MỤC LỤC DANH SÁCH THÀNH VIỆN NHÓM 3 Chương 1 Khái quát về giám sát ngân sách nhà nước 4 1 1 Khái niệm về giám sát ngân sách nhà nước 4 1 2 Mục đích của giám sát ngân sách nhà nước 4 Chương 2 Pháp luật về giám sát ngân sách nhà nước 4 2 1 Quy định về giám sát ngân sách nhà nước của quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp 4 2 2 Quy định giám sát ngân sách nhà nước của chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp 7 2 3 Quy định giám sát ngân sách nhà nước của kho bạc nhà nước 7 2 4 Quy định giám sát ngân sác.
Trang 1MỤC LỤC
DANH SÁCH THÀNH VIỆN NHÓM……… ………3
Chương 1: Khái quát về giám sát ngân sách nhà nước………4
1.1 Khái niệm về giám sát ngân sách nhà nước………4
1.2 Mục đích của giám sát ngân sách nhà nước……… 4
Chương 2: Pháp luật về giám sát ngân sách nhà nước………4
2.1 Quy định về giám sát ngân sách nhà nước của quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp………4
2.2 Quy định giám sát ngân sách nhà nước của chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp………7
2.3 Quy định giám sát ngân sách nhà nước của kho bạc nhà nước………….7
2.4 Quy định giám sát ngân sách nhà nước của kiểm toán nhà nước……….7
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về giám sát ngân sách nhà nước……….12
Trang 2Chương 1: Khái quát về giám sát ngân sách nhà nước
1.1 Khái niệm về giám sát ngân sách nhà nước
Giám sát ngân sách nhà nước là việc theo dõi, xem xét, đánh giá các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về tài chính - ngân sách trong toàn bộ các khâu của quy trình ngân sách, bao gồm: Chuẩn bị/xây dựng dự toán, tổ chức thực hiện dự toán và quyết toán Ngân sách Nhà nước nhằm đánh giá việc tuân thủ các quy định của pháp luật về Ngân sách Nhà nước, xử
lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý
Trong bối cảnh nền tài chính quốc gia hướng tới mục tiêu phát triển một nền quản trị công hiện đại, công khai, minh bạch, tăng cường trách nhiệm giải trình và sự tham gia của cộng đồng vào chu trình ngân sách
Việc giám sát các khoản thu, chi ngân sách nhà nước một cách chặt chẽ, bài bản, với hiệu lực và hiệu quả cao ngày càng trở nên cấp thiết, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi bội chi Ngân sách Nhà nước đang có xu hướng tăng cao, nợ công
đã chạm ngưỡng an toàn, nợ Chính phủ vượt trần mức cho phép
1.2 Mục đích của giám sát ngân sách nhà nước
Giám sát ngân sách nhà nước nhằm mục đích:
(i) Kiểm tra tính chấp hành dự toán ngân sách nhà nước đã được cấp có thẩm quyền thông qua;
(ii) Ghi nhận kết quả đạt được tính đến thời điểm giám sát, khả năng hoàn thành
dự toán;
(iii) Nắm bắt những vấn đề phát sinh, vướng mắc trong quá trình thực hiện; (iv) Đề xuất, kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thành dự toán, rút kinh nghiệm cho công tác xây dựng dự toán năm sau
Chương 2: Pháp luật về giám sát ngân sách nhà nước
2.1 Quy định về giám sát ngân sách nhà nước của quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp
2.1.1 Quy định về giám sát Ngân sách Nhà nước của Quốc Hội
a Cơ sở pháp lý
Trang 3Cơ sở pháp lý cao nhất để Quốc hội thực hiện quyền và trách nhiệm trong lĩnh vực ngân sách nhà nước được quy định tại Điều 70 Hiến pháp 2013: “Quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương
và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước;”
Khoản 10 Điều 19 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 quy định về trách nhiệm quyền hạn của Quốc hội trong lĩnh vực tài chính – ngân sách như sau: “Giám sát việc thực hiện ngân sách nhà nước, chính sách cơ bản về tài chính - ngân sách quốc gia, nghị quyết của Quốc hội về ngân sách nhà nước.”
b Hình thức giám sát
Thứ nhất, về hình thức xét báo cáo Theo quy định của thì hoạt động xét báo cáo của Quốc hội dựa trên cơ sở hoạt động thẩm tra báo cáo của Hội đồng Dân tộc và các
Uỷ ban của Quốc hội
Thứ hai, về hình thức giám sát thông qua việc thành lập các đoàn giám sát Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội thành lập các đoàn giám sát để đi giám sát hoạt động của các cơ quan của Chính phủ, hoạt động của các cơ quan chính quyền địa phương
Thứ ba, là hình thức chất vấn của đại biểu Quốc hội
c Nội dung giám sát
– Giám sát quá trình lập, thẩm tra và quyết định dự toán ngân sách
– Giám sát quá trình xây dựng phương án, thẩm tra và quyết định phương án phân bổ ngân sách trung ương
– Giám sát việc giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho các Bộ, ngành trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
– Giám sát quá trình chấp hành dự toán, quản lý và điều hành Ngân sách Nhà nước
– Giám sát quá trình lập, thẩm định, thẩm tra, xét duyệt và phê chuẩn quyết toán ngân sách (gọi tắt là phê duyệt quyết toán ngân sách)
Trang 42.1.2 Quy định về giám sát Ngân sách Nhà nước của Hội đồng nhân dân
a Cơ sở pháp lý
Khoản 1 Điều 57 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 có quy định: “ Xem xét báo cáo công tác của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và các báo cáo khác theo quy định tại Điều 59 của Luật này”
Và theo quy định của Điều 59 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 này có nêu : “…Báo cáo của Ủy ban nhân dân về kinh tế
-xã hội; báo cáo của Ủy ban nhân dân về thực hiện ngân sách nhà nước, quyết toán ngân sách nhà nước của địa phương; báo cáo của Ủy ban nhân dân về công tác phòng, chống tham nhũng; báo cáo của Ủy ban nhân dân về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; báo cáo của Ủy ban nhân dân về công tác phòng, chống tội phạm và
vi phạm pháp luật; báo cáo của Ủy ban nhân dân về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
và kiến nghị của cử tri”
b Hình thức giám sát
Giám sát của Hội đồng nhân dân Tỉnh bao gồm: giám sát của tập thể Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, các Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và giám sát của cá nhân các đại biểu Hội đồng nhân dân Hoạt động giám sát được tổ chức tại các kỳ họp Hội đồng nhân dân và giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân
Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân được thực hiện thông qua nhiều hình thức, như: xem xét báo cáo của các cơ quan, đơn vị; chất vấn và xem xét việc trả lời chất vấn; xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp; giám sát chuyên đề; lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu; tổ chức hoạt động giải trình tại phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, kiến nghị của cử tri; Phạm vi giám sát của Hội đồng nhân dân toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, các mặt công tác
2.2 Quy định giám sát ngân sách nhà nước của chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp
Trang 5Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp là các cơ quan giám sát đối với hoạt động quản lý ngân sách của chính mình Đây là hoạt động “tự giám sát” để đảm bảo thực hiện đúng và hiệu quả hoạt động Ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật với tư cách là cơ quan hành pháp Hoạt động giám sát của Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp hiện thông qua hoạt động kiểm tra, thanh tra là chủ yếu Hệ thống cơ quan thanh tra hiện nay được tổ chức và hoạt động thống nhất theo quy định của Luật Thanh tra 2010 Phạm vi hoạt động thanh tra của mỗi cơ quan trong hệ thống tương ứng với cấp mà cơ quan đó được thành lập Các cơ quan thanh tra không có mối liên
hệ ràng buộc mang tính thứ bậc nhưng việc tổ chức theo mô hình hiện nay tạo tính linh hoạt trong hoạt động và bao quát hoạt động của các đơn vị tổ chức
Tuy nhiên, theo cách thức hiện nay khi thanh tra phát hiện hành vi vi phạm trong lĩnh vực Ngân sách Nhà nước, các cơ quan này chỉ có thể báo cáo và khuyến nghị, việc có đưa tới cơ quan điều tra hay không phụ thuộc vào người đứng đầu tổ chức, đơn vị Như vậy, vô hình chung tạo ra xung đột lợi ích không cần thiết và làm mất đi giá trị của việc tạo ra sự độc lập trong tổ chức bộ máy giám sát
2.3 Quy định giám sát ngân sách nhà nước của kho bạc nhà nước
Kho bạc Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về quỹ ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước; quản lý ngân quỹ nhà nước; tổng kế toán nhà nước; thực hiện việc huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển thông qua hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ theo quy định của pháp luật (Khoản 1 Điều 1Quyết định số 26/2015/QĐ-TTg ngày 08/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ) Khoản 6 Điều 2 Quyết định số 26/2015/QĐ-TTg ngày 08/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ “a) Tập trung và phản ánh đầy đủ, kịp thời các khoản thu ngân sách nhà nước; tổ chức thực hiện việc thu nộp vào quỹ ngân sách nhà nước các khoản tiền do các tổ chức và cá nhân nộp tại hệ thống Kho bạc Nhà nước; thực hiện hạch toán số thu ngân sách nhà nước cho các cấp ngân sách theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; b) Kiểm soát, thanh toán, chi trả các khoản chi của ngân sách nhà nước và các nguồn vốn khác được giao theo quy định của pháp luật; c) Quản lý quỹ ngoại tệ tập trung của ngân sách nhà nước, định
Trang 6kỳ công bố tỷ giá hạch toán phục vụ cho việc hạch toán các khoản thu chi ngân sách nhà nước bằng ngoại tệ; d) Quản lý, kiểm soát và thực hiện nhập, xuất các quỹ tài chính nhà nước do Kho bạc Nhà nước quản lý; quản lý các khoản tạm thu, tạm giữ, tịch thu, ký cược, ký quỹ, thế chấp theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; đ) Quản lý tài sản quốc gia quý hiếm được giao theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; quản lý tiền, tài sản, các loại chứng chỉ có giá của Nhà nước và của các đơn vị, cá nhân gửi tại Kho bạc Nhà nước”
Khoản 8 Điều 2 Quyết định số 26/2015/QĐ-TTg ngày 08/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ “a) Tổ chức hạch toán kế toán ngân sách nhà nước, các quỹ và tài sản của Nhà nước được giao quản lý, các khoản viện trợ, vay nợ, trả nợ của Chính phủ và chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật; b) Báo cáo tình hình thực hiện thu, chi ngân sách nhà nước cho cơ quan tài chính cùng cấp và cơ quan nhà nước có liên quan theo quy định của pháp luật; c) Tổng hợp, lập quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm trình Bộ Tài chính để trình Chính phủ theo quy định của pháp luật”
2.4 Quy định giám sát ngân sách nhà nước của kiểm toán nhà nước
Điều 3 Luật Kiểm toán Nhà nước năm 2005 nêu rõ mục đích hoạt động của kiểm toán nhà nước là “phục vụ việc kiểm tra, giám sát của Nhà nước trong quản lý,
sử dụng ngân sách, tiền và tài sản Nhà nước; góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, tiền và tài sản Nhà nước” Vấn đề này tiếp tục được tái khẳng định ở khoản 1 Điều 118 Hiến pháp năm 2013: “Kiểm toán Nhà nước
là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công”
Đồng thời, được cụ thể hóa trong Luật kiểm toán nhà nước sửa đổi năm 2015,
đó là thông qua quy định đối tượng kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước là “Đối tượng kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước là việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và các hoạt động có liên quan đến việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công của đơn vị được kiểm toán” (Điều 4) và chức năng của Kiểm toán Nhà nước là
“đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị đối với việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công” (Điều 9)
Trang 7Thống kê cho thấy, từ khi thành lập đến nay, qua 25 năm xây dựng và phát triển (1994 – 2019), Kiểm toán Nhà nước đã phát hiện và kiến nghị xử lý tài chính 413.145
tỷ đồng, trong đó tăng thu Ngân sách Nhà nước 92.716 tỷ đồng, giảm chi Ngân sách Nhà nước 93.730 tỷ đồng Chỉ tính riêng 5 năm gần đây (2014 – 2018), Kiểm toán Nhà nước đã kiến nghị xử lý tài chính 265.565 tỷ đồng, trong đó tăng thu Ngân sách Nhà nước 63.568 tỷ đồng, giảm chi Ngân sách Nhà nước 71.365 tỷ đồng Các thông tin, kiến nghị do Kiểm toán Nhà nước cung cấp ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu phục vụ hoạt động giám sát, xem xét phê chuẩn quyết toán Ngân sách Nhà nước và quyết định các vấn đề quan trọng quốc gia của Quốc hội cũng như công tác chỉ đạo điều hành, quản lý sử dụng tài chính, tài sản công của Chính phủ; thúc đẩy các cơ quan nhà nước nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý, sử dụng các nguồn lực một cách toàn diện; góp phần minh bạch hóa hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch hơn
Đồng thời, Kiểm toán Nhà nước cũng đã kiến nghị sửa đổi, thay thế hơn 1.200 văn bản pháp luật nhằm bịt lỗ hổng về cơ chế, tổ chức thực hiện quy định của Nhà nước, tránh thất thoát, lãng phí, góp phần quan trọng làm lành mạnh nền tài chính quốc gia, siết chặt kỷ cương, kỷ luật tài chính, đặc biệt góp phần tích cực vào quá trình hoàn thiện thể chế trong tiến trình phát triển của đất nước, như: hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hình thức đối tác công tư; hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý,
sử dụng đất; cơ chế, chính sách quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản; công tác quản lý thu, chống thất thu thuế; công tác quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và xác định giá trị doanh nghiệp nhà nước trước khi cổ phần hóa… Trên cơ sở đó, góp phần nâng cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, các cơ quan, tổ chức trong việc quản lý, điều hành tài chính công, tài sản công; nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính công và kiềm chế lạm phát, ổn định nền kinh tế Phát hiện và ngăn chặn các hành vi lạm dụng quyền lực làm thất thoát, lãng phí và phòng, chống tham nhũng Trung bình mỗi năm, Kiểm toán Nhà nước đã phát hiện và
có trên 200 kiến nghị xử lý trách nhiệm tập thể, cá nhân có sai phạm phát hiện qua kiểm toán; cung cấp hàng trăm báo cáo, hồ sơ cho các cơ quan điều tra, cơ quan quản
lý nhà nước theo quy định của Luật Kiểm toán Nhà nước và Luật Phòng, chống tham
Trang 8nhũng; chuyển hàng chục hồ sơ về các vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật sang cơ quan điều tra để điều tra làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật
Như vậy, có thể khẳng định, Kiểm toán Nhà nước đã có nhiều đóng góp đối với quản lý Ngân sách Nhà nước nói chung và minh bạch Ngân sách Nhà nước nói riêng, thể hiện trên một số điểm sau:
Thứ nhất, một trong những nhiệm vụ kiểm toán Ngân sách Nhà nước là tiến hành kiểm tra, đánh giá công tác kế toán, các báo cáo quyết toán ngân sách của các đơn vị, các cấp ngân sách trong bộ máy nhà nước, các hoạt động quản lý, điều hành Ngân sách Nhà nước Thông qua đó, xác nhận tính đúng đắn, trung thực, hợp pháp của các tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo quyết toán ngân sách; đưa ra các kết luận và đánh giá về hoạt động của khách thể kiểm toán Kiểm toán Ngân sách Nhà nước cung cấp thông tin cho Quốc hội, Hội đồng nhân dân để xem xét, phê chuẩn quyết toán Ngân sách Nhà nước Chức năng này được thể hiện qua việc xác nhận số liệu quyết toán về các khoản mục trọng yếu trên báo cáo quyết toán thu, báo cáo quyết toán chi, cân đối ngân sách địa phương, Ngân sách Nhà nước và các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính của các đơn vị dự toán các cấp
Kiểm tra sau của Kiểm toán Nhà nước không chỉ dừng lại ở việc xem xét độ tin cậy của các thông tin, các chỉ tiêu trong báo cáo quyết toán ngân sách, tính tuân thủ trong quản lý, điều hành Ngân sách Nhà nước mà còn xem xét các khía cạnh về tính hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả của công tác quản lý và điều hành Ngân sách Nhà nước của Chính phủ; xem xét tính hiệu lực và hiệu quả trong các khoản chi của Ngân sách Nhà nước Thông qua kết quả kiểm toán, ngoài việc cung cấp thông tin cho Quốc hội, Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước còn cung cấp cho các cơ quan quản lý những yếu kém bất cập trong quản lý Ngân sách Nhà nước; những đơn vị vi phạm chính sách, chế độ quản lý Ngân sách Nhà nước Trên cơ sở đó, các cơ quan quản lý đề ra các biện pháp thích hợp nhằm quản lý Ngân sách Nhà nước tốt hơn
Ngoài ra, thông qua kết quả kiểm toán Ngân sách Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước thực hiện việc công khai các số liệu và tình hình quản lý, sử dụng Ngân sách Nhà nước trên các phương tiện truyền thông, họp báo hay thực hiện nghĩa vụ báo cáo các diễn đàn của Quốc hội, Chính phủ nhằm bảo đảm tính minh bạch của Ngân sách
Trang 9Nhà nước Trong nhà nước pháp quyền đòi hỏi mọi hoạt động của Nhà nước phải được kiểm tra và giám sát chặt chẽ bởi cơ quan lập pháp – cơ quan do Nhân dân bầu
ra và là người đại diện cho quyền lợi của những người đóng thuế tạo nên Ngân sách Nhà nước Nhu cầu được thông tin của dân chúng và các cơ quan có quyền giám sát đòi hỏi Kiểm toán Nhà nước với tư cách là cơ quan kiểm tra tài chính công phải công khai các số liệu và tình hình quản lý, sử dụng Ngân sách Nhà nước thông qua hoạt động kiểm toán Ngân sách Nhà nước của mình Chính điều này sẽ tạo sức ép ngược lại đối với các đối tượng quản lý và sử dụng Ngân sách Nhà nước nhằm quản lý, sử dụng Ngân sách Nhà nước một cách hiệu quả hơn
Thứ hai, Kiểm toán Nhà nước thực hiện chức năng tư vấn thông qua việc bày tỏ
ý kiến Chức năng này xuất phát từ mục tiêu kiểm toán Ngân sách Nhà nước giúp hoàn thiện việc quản lý, điều hành, sử dụng Ngân sách Nhà nước của các khách thể kiểm toán Thông qua những phát hiện của mình trong khuôn khổ từng cuộc kiểm toán Ngân sách Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước đưa ra các khuyến nghị, giải pháp để khắc phục, sửa chữa những sai sót, vi phạm chế độ quản lý tài chính – kế toán của Nhà nước, ngăn ngừa không cho chúng lặp lại trong tương lai, góp phần làm lành mạnh nền tài chính quốc gia
Thứ ba, đối với các địa phương, thực tế những năm qua cho thấy, thông tin từ Kiểm toán Nhà nước ngày càng trở nên quan trọng và hữu ích đối với Hội đồng nhân dân, đặc biệt trước khi Hội đồng nhân dân quyết định những vấn đề tài chính – ngân sách của địa phương Kết quả kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước góp phần cung cấp thông tin toàn diện cho Hội đồng nhân dân sử dụng trong quá trình xem xét, quyết định dự toán và phân bổ ngân sách địa phương, bảo đảm dự toán bao quát hết nguồn thu, nhiệm vụ chi, góp phần giúp Hội đồng nhân dân thực thi quyền giám sát việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; xem xét khi phê chuẩn Báo cáo quyết toán ngân sách địa phương…
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của Kiểm toán Nhà nước vẫn còn một số khó khăn, hạn chế cần khắc phục, đó là:
Công tác kiểm toán Ngân sách Nhà nước của Kiểm toán Nhà nước còn hạn chế
về quy mô, phạm vi, chất lượng, hiệu lực kiểm toán Thực trạng kiểm toán hiệu quả
Trang 10sử dụng ngân sách cho thấy, hiện nay, về cơ bản, chúng ta chỉ tiếp cận ngân sách qua kiểm toán tài chính và kiểm toán tuân thủ, trong đó còn nặng về phát hiện sai sót, chưa đi sâu vào kiểm toán mục tiêu đánh giá tính hiệu quả của chi tiêu ngân sách, chưa đi sâu vào kiểm toán dự toán, phân bổ nguồn lực ngân sách do năng lực đội ngũ kiểm toán viên còn bất cập cũng như những rào cản về phạm vi của các quy định pháp lý trong kiểm toán ngân sách
Kết quả kiểm toán cũng như kiến nghị kiểm toán đối với công tác lập, giao dự toán còn hạn chế, thiếu tính kịp thời so với thực tiễn do đặc điểm về độ trễ thời gian Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán quyết toán Ngân sách Nhà nước
Ý kiến của Kiểm toán Nhà nước khi tham gia các phiên họp của Ủy ban Tài chính – Ngân sách và Ủy ban Thường vụ Quốc hội chủ yếu trên cơ sở kết quả tổng hợp ý kiến trong quá trình tham gia thảo luận dự toán Ngân sách Nhà nước của các
bộ, cơ quan trung ương, địa phương tại Bộ Tài chính, chưa có ý kiến tham gia trực tiếp đối với dự toán Ngân sách Nhà nước và phương án phân bổ Ngân sách Trung ương do Chính phủ gửi Ủy ban Tài chính – Ngân sách, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trình Quốc hội
Bên cạnh đó, khi tham gia ý kiến đối với dự toán Ngân sách Nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương, chưa có quy định cụ thể yêu cầu các bộ, cơ quan trung ương và địa phương trong việc gửi báo cáo dự toán cho Kiểm toán Nhà nước
Mối quan hệ phối hợp giữa Kiểm toán Nhà nước với các cơ quan nhà nước hữu quan trong kiểm toán Ngân sách Nhà nước chưa đạt hiệu quả cao do mối quan hệ chưa có tính thường xuyên, liên tục và cơ chế chưa mang tính ràng buộc pháp lý Hiện mối quan hệ mới chủ yếu dừng lại ở mức độ cung cấp thông tin phục vụ kiểm toán, phối hợp sau kiểm toán còn bất cập nên việc kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán chưa hiệu quả
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về giám sát ngân sách nhà nước
Thứ nhất, rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành các quy định của pháp luật về cơ chế, chính sách quản lý tài chính ngân sách, định mức chi tiêu không còn phù hợp;