1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh tế Nhật Bản xử lí nợ và bài học tiền tệ của nhật bản

13 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 370,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA NHẬT BẢN HỌC BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN KINH TẾ NHẬT BẢN PHÂN TÍCH CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ NỢ XẤU VÀ CÁC CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH TIỀN TỆ CỦA NHẬT BẢN SAU KHI VỠ BONG BÓNG KINH TẾ BÀI HỌC RÚT RA CHO VIỆT NAM Giảng viên hướng dẫn Đinh Thị Kim Thoa Sinh viên thực hiện 2056190116 Lộc Thanh Tâm Email 2056190116hcmussh edu vn TP Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 02 năm 2022 mailto 2056190116hcmussh edu vn 2 MỤC LỤC MỤC LỤC 2 C.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA NHẬT BẢN HỌC

BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN KINH TẾ NHẬT BẢN

PHÂN TÍCH CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ NỢ XẤU VÀ CÁC CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH TIỀN TỆ CỦA NHẬT BẢN SAU KHI VỠ BONG BÓNG KINH TẾ BÀI HỌC

RÚT RA CHO VIỆT NAM

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

CHÚ THÍCH 3

LỜI MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NHẬT BẢN SAU THỜI KỲ VỠ BONG BÓNG KINH TẾ 6

1 Tình hình nợ xấu ở Nhật Bản thời kỳ vỡ bong bóng kinh tế 6

2 Phân tích các biện pháp xử lý nợ xấu của Nhật Bản sau thời kỳ vỡ bong bóng kinh tế 6

CHƯƠNG 3: CÁC CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH, TIỀN TỆ CỦA NHẬT BẢN SAU THỜI KÌ VỠ BONG BÓNG KINH TẾ 9

1 Các giải pháp của Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BOJ) 9

2 Chính sách nới lỏng tiền tệ - lãi suất 0% của Ngân hàng trung ương Nhật Bản 9

3 Chính sách thắt chặt tài chính 10

CHƯƠNG 4: BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 11

KẾT LUẬN 12

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Sách, báo, tạp chí: 13

Tài liệu trực tuyến: 13

Trang 3

CHÚ THÍCH

ODA là khoản vay hoặc viện trợ của đối tác nước ngoài dành cho

Chính phủ và nhân dân các nước nhận được viện trợ

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

BOJ Ngân hàng trung ương Nhật Bản

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Nhật Bản là một trong những quốc gia có tầm ảnh hưởng to lớn đến nền kinh tế thế giới, trong đó có Việt Nam Nhật Bản là một cường quốc kinh tế, với những năm tăng trưởng thần kỳ trước những năm 1990 khiến cả thế giới phải kinh ngạc Nhiều quốc gia trong khu vực châu Á đang cố gắng học hỏi mô hình phát triển của Nhật Bản, và một số quốc gia và khu vực Đông Á này đã nhanh chóng trở thành con rồng, con hổ về kinh tế, giải quyết thành công nhiều vấn đề Vì vậy, cần phải phân tích, nghiên cứu, tìm hiểu và nghiên cứu các chính sách, biện pháp, giải pháp, chiến lược mà chính phủ Nhật Bản đã

áp dụng để đưa nền kinh tế phát triển mạnh mẽ như vậy

Sau quá trình học tập môn Kinh tế Nhật Bản với đề tài: “Phân tích các biện pháp

xử lý nợ xấu và các chính sách tài chính tiền tệ của Nhật Bản sau khi vỡ bong bóng kinh

tế Bài học rút ra cho Việt Nam” Vì thời gian có hạn và kiến thức bản thân còn hạn chế nên nội dung bài luận này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Mong sẽ được giảng viên góp ý và nhận xét những thiếu sót

Trang 5

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

Có thể thấy, sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á, Nhật Bản đã quyết liệt hơn trong việc đẩy mạnh chương trình cải cách kinh tế Trên thực tế, cuộc khủng hoảng đã bộc lộ rõ những hạn chế của bản thân nền kinh tế Nhật Bản, đặc biệt là hệ thống tài chính ngân hàng, buộc Nhật Bản phải tiến hành cải cách toàn diện Nhìn lại những cải cách trong thời gian qua, có thể thấy Nhật Bản không chỉ chú trọng đến việc tạo và kích cầu, mà còn ở phía cung của nền kinh tế để tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý trên cơ sở phát triển mạnh các ngành kinh tế kỹ thuật cao

Trên phương diện cầu, chính phủ Nhật Bản hàng năm có nhiều chương trình kích cầu kinh tế để mở rộng đầu tư Ngoài ra, các nỗ lực đang được thực hiện để xử lý nợ xấu nhằm tạo ra một hệ thống ngân hàng lành mạnh và kích thích hoạt động đầu tư tư nhân Trong các kế hoạch cải cách của các thủ tướng Nhật Bản trước thời ông Koizumi,

họ tập trung vào việc kích thích đầu tư tư nhân và hạn chế, cắt giảm tài chính đầu tư công để cân bằng ngân sách Ví dụ, theo dự toán ngân sách cho năm tài chính 2002, phát hành trái phiếu sẽ không vượt quá 30 nghìn tỷ yên, vốn ODA sẽ giảm 10% và đầu

tư công sẽ giảm 10% Để tiếp tục kích thích đầu tư tư nhân, Chính phủ đã có nhiều nỗ lực để giải quyết vấn đề nợ xấu thông qua một số giải pháp mạnh mẽ và khả thi như bán lại nợ, phá sản con nợ, hủy bỏ ngân hàng Đồng thời, cắt giảm thuế để kích thích người dân chi tiêu nhiều hơn, đầu tư phát triển kinh tế

Trên phương diện cung, nhà nước thúc đẩy phát triển tổng thể vùng kinh tế nhằm gắn kết các khu vực trong nền kinh tế theo 4 khu vực chính: Đông – Bắc, ven biển Nhật Bản, ven Thái Bình Dương và trục phía Tây Nhật Bản Từ đó phát huy lợi thế của từng vùng trong các hoạt động hợp tác quốc tế, đẩy mạnh tiến trình tự do hoá và hội nhập quốc tế Bên cạnh việc gia tăng các hoạt động hợp tác với khu vực ASEAN, Nhật Bản cũng từng bước mở cửa thị trường nội địa và tự do hoá các hoạt động kinh doanh, thu hút đầu tư nước ngoài

Điều đáng chú ý nhất trong các cuộc cải cách gần đây là việc chú trọng phát triển kinh tế theo hướng gia tăng nhu cầu nội địa, lấy nội nhu làm động lực phát triển đất nước

Trang 6

CHƯƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NHẬT BẢN SAU

THỜI KỲ VỠ BONG BÓNG KINH TẾ

1 Tình hình nợ xấu ở Nhật Bản thời kỳ vỡ bong bóng kinh tế

Nợ xấu tồn đọng của các ngân hàng và các công ty tài chính Nhật Bản đang phải gánh lên tới hơn 48.000 tỉ yên (theo ước tính vào tháng 3/2000), chiếm khoảng 7% tổng số vốn cho vay (con số tương ứng của Mỹ giảm từ 4% xuống 1% trong thập niên 1990) Nợ xấu tập trung chủ yếu do những nơi vay mượn nhiều những ngành kinh doanh gặp khó khăn như các ngành bất động sản, xây dựng…

2 Phân tích các biện pháp xử lý nợ xấu của Nhật Bản sau thời kỳ vỡ bong bóng kinh tế

Điểm nổi bật trong chính sách kinh tế thời ông Koizumi là sau bong bóng kinh tế, đưa ra chính sách giải quyết vấn đề nợ xấu – gánh nặng của nền kinh tế Nhật Bản trong một thời gian dài Cơ hội quan trọng đó là “chương trình tái sinh tài chính” (hay được gọi là kế hoạch Takenaka) được quyết định vào tháng 10 năm 2002 Đây là chương trình được xúc tiến bởi Takenaka Heizo khi trở thành bộ trưởng phụ trách tài chính trong việc cải cách nội các Mục tiêu của chương trình này là làm giảm tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng trọng yếu từ 8.7% xuống còn một nửa trong vòng 4 năm Hơn thế nữa, những phương châm nghiêm khắc về việc tăng cường củng cố trong việc giám định tài sản, tăng nguồn vốn chủ sở hữu, đẩy mạnh quản lý nhà nước đã được thực hiện, việc xử

lý các khoản nợ xấu đã được cụ thể hóa

Tăng cường quản trị cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

Các biện pháp chinh sau đây sẽ được thực hiện để tăng cường quản trị và tăng lợi nhuận của các ngân hàng.trong quản lý tổ chức tài chính

Chức năng của đánh giá viên bên ngoài

Kiểm toán viên bên ngoài có trách nhiệm thực hiện một cuộc kiểm toán chặt chẽ

về việc đánh giá tài sản, tính chính xác của các khoản dự phòng và phân bổ, cũng như đánh giá giả định hoạt động liên tục

Việc chuyển đổi cổ phiếu ưu đãi thành cổ phiếu thường

Về việc chuyển đổi cổ phiếu ưu đãi của các ngân hàng do chính phủ nắm giữ thành cổ phiếu phổ thông, các hướng dẫn hoạt động sẽ được thiết lập càng sớm càng tốt theo hướng chuyển đổi để giải quyết khả năng quản lý đang xuống cấp đáng kể Quyền biểu quyết và điều hành công ty: Đối với cổ phiếu thường, cổ đông nắm giữ sẽ có quyền biểu quyết về chính sách và bầu cử ban lãnh đạo Tuy nhiên, đối với cổ phiếu ưu đãi thì không có quyền đó; ngoại trừ loại cổ phiếu ưu đãi biểu quyết do những cá nhân hoặc tập thể đồng sáng lập công ty hiện nắm giữ Để nắm giữ vai trò trọng yếu trong việc điều

Trang 7

hành và quản lí công ty cổ phần, cổ phiếu thường sẽ có giá trị về quyền lợi về tiềm lực lâu dài so với cổ phiếu ưu đãi

Ban hành chuẩn mực nợ xấu trong các hoạt động tín dụng của các ngân hàng

thương mại, tăng cường vốn tự có

Các ngân hàng tại Nhật Bản thực hiện việc phân loại nợ khắt khe và thường

xuyên Bên cạnh đó, các ngân hàng của quốc gia này cũng rất tích cực trong việc công khai số liệu nợ xấu thực tế của mình và quyết liệt xử lý để giảm tỷ lệ nợ xấu, góp phần đảm bảo tính bền vững của thị trường tài chính trong nước

Một số biện pháp quan trọng được sử dụng trên cơ sở các nguyên tắc quản lý nợ xấu có thể kể đến như điều chỉnh kỳ hạn nợ, giảm hoặc miễn một phần lãi vay, chứng khoán hóa các khoản nợ xấu, bù đắp bằng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng…

Để tăng cường vốn tự có: cải cách thuế, thực hiện hệ thống khấu hao miễn thuế mới: Đối với các con nợ dưới mức lo ngại về phá sản, công nhận họ miễn thuế dựa trên kết quả tự đánh giá dưới sự giám sát và kiểm tra của Cơ quan Dịch vụ Tài chính Ngoài

ra, ngay cả khi khoản lỗ được xác định trong doanh nghiệp thì cần phải xem xét đặc biệt bằng cách khấu hao trực tiếp từng phần, ví dụ, nới lỏng các yêu cầu xử lý tài sản thế chấp

Các chuẩn mực của nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Nhật Bản được ban hành, tuyên truyền rộng rãi Vì vậy, nhận thức và sự hiểu biết về tầm quan trọng của việc xử lý nợ xấu tại Nhật Bản rất cao

Tổ chức các hoạt động kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại, đánh giá tài sản chặt chẽ

Nhật Bản coi công tác kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu nhằm giúp kịp thời phát hiện, ngăn chặn và chấn chỉnh những sai sót trong quá trình cấp tín dụng

và quản lý thu hồi nợ của các ngân hàng thương mại trong nước Chính vì vậy, hoạt động thanh tra, giám sát được coi là nhiệm vụ trọng yếu trong quản lý nợ xấu tại quốc gia này Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu còn nhằm phát hiện và ngăn chặn những sai phạm về đạo đức, sự lạm dụng quyền lực và tư lợi cá nhân, từ đó, ngăn chặn những thiệt hại có nguy cơ xảy ra đối với nền kinh tế và hệ thống ngân hàng

Để đánh giá tài sản chặt chẽ, chính phủ đã áp dụng phương pháp dòng tiền DCF (chiết khấu dòng tiền) để dự báo về dòng tiền trong tương lai và chiết khấu chúng để đạt được giá trị hiện tại, được sử dụng để đánh giá tiềm năng đầu tư trong tương lai và Dựa trên các cuộc thanh tra của Cơ quan Dịch vụ Tài chính Nhật Bản FSA khoảng cách giữa kết quả tự đánh giá của các ngân hàng lớn và kết quả thanh tra sẽ được công bố trên cơ sở tổng hợp Sự chênh lệch giữa kết quả tự đánh giá và kết quả kiểm tra sẽ được công bố

Trang 8

thường xuyên trong tương lai, mỗi ngân hàng sẽ được yêu cầu sửa chữa những chênh lệch đó

Về cơ bản, công tác kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại tại Nhật Bản chú trọng vào một số vấn đề chính như: quản lý tiền vay

và chính sách dự phòng rủi ro; mức độ tuân thủ các chuẩn mực nợ xấu; phân loại nợ, trích lập dự phòng và sử dụng dự phòng vào việc xử lý rủi ro tín dụng

Việc xử lý các ngân hàng thương mại khi nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng

Nhật Bản thành lập Công ty chuyên thu hồi nợ (RCC) để mua nợ và Cơ quan tái thiết công nghiệp Nhật Bản (IRCJ) (4/2003) có vai trò hỗ trợ xử lý các khoản nợ xấu từ một bên bằng cách mua các khoản nợ xấu và hỗ trợ phục hồi doanh nghiệp

Cách làm của IRCJ thường là tách các công ty con nợ thành nhiều bộ phận nhỏ (như phòng hoặc ban) và đánh giá hiệu quả hoạt động

IRCJ có thể bán các bộ phận không sinh lời kèm chiết khấu dựa vào giá trị tài sản sau khi định giá Cuối cùng, nguồn lực sẽ được tập trung một cách có chọn lọc tới

những phòng, ban làm ăn có lãi hoặc có sức cạnh tranh

Sau khi được thành lập, IRCJ đã tái thiết được nhiều doanh nghiệp, tập đoàn Chính phủ Nhật Bản cho rằng, xử lý nợ và tái cơ cấu doanh nghiệp yếu kém là hai việc không thể tách rời trong quá trình xử lý nợ xấu

Kết quả là đến năm mục tiêu đã thực hiện được kế hoạch đề ra, nền kinh tế Nhật Bản

cuối cùng cũng có thể thoát khỏi sự khủng hoảng nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu từ 8,7% vào cuối tháng 3 năm 2002 (dựa trên các khoản cho vay được công bố theo luật Phục hồi tài chính) giảm xuống 2,9% vào cuối tháng 3 năm 2005, mục tiêu đề ra của chương trình

đã thành công

3

Trang 9

CHƯƠNG 3: CÁC CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH, TIỀN TỆ CỦA NHẬT BẢN

SAU THỜI KÌ VỠ BONG BÓNG KINH TẾ

1 Các giải pháp của Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BOJ)

BOJ đã thực hiện một số giải pháp để ổn định các thị trường tài chính và tạo thuận lợi cho đầu tư vào các doanh nghiệp, tiến độ mua bán công khai trái phiếu chính phủ (JGBs) đã tăng từ 14.4 nghìn tỷ yên/ năm vào tháng 12/2008 lên đến 21.6 nghìn tỷ yên/năm (tức chiếm 4% GDP) vào tháng 3 năm 2009 Thêm vào đó, BOJ đã tạo thuận lợi cho các ngân hàng cho vay đối với khu vực doanh nghiệp thông qua việc mua lại các

cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp: Vào giữa năm 2009, lượng cổ phiếu và trái phiếu công ty mua công khai chưa thực hiện mỗi loại chiếm khoảng 0,2 nghìn tỷ yên, một phần nhỏ trong số lượng được uỷ quyền Một giải pháp khác cũng khá hiệu quả để hỗ trợ nguồn vốn cho các doanh nghiệp đó là việc đưa ra “hoạt động cấp vốn thông qua các quỹ đặc biệt” vào tháng 1 năm 2009 Cơ chế này cung cấp nguồn quỹ không giới hạn cho các ngân hàng với một mức lãi suất chính sách dựa trên sự mở rộng hàng loạt các công cụ cấp vốn cho doanh nghiệp đủ điều kiện được hỗ trợ Trên thực tế, điều này đã tạo nên áp lực đi xuống trong lãi suất cho vay ngắn hạn tới 7,5 nghìn tỷ yên vào giữa năm 2009 Lương tồn đọng tăng tới 7,5 nghìn tỷ yên vào giữa năm 2009

2 Chính sách nới lỏng tiền tệ - lãi suất 0% của Ngân hàng trung ương Nhật Bản

Từ giữa năm 2001, BOJ đã bắt đầu áp dụng chính sách nới lỏng tiền tệ nhằm vừa hạn chế giảm phát, vừa ngăn ngừa đồng Yên tăng giá, điều chỉnh cán cân tài khoản vãng lai của ngân hàng thay vì điều chỉnh lãi suất Vào tháng 2/2003, BOJ đã điều chỉnh tăng cán cân vãng lai từ 15-20 nghìn tỷ Yên lên 17-22 nghìn tỷ Yên, tháng 4 là 22-27 nghìn tỷ, tháng 5 điều chỉnh tiếp lên tới 27-30 nghìn tỷ và đến tháng 10/2003, BOJ đã nâng cán cân tài khoản vãng lai lên khoảng 27-32 nghìn tỷ Yên Mục đích chính của việc điều chỉnh này là ngăn chặn giảm phát và duy trì đà phục hồi mới được hình thành Thống đốc BOJ đã tuyên bố sẽ không đảo ngược quá trình này tới lúc mà giá tiêu dùng

có tỷ lệ tăng trưởng dương trong nhiều tháng liên tục

Để vượt qua tình trạng giảm phát và đưa nền kinh tế trở lại con đường tăng trưởng bền vững với sự ổn định về giá cả, do vậy BOJ đã liên tục áp dụng giải pháp nới lỏng tiền tệ tích cực, trong đó có chính sách lãi suất 0% Cụ thể, mức lãi suất huy động qua đêm, lãi suất chính sách được giảm đến 0,1% vào tháng 12 năm 2008 và tiếp tục được duy trì cho đến nay (Đồ thị 22) Hiệu ứng lãi suất cho vay bằng 0 với mức 0,1% là mức lãi suất thấp nhất trong số các ngân hàng trung trong trên toàn cầu Hơn thế nữa, để khuyến khích cắt giảm lãi suất cho vay dài hạn, BOJ đã đưa ra tháng 12 năm 2009 hình

Trang 10

thức cấp vốn vay mới để cung cấp 3 tháng một lần cho các tổ chức tài chính với mức lãi suất thấp 0,1% tức bằng với lãi suất chính sách

Một đặc trưng khác nữa của chính sách tiền tệ Nhật Bản là việc ngăn đồng Yên tăng giá, BOJ đã hạn chế mua trái phiếu vào Chính sách can thiệp để ngăn đồng nội tệ tăng giá thường đi kèm với mua trái phiếu vào là để giảm lượng nội tệ trong lưu thông tránh gây ra vấn đề lạm phát (chính sách chống hậu quả phụ của việc can thiệp giữ tỷ giá) Nhưng vì Nhật Bản đang chịu giảm phát nên chính sách chống hậu quả phụ này không còn cần thiết nữa

3 Chính sách thắt chặt tài chính

Ngược với chính sách tiền tệ nới lỏng thì chính sách tài chính của Nhật Bản trong giai đoạn này là chính sách thắt chặt tài chính Theo đánh giá của chính phủ của Thủ tướng Koizumi, số nợ chính phủ của cả chính quyền trung ương lẫn chính quyền địa phương đã tích tụ tương đương 140% GDP của đất nước (năm 2003) Do đó, đương nhiên trong giai đoạn tiếp theo sẽ không nên và cũng không thể khuếch trương tài

chính Năm 2003, các khoản chi tiêu liên quan đến đầu tư công giảm khoảng 3,7% so với năm 2002 Đối với kế hoạch tài chính địa phương thì khoản chi cho các nhiệm vụ chi sự nghiệp độc lập của địa phương giảm khoảng 5,5% so với năm trước Chi kiến thiết địa phương giảm 6,4% Chi tiêu và vay nợ của chính phủ được cắt giảm mạnh nhằm giảm thiểu gánh nặng ngân sách Các công trình lớn như xây dựng các hệ thống đường cao tốc được hạn chế để tập trung nguồn vốn cho các thành phần gặp nhiều khó khăn Chính phủ cũng quyết định chấp nhận xóa bỏ một số khoản nợ để làm lành mạnh

hệ thống ngân hàng cũng như các tập đoàn lớn (Keiretsu) Một loạt quy định về kinh doanh được bãi bỏ để khuyến khích đầu tư Tháng 5/2005, một đạo luật giúp cho việc thành lập các doanh nghiệp trở nên dễ dàng hơn và chi phí thấp hơn đã ra đời

Đường lối cải cách trọng tâm của chính quyền của Thủ tướng Koizumi cùng cánh tay phải - người khởi xướng là Bộ trưởng Kinh tế Takenaka Heizo được chú trọng triệt

để trong tổng thể của kế hoạch thắt chặt tài chính Theo đường lối này, ngoài những biện pháp nhằm nâng thuế suất và giảm chi tiêu công cộng thì còn chú trọng nhiều vào

tư nhân hóa một số công ty trong ngành giao thông và ngành ưu điện để tăng tỷ lệ đóng góp của cá nhân trong bảo hiểm xã hội Có thể gọi những bước cải cách này là một cuộc cải cách cơ cấu trong khu vực được coi là “thánh địa”, vì đó là những lĩnh vực trước giờ chưa từng được tiến hành cải cách Doanh nghiệp nhà nước Đường cao tốc Nhật Bản (Japan Highway) là công ty gặp rắc rối lớn nhất với số nợ tích luỹ là 40 nghìn tỷ Yên sau khi xây dựng các con đường thu phí tại các địa điểm có vấn đề sẽ được tư nhân hóa Phó chủ tịch của công ty này đã bị bắt giữ gần đây vì một vụ bê bối trong gian lận thầu Còn kế hoạch cải cách hệ thống bưu điện, mặc dù đã từng bị bác bỏ tại quốc hội nhưng vẫn được ông Koizumi quả quyết thực hiện tư nhân hoá nhằm ngăn chặn nguồn tài trợ

Ngày đăng: 19/05/2022, 13:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w