khoản chi ngân sách Nhà nước một cách tùy tiện, mà là chi tiêu đúng theo các định mức, đúng tiêu chuẩn và đúng chế độ mà Nhà nước đã quy định cho từ đơn vị sử dụng ngân sách, cơ quan có lập dự toán thu chi Cụ thể:

Phía cơ quan quản lý quỹ ngân sách nhà nước phải có sự cân nhắc, toàn diện các dự

án đầu tư vốn ngân sách nhà nước trước khi quyết định cấp phát

Đối với cơ quan được cấp phát vốn khi sử dụng nguồn kinh phí vốn phải cân nhắc tính toán đến hiệu quả kinh tế, tránh lãng phí trong chi tiêu: tiệc tùng, liên hoan, quà biếu, quà tặng…

Tăng cường thu không chỉ đơn thuần tìm các giải pháp để thu ngay vào quỹ ngân sách càng nhiều càng tốt, chống thất thu, mà ngay cả trong bố trí chi ngân sách Nhà nước cũng phải thể hiện được việc nuôi dưỡng chăm sóc nguồn thu

Dựa vào những căn cứ luật nêu trên và những tìm hiểu nói chung, có 3 nguyên tắc được yêu cầu đảm bảo thực hiện khi chi ngân sách nhà nước đó là: Cân bằng thu – chi, Chi theo kế hoạch và đúng mục đích, tăng cường thu và tiết kiệm chi Bên cạnh đó, việc chi ngân sách nhà nước còn cần đảm bảo tính công khai, minh bạch và rõ ràng

4 Quy định pháp luật về các khoản chi ngân sách nhà nước

Quy định của pháp luật về các khoản chi thường xuyên ngân sách Nhà nước:

Theo chi ngân sách trung ương, theo quy định tại Điều 36 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 chi thường xuyên gồm những nhiệm vụ sau đây: chi cho các hoạt động sự nghiệp giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các hoạt động sự nghiệp khác do các cơ quan trung ương quản lý

Chi ngân sách địa phương, theo quy định tại Điều 38 Luật Ngân sách nhà nước 2015 chi thường xuyên gồm những nhiệm vụ sau đây: chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các hoạt động sự nghiệp khác do địa phương quản lý; Quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội

Các hành vi bị cấm trong lĩnh vực chi ngân sách nhà nước:

Trang 32

Theo Điều 18 Luật Ngân sách nhà nước 2015 quy định về các hành vi bị cấm trong

lĩnh vực ngân sách nhà nước, về chi ngân sách nhà nước như:

- Chi không có dự toán, trừ trường hợp quy định tại Điều 51 của Luật này; chi không đúng dự toán ngân sách được giao; chi sai chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi, không đúng mục đích; tự đặt ra các khoản chi trái với quy định của pháp luật

- Quyết định đầu tư chương trình, dự án có sử dụng vốn ngân sách không đúng thẩm quyền, không xác định rõ nguồn vốn để thực hiện

- Sử dụng ngân sách nhà nước để cho vay, tạm ứng, góp vốn trái với quy định của pháp luật

- Trì hoãn việc chi ngân sách khi đã bảo đảm các điều kiện chi theo quy định của pháp luật

- Xuất quỹ ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước mà khoản chi đó không có trong

dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định, trừ trường hợp tạm cấp ngân sách và ứng trước dự toán ngân sách năm sau quy định tại Điều 51 và Điều 57 của Luật này

- Các hành vi bị cấm khác trong lĩnh vực ngân sách nhà nước theo quy định của các luật có liên quan

5 Phương thức và thủ tục chi ngân sách nhà nước

Hiện nay, ở nước ta việc cấp phát ngân sách từ ngân sách Nhà nước được thực hiện theo hai phương thức chủ yếu là phương thức cấp phát theo dự toán và phương thức cấp phát theo lệnh chi

Phương thức cấp phát theo dự toán:

Cấp phát theo dự toán (bằng hạn mức kinh phí): là hình thức cấp phát dưới dạng thông báo được áp dụng đến các cơ quan hành chính Nhà nước Cấp phát thông qua kho bạc nhà nước Đây là hình thức cấp phát được áp dụng đối với các khoản chi thường xuyên của các cơ quan, đơn vị

Đối tượng cấp phát: các khoản chi thường xuyên trong dự toán của các đơn vị dự toán Bao gồm: các cơ quan hành chính nhà nước; các đơn vị sự nghiệp; các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp thường xuyên được NSNN hỗ trợ kinh phí; các Tổng công ty nhà nước được hỗ trợ thực hiện một số nhiệm vụ thường xuyên theo quy định của pháp luật

Quy trình cấp phát kinh phí theo dự toán được thực hiện như sau:

Trang 33

- Bước 1: Căn cứ vào phương án điều hành ngân sách quý do cơ quan tài chính thông

báo, nhu cầu thanh toán chi trả hằng quý của đơn vị sử dụng ngân sách, Kho bạc nhà nước

sẽ chủ động lập kế hoạch nguồn vốn, kế hoạch chi trả, thanh toán, kế hoạch tiền mặt nhằm đảm bảo đáp ứng đầy đủ, kịp thời yêu cầu chi của đơn vị sử dụng ngân sách

- Bước 2: Căn cứ vào nhu cầu chi quý đã gửi Kho bạc Nhà nước và theo yêu cầu

nhiệm vụ chi, thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách lập giấy rút dự toán ngân sách, kèm theo

hồ sơ thanh toán gửi Kho bạc Nhà nước Trường hợp được cơ quan có thẩm quyền thông báo điều chỉnh nhu cầu chi quý thì đơn vị chỉ được chi trong giới hạn điều chỉnh

- Bước 3: Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch sẽ kiểm tra hồ sơ thanh toán, các điều kiện

chi và giấy rút dự toán ngân sách Nếu các điều kiện chi này đủ điều kiện chi theo quy định thì Kho bạc Nhà nước sẽ tiến hành chi trả thanh toán

Các đơn vị dự toán phải mở tài khoản phải mở hạn mức kinh phí tại KBNN Nếu chưa có đủ điều kiện thực hiện thanh toán trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước ở tất cả các khoản chi thì được phép cấp tạm ứng đối với một số khoản chi theo quy định của Bộ trưởng

Bộ Tài chính Sau khi hoàn thành công việc và có đủ chứng từ thanh toán thì chuyển từ tạm ứng sang thực chi

Khi rút dự toán để chi tiêu, đơn vị sử dụng ngân sách và Kho bạc Nhà nước hạch toán đúng mục chi theo Mục lục NSNN, trong phạm vi tổng mức của nhóm mục ghi trong

dự toán đã giao, riêng nhóm mục chi khác được rút từ dự toán để chi cho tất cả các mục song phải hạch toán đúng mục chi Trường hợp cần phải điều chỉnh dự toán giữa các nhóm mục, đơn vị sử dụng ngân sách phải báo cáo cơ quan quản lý cấp trên quyết định sau khi thống nhất với cơ quan tài chính cùng cấp

Phương thức cấp phát theo lệnh chi:

Cấp phát theo lệnh chi: là hình thức cấp phát dưới dạng đặc thù được áp dụng đến một số đối tượng nhất định, thường không có quan hệ thường xuyên với NSNN, khoản chi

có mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể

Đối tượng áp dụng: Thường được áp dụng đối với đơn vị hạch toán hay các khoản

chi không mang tính chất thường xuyên chi cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, xã hội không có quan hệ thường xuyên với ngân sách; chi trả nợ, viện trợ; chi bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới và một số khoản chi khác theo quyết định của thủ trưởng cơ quan tài chính

Trang 34

Quy trình cấp phát kinh phí theo phương thức lệnh chi được thực hiện như sau:

- Đơn vị phải lập chứng từ xin cấp gửi cho cơ quan tài chính

- Cơ quan tài chính căn cứ vào chứng từ xin cấp của đơn vị và căn cứ vào kế hoạch

cấp phát của mình để duyệt cấp

- Sau khi duyệt cấp cơ quan tài chính sẽ cấp lệnh chi tiền gửi cho kho bạc Nhà nước và cho ngân hàng nơi quản lý tài khoản của đơn vị được – Căn cứ vào lệnh chi tiền của cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước làm thủ tục chi tiền vào tài khoản của đơn vị được cấp tại ngân hàng gọi là hình thức chuyển tiền trực tiếp hoặc cấp tiền mặt cho cá nhân tổ chức được

- Hình thức cấp phát kinh phí ủy quyền: hình thức này áp dụng chủ yếu khi cơ quan quản lý cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý cấp dưới thực hiện nhiệm vụ thuộc chức năng của mình Do vậy, kinh phí phải được chuyển từ ngân sách cấp trên xuống cho ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ chi thay cho ngân sách cấp trên Sau khi thực hiện xong, ngân sách cấp dưới có trách nhiệm quyết toán lại với ngân sách cấp trên

- Hình thức gán thu bù chi: hình thức này được áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu nhằm khuyến khích cơ chế hạch toán kinh tế, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước Các đơn vị phải tự tạo nguồn thu để đảm bảo chi tiêu, ngân sách nhà nước chỉ cấp phần chênh lệch thiếu Trường hợp hạch toán phát sinh nguồn chênh lệch thừa, đơn vị phải nộp phần này vào ngân sách nhà nước

6 Các nhân tố ảnh hưởng tới pháp luật chi ngân sách nhà nước

Các nhân tố khách quan:

Điều kiện tự nhiên: Ở mỗi vùng, mỗi lãnh thổ có điều kiện tự nhiên khác nhau, do vậy nó sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế địa phương, từ đó quyết định đến mức chi NSNN Chẳng hạn, ở địa phương có nhiều sông, lại hay xảy ra lũ lụt thì các khoản chi NSNN sẽ tập trung vào xây dựng đê, kè, và tu sửa đê, khi xây dựng công trình phải tránh mùa mưa, bão và có những biện pháp hữu hiệu để tránh thiệt hại xảy ra đó là nguyên nhân

Trang 35

làm tăng chi ngân sách nhà nước; hoặc địa phương có địa hình chủ yếu là đồi núi, dốc thì chú ý đầu tư cho giao thông thuận lợi để có thể phát triển kinh tế và phát triển các ngành nghề phù hợp với điều kiện địa hình đó Vì vậy, điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương

Điều kiện kinh tế - xã hội: chi NSNN trên địa bàn địa phương đều chịu ảnh hưởng bởi điều kiện kinh tế xã hội Với môi trường kinh tế ổn định, vốn đầu tư sẽ được cung cấp đầy đủ, đúng tiến độ Ngược lại nền kinh tế mất ổn định, mức tăng trưởng kinh tế chậm Nhà nước sẽ thắt chặt tín dụng để kìm chế lạm phát, các dự án sẽ bị điều chỉnh cơ cấu vốn đầu

tư, chi NSNN giảm Lạm phát cũng làm cho giá cả nguyên vật liệu tăng, làm chi phí công trình tăng điều này có thể hoãn thực hiện dự án vì không đủ vốn đầu tư để thực hiện Vì vậy,

có thể nói các yếu tố về kinh tế - xã hội có ảnh hưởng không nhỏ đến chi NSNN trên địa bàn

Cơ chế chính sách và các quy định của nhà nước về chi NSNN Trong kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, pháp luật đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong điều hành ngân sách Nhà nước nói chung và chi NSNN nói riêng

Các nhân tố chủ quan:

Nhóm nhân tố chủ quan bao gồm: năng lực của người lãnh đạo và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ trong bộ máy quản lý chi NSNN, tổ chức bộ máy chi NSNN cũng như quy trình nghiệp vụ, công nghệ áp dụng thực hiện chi NSNN

Năng lực của người lãnh đạo và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ trong bộ máy thực hiện chi NSNN, bao gồm các nội dung sau: năng lực đề ra chiến lược trong hoạt động ngân sách; đưa ra được các kế hoạch triển khai các công việc hợp lý, rõ ràng; tạo nên một cơ cấu tổ chức hợp lý, có hiệu quả, có sự phân định rõ ràng trách nhiệm và quyền hạn giữa các nhân viên, cũng như giữa các khâu, các bộ phận của bộ máy chi NSNN ở địa phương Năng lực quản lý của người lãnh đạo có tầm quan trọng đặc biệt đối với công tác quản lý tài chính công ở trung ương cũng như địa phương Nếu năng lực của người lãnh đạo yếu, bộ máy tổ chức không hợp lý, các chiến lược không phù hợp với thực tế thì việc quản

lý chi tiêu nguồn lực tài chính công sẽ không hiệu quả, dễ gây tình trạng chi vượt quá thu, chi đầu tư giàn trải, phân bổ chi thường xuyên không hợp lý; có thể dẫn đến tình trạng thất thoát, lãng phí ngân sách, không thúc đẩy được sự phát triển của nền kinh tế, đảm bảo các vấn đề xã hội… Ngoài ra, đối với người lãnh đạo cũng cần tránh bệnh chạy theo thành tích,

Trang 36

bệnh cục bộ địa phương, bệnh quan liêu mệnh lệnh, coi thường pháp luật, xem trình tự thủ tục là thứ gò bó quyền lực của mình Đây cũng có thể được coi là một trong những yếu tố làm giảm hiệu quả, thậm chí còn gây những hậu quả như thất thoát, lãng phí, tham nhũng,… trong công tác quản lý chi NSNN trên địa bàn địa phương

Năng lực chuyên môn của các bộ phận tham mưu áp dụng pháp luật các khoản chi NSNN ở địa phương lại là yếu tố quyết định hiệu quả chi NSNN Nếu cán bộ quản lý có năng lực chuyên môn cao sẽ giảm thiểu được sai lệch trong cung cấp thông tin của đối tượng sử dụng nguồn lực tài chính công, kiểm soát được toàn bộ nội dung chi, nguyên tắc chi và tuân thủ theo các quy định về quản lý nguồn tài chính công đảm bảo theo dự toán đã

đề ra Bên cạnh năng lực chuyên môn thì đối với cán bộ công chức cũng cần phải tránh bệnh

xu nịnh, chiều ý cấp trên, là thói quen xin cho, hạch sách, thiếu ý thức chịu trách nhiệm cá nhân, gây giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính công nghiêm trọng

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

I Thực trạng hoạt động chi ngân sách nhà nước

Từ năm 2010 đến 2019, chi ngân sách luôn luôn cao hơn thu ngân sách nhà nước (Bảng 1) Từ mức 109,6% năm 2010 tăng lên 113,1% năm 2019 Riêng năm 2015 chi ngân sách nhà nước bằng 125% thu ngân sách nhà nước Nói cách khác, ở nước ta chi nhiều hơn thu Chi thường xuyên bằng khoảng 62,8% đến 67,6% tổng thu ngân sách nhà nước Ngân sách dành cho chi sự nghiệp giáo dục luôn tăng, từ khoảng 11,9% năm 2010 lên 14% năm 2019.Tuy nhiên, bên cạnh đó chi cho sự nghiệp phát triển khoa học công nghệ còn thấp (chỉ khoảng 0,63% năm 2010 tăng lên 0,74% năm 2019) Nếu cứ chi ngân sách nhà nước như thời gian vừa qua thì không thể tạo ra nhân tố tăng trưởng tiềm năng (vì đầu tư phát triển nhân lực và phát triển khoa học công nghệ mới tạo ra những yếu tố cho tăng trưởng lâu dài) Việt Nam với hơn 2 triệu cán bộ công chức và 8 triệu người ăn lương, đứng đầu các nước ASEAN (ở Việt Nam cán bộ công chức viên chức chiếm khoảng 4,8% dân số; tương đương

cứ 20 người dân có 1 công chức, viên chức hưởng lương) Vì thế, chi thường xuyên cho khoản lương là rất lớn

Bảng 1: Một số chỉ tiêu về chi ngân sách nhà nước của Việt Nam

Trang 37

Chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển cũng bộc lộ nhiều bất cập (Bảng 2) Trong tổng vốn thực hiện của khu vực nhà nước, vốn vay chiếm tỷ trọng khoảng 29,5% (năm 2019) Tuy vốn vay có giảm cả số tuyệt đối và số tương đối nhưng vẫn chiếm khoảng 1/3 tổng vốn thực hiện của khu vực kinh tế nhà nước Đó là mức khá cao Nó đặt ra nhiều vấn đề cần phải suy ngẫm để sớm tìm ra giải pháp

Bảng 2: Vốn đầu tư thực hiện của khu vực kinh tế nhà nước ở Việt Nam năm 2010; 2015; 2019

Đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước có hiệu quả chưa được như mong muốn

và thậm chí có thể nói còn tương đối thấp Tuy khó bóc tách phần đóng góp thực tế của đầu

tư ngân sách nhà nước nhưng theo tính toán sơ bộ thì mức đóng góp của đầu tư ngân sách nhà nước vào phát triển kinh tế quốc gia ở mức độ không lớn

Bảng 3: Một số chỉ tiêu hiệu quả đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2011-2019

Trong thời kỳ 2011-2019, chỉ số lôi kéo vốn tư nhân còn hạn chế, tức là 1 đồng vốn đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước mới lôi kéo được 3,62 đồng vốn tư nhân năm 2011; 3.63 đồng năm 2015 và 4,14 đồng năm 2019 (Bảng 33) Tỷ lệ đóng góp của đầu tư

Trang 38

ngân sách nhà nước vào gia tăng GDP chỉ đạt khoảng 13 -13,6%; trong khi đó tỷ lệ đóng góp vào tổng vốn đầu tư xã hội chiếm khoảng 17% Điều này cho thấy hiệu quả đầu tư ngân sách nhà nước còn hạn chế

Từ năm 2019, cùng với sự xuất hiện của đại dịch Covid 19 đã gây ra những ảnh hưởng to lớn đối với nền kinh tế toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng Hàng loạt dịch

vụ, nhà máy phải tạm ngừng hoạt động, xuất nhập khẩu đình trệ…Dịch Covid 19 đã đảo lộn nguyên tắc ngân sách, thu không đủ bù chi, mọi khoản chi phải có trong dự toán và không ban hành bất cứ một chính sách nào làm tăng chi ngân sách Trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh, nhiều khoản chi lại tăng lên như: Chi chế độ đặc thù đối với những người trực tiếp tham gia công tác phòng, chống dịch và những người phải cách ly tập trung; chính sách

hỗ trợ cho người dân chịu tác động lớn bởi dịch bệnh; cơ chế đảm bảo kinh phí và bố trí nguồn ngân sách trung ương để bổ sung cho các bộ, địa phương để phòng chống dịch Năm

2020, ngân sách nhà nước đã chi khoảng 18,1 nghìn tỷ đồng cho công tác phòng, chống dịch

và hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19

Trong bối cảnh thu ngân sách nhà nước giảm, cân đối ngân sách khó khăn, nhưng vẫn phải đảm bảo nguồn tăng chi cho công tác phòng, chống dịch bệnh, Bộ Tài chính đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội nguyên tắc điều hành đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước năm 2020 Theo đó, Bộ Tài chính đã phối hợp với các bộ, cơ quan trung ương và địa phương chủ động điều hành chi ngân sách nhà nước chặt chẽ, triệt để tiết kiệm, bố trí trong phạm vi dự toán được giao; rà soát để cắt giảm tối thiểu 70% kinh phí hội nghị, công tác phí trong và ngoài nước và tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên khác còn lại của năm 2020

Vì vậy, dù nguồn thu ngân sách sụt giảm, song nhờ chủ động trong điều hành nên cân đối ngân sách trung ương và ngân sách của các địa phương vẫn được đảm bảo Đồng thời, để đảm bảo nguồn cân đối ngân sách trong bối cảnh lãi suất vay giảm, Bộ Tài chính đã phát hành được gần 290 nghìn tỷ đồng trái phiếu chính phủ với lãi suất thấp hơn nhiều giai đoạn trước

Tính đến ngày 31/12/2020, các nhiệm vụ chi thường xuyên đã thực hiện xong theo

dự toán, đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhiệm vụ chuyên môn của cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách Việc chấp hành chi thường xuyên là khá sát với dự toán, ước tổng chi cân đối ngân sách nhà nước thực hiện cả năm 2020 đạt 1.068,5 nghìn tỷ đồng, đáp ứng kịp thời, đầy đủ các nhiệm vụ chi phát triển kinh tế-xã hội

Trang 39

Ước thực hiện chi đầu tư phát triển cả năm 2020 đạt 82,8% dự toán Đây cũng là năm giải ngân chi đầu tư phát triển đạt sát với dự toán, góp phần duy trì tăng trưởng dương của nền kinh tế Do tác động của dịch bệnh Covid-19, thiên tai, việc triển khai các chính sách tài khóa hỗ trợ nền kinh tế, nên đánh giá bội chi ngân sách nhà nước năm 2020 ước khoảng 248,5 nghìn tỷ đồng, dưới 4% GDP Tính chung 5 năm (giai đoạn 2016-2020), bội chi ngân sách nhà nước bình quân khoảng 3,6% GDP Đến cuối năm 2020, dư nợ công khoảng 55,8% GDP, dư nợ chính phủ khoảng 49,6% GDP

Theo Nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nước năm 2021, dự toán tổng số chi ngân sách nhà nước là 1.687.000 tỷ đồng và mức bội chi ngân sách nhà nước là 343.670 tỷ đồng, tương đương 4% GDP Tuy nhiên, tổng chi ngân sách nhà nước năm 2021 ước tính đạt 1.879 nghìn tỷ đồng, bằng 111,4% dự toán Trong đó, chi thường xuyên bằng 102,3% Chi đầu tư phát triển bằng 106,4% dự toán; chi trả nợ lãi bằng 96,2% Như vậy, ước tính ngân sách nhà nước năm 2021 bội chi khoảng 315,8 nghìn tỷ đồng

Năm 2021, Bộ Tài chính đã chủ động trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, cơ quan Trung ương và địa phương cắt giảm tối thiểu 50% kinh phí hội nghị, công tác phí trong và ngoài nước; tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên khác còn lại của năm 2021; thu hồi các khoản chi thường xuyên chưa thực sự cần thiết, chậm triển khai để bổ sung dự phòng ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; thành lập Quỹ vắc-xin phòng Covid-19 đạt 8.803 tỷ đồng tính đến ngày 31/12/2021; trình Quốc hội cho phép các địa phương được sử dụng nguồn cải cách tiền lương còn dư để chi phòng, chống dịch Covid-19 trong năm 2021 và 2022… Bên cạnh đó, Bộ Tài chính đã trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội bố trí 12.100 tỷ đồng từ nguồn tiết kiệm chi ngân sách trung ương năm

2020 và 1.237 tỷ đồng kinh phí phòng chống dịch của Bộ Y tế năm 2020 chuyển sang năm

2021 để mua vắc-xin phòng Covid-19; trình Ủy ban thường vụ Quốc hội bổ sung 14.620 tỷ đồng dự phòng ngân sách trung ương từ nguồn cắt giảm, tiết kiện chi ngân sách trung ương năm 2021 để chi cho công tác phòng, chống dịch Covid-19

Theo Tổng cục Thống kê, chi ngân sách nhà nước trong năm được tập trung ưu tiên cho công tác phòng, chống dịch Covid-19, khắc phục thiên tai, đảm bảo quốc phòng, an ninh và hỗ trợ người dân gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh Năm 2021 trong bối cảnh dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, nền kinh tế vẫn giữ được mức tăng trưởng,

Trang 40

tuy không đạt được mục tiêu đề ra nhưng an sinh xã hội được đảm bảo, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp

II Bội chi ngân ngân sách nhà nước

Bội chi ngân sách nhà nước ( Thâm hụt ngân sách) được căn cứ như sau: So sánh giữa tổng thu NSNN và tổng chi NSNN trong một năm, xảy ra ba trường hợp:

- Nếu tổng thu > tổng chi thì NSNN bội thu

- Nếu tổng thu = tổng chi thì NSNN cân bằng

- Nếu tổng thu< tổng chi thì NSNN bội chi

Chênh lệch giữa khoản thu và khoản chi chính là khoản bội chi hoặc bội thu của NSNN

1 Nguyên nhân bội chi ngân sách nhà nước

Do tác động của chu kỳ kinh doanh Khủng hoảng làm cho thu nhập nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để giải quyết những vấn đề khó khăn về kinh tế, xã hội Điều

đó làm cho mực bội chi NSNN tăng lên Ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của Nhà nước

sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng Điều đó làm giảm mức độ chi NSNN Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chu kỳ

Là tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước Khi nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư và kích thích tiêu dùng của nhà nước thì mức bội chi NSNN sẽ tăng Ngược lại, khi thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của Nhà nước thì mức bội chi NSNN sẽ giảm bớt Mức bội chi do tác động của chính sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi là bội chi cơ cấu Trong điều kiện bình thường như không có chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai tông hợp chu kỳ của bội chi cơ cấu sẽ là bội chi NSNN

2 Thực trạng tình hình bội chi năm 2021

Tổng cục Thống kê vừa công bố báo cáo về tình hình kinh tế – xã hội quý 4 và năm 2021; trong đó, cập nhật thông tin về ước thu, chi ngân sách nhà nước trong trong năm

2021

Cụ thể, lũy kế tổng thu ngân sách nhà nước ước tính cả năm 2021 đạt 1.523,4 nghìn

tỷ đồng, vượt dự toán 13,4%, tương ứng 180,1 nghìn tỷ đồng Hoạt động sản xuất kinh

Ngày đăng: 19/05/2022, 16:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w