SKKN Hóa học lớp 10 với thực tiễn đời sống 2 MỤC LỤC MỤC LỤC 2 I MỞ ĐẦU 3 I 1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3 I 2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI 4 I 3 NHIỆM VỤ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 4 I 4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5 I 4 1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 5 I 4 2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5 I 4 3 Phương pháp thống kê toán học 5 I 5 PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI 5 I 6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 6 II NỘI DUNG 6 II 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 6 II 2 THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 8 II 3 BIỆN PHÁP VÀ GIẢI[.]
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
I MỞ ĐẦU 3
I.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 3
I.2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI: 4
I.3 NHIỆM VỤ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 4
I.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
I.4.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 5
I.4.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5
I.4.3 Phương pháp thống kê toán học 5
I.5 PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI: 5
I.6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI: 6
II NỘI DUNG 6
II.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 6
II.2 THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU……… 8
II.3 BI ỆN PHÁP VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 9
II.3.1 Cơ sở đề xuất các giải pháp : 9
II.3.2 Các giải pháp chủ yếu : 9
II.3.3 Tổ chức triển khai thực hiện nội dung của đề tài: 10
II.3.3.1 Tổ chức triển khai thực hiện 10
II.3.3.2 Nội dung của đề tài: 10
II.3.4 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 21
III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 21
Trang 2III.1 KẾT LUẬN………21 III.2.KIẾN NGHỊ………21 TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 3I MỞ ĐẦU
I.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Hoá học là bộ môn khoa học tự nhiên, vì vậy đôi khi chúng ta nghĩ đây là
bộ môn khô khan, khó tiếp thu đối với học sinh Có lúc học sinh học lý thuyết trên sách giáo khoa, còn thực tế hiện tượng hoá học xảy ra như thế nào thì không nhìn thấy được Học sinh chỉ học thuộc lòng phương trình và hiện tượng hoá học theo sách vở, điều này làm cho các em mau quên và dễ chán Cũng có lúc các em cảm thấy kiến thức Hoá học thật trừu tượng nên không hiểu bài trong lớp Mà đã khó hiểu thì làm sao các em có thể yêu thích?
Môn Hóa học ở trường phổ thông nếu không có những bài giảng và phương pháp hợp lí phù hợp với thế hệ học trò dễ làm cho học sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận Trước tình hình đó, Hóa học phải đổi mới phương pháp dạy học đã và đang thực sự là một đòi hỏi cấp thiết, vì nó là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy Một trong những yếu tố để đạt giờ dạy có hiệu quả và tiến bộ là phát huy tính thực tế
Có những vấn đề Hóa học giúp học sinh giải thích những hiện tượng trong
tự nhiên, tránh việc mê tín dị đoan, thậm chí hiểu được những dụng ý khoa học Hóa học trong những câu ca dao, tục ngữ, mà thế hệ trước để lại và có thể ứng dụng trong thực tiễn đời sống thường ngày, chỉ bằng những kiến thức rất phổ thông mà không gây nhàm chán, xa lạ, lại có tác dụng kích thích tính chủ động, sáng tạo, hứng thú trong môn học
Trong việc dạy môn hoá học ở trường phổ thông, người giáo viên phải có vốn kiến thức về thực tế sâu, rộng, có khả năng gắn bài giảng với thực tế, tạo ra được những giờ học sinh động, nâng cao sự hiểu biết và kích thích sự ham mê học tập của học sinh
Trang 4Với những lý do trên tôi đã tìm tòi nghiên cứu, tham khảo tư liệu và áp
dụng đề tài:“Hóa học lớp 10 với thực tiễn đời sống” nhằm khơi dậy hứng thú học
tập cho học sinh Có vậy, hoc sinh sẽ thấy môn Hoá học là môn học gần gũi, dễ hiểu; qua đó từng bước hình thành ở các em lòng yêu thích bộ môn và niềm đam
mê khoa học
I.2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài này được thực hiện với mục đích giúp học sinh giải thích những hiện tượng trong tự nhiên, tránh việc mê tín dị đoan Đồng thời, đề tài cũng sẽ làm rõ ý nghĩa khoa học hoá học có thể ứng dụng thực tiễn trong đời sống thường ngày qua giảng dạy môn hoá học lớp 10, nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo, hứng thú trong môn học Từ những cơ sở đó, đề tài cũng sẽ đem lại cho giáo viên và học sinh những nhận thức về phương pháp học tập, làm việc mang tính hợp tác, thấy rõ vai trò tích cực của học sinh và chủ đạo của giáo viên làm cho Hoá học không khô khan, bớt đi tính đặc thù phức tạp
Tóm lại, đề tài muốn góp một tiếng nói vào phong trào đổi mới phương pháp dạy học, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục, đào tạo trong tình hình đất nước hiện nay
I.3 NHIỆM VỤ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này nhằm giải quyết ba vấn đề cơ bản sau: Một là: nghiên cứu những vấn đề lý luận về phương pháp dạy học hoá
học ở trường phổ thông
Hai là: nghiên cứu tình hình thực tế qua việc dự giờ các tiết dạy của giáo viên cùng bộ môn để đánh giá và rút ra phương pháp giảng dạy thích hợp, đồng thời nghiên cứu hiệu quả học tập của học sinh trong suốt quá trình thực hiện giải pháp
Trang 5Ba là: trên cơ sở thống kê số liệu chỉ rõ cách thực hiện và hiệu quả của
việc áp dụng :“Hóa học lớp 10 với đời sống thực tiễn”
Đối tượng áp dụng đề tài là học sinh lớp 12 trường THPT Lê Lợi, cụ thể là:
I.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I.4.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập các loại sách, báo, tạp chí, tài liệu có liên quan đến đề tài Đọc và khái quát các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu: chủ yếu là SGK và các loại sách về hóa học trong sản xuất và đời sống
I.4.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
I.4.2.1 Phương pháp quan sát
Phương pháp này thực hiện bằng cách theo dõi và phân loại học sinh (Giỏi , Khá, Trung bình, Yếu, Kém) để đưa ra cách giải hợp lý cho từng đối tượng
I.4.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát bằng phiếu
Sử dụng hệ thống câu hỏi, phiếu điều tra nhằm thu thập số liệu để đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp
I.4.2.3 Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với tổ trưởng, tổ chuyên môn, và tham khảo ý kiến các giáo viên dạy giỏi về các vấn đề có liên quan đến đề tài
Trang 6I.4.3 Phương pháp thống kê toán học
Sau khi thu thập các phiếu thăm dò ý kiến, dựa vào kết quả điều tra, tôi cho học sinh kiểm tra các kiến thức đã học so sánh đối chiếu với từng năm, từ đó rút ra
tỉ lệ phần trăm, nhằm đánh giá thực trạng và định hướng nâng cao hiệu quả của của việc dạy học Hoá học ở trường THPT
I.5 PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài này được thực hiện trong phạm vi môn Hoá học lớp 10 ở trường THPT Lê Lợi Thọ Xuân Về mặt kiến thức kỹ năng đề tài chỉ nghiên cứu một số dạng thuộc lĩnh vực hoá học trong sản xuất và đời sống, hoá học bảo vệ môi trường Trong đề tài này tôi tập trung vào môn hóa học lớp 10 nhằm tạo thêm tài liệu để học sinh 10 học tập và nghiên cứu
I.6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài này đi vào nghiên cứu những biện pháp để nâng cao hiệu quả và phát huy tích cực học tập của học sinh khi học hoá THPT, từ đó góp phần vào việc giáo dục sức khoẻ và hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay Giúp cho học sinh hiểu rõ được mối quan hệ giữa các kiến thức hóa học với thực tiễn đời sống, với xu hướng phát triển của xã hội
Về mặt khoa học các em học sinh khi gặp những hiện tượng xảy ra trong đời sống hàng ngày thường có tâm lý phải giải thích nó bằng cách nào? Do đó liên hệ
thực tế nhằm nâng cao hiệu quả dạy - học môn hoá học là cách hay nhất để phát triển
tư duy và rèn luyện kỹ năng hóa học của mỗi người, phát triển tư duy logic, sử dụng thành thạo và vận dụng tốt kiến thức đã học vào cuộc sống
Về mặt sư phạm, đối với giáo viên suy nghĩ liên hệ thực tế để nâng cao hiệu quả dạy - học còn là một hướng đi có hiệu quả để tổng quát hóa hoặc đặc biệt hóa môn học, điều này góp phần hỗ trợ, phát triển cái hay và mới cho học sinh Rèn
Trang 7luyện cho học sinh đức tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực và lòng say mê khoa học hóa học Các liên hệ thực tế trong đề tài còn có tác dụng rèn luyện văn hóa lao động (lao động có tổ chức, có kế hoạch, gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ …)
Do vậy sáng kiến kinh nghiệm đề cập khía cạnh:“Hóa học lớp 10 với thực
ti ễn đời sống” đã góp phần cho học sinh dễ tiếp thu, thiết thực, gần gũi với đời sống
và lôi cuốn học sinh khi học
II NỘI DUNG
II.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
II.1.1 Cơ sở pháp lý:
Sáng kiến kinh nghiệm thực hiện chủ yếu dựa trên sách giáo khoa (SGK) hoá học 10, vì vậy SGK là cơ sở pháp lý để xây dựng đề tài Ngoài ra còn tham khảo sách giáo viên, sách bài tập, các sách tham khảo và các tài liệu có liên quan là cơ sở cho sáng kiến kinh nghiệm
II.1.2 Cơ sở lý luận:
Môn Hoá học giữ một vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển trí tuệ của học sinh Mục đích của môn hóa học là giúp cho học sinh hiểu đúng đắn
và hoàn chỉnh; nâng cao những tri thức, hiểu biết về thế giới, về con người thông qua các bài học, các giờ thực hành
Học hoá để hiểu, để giải thích được các vấn đề thực tiễn thông qua cơ sở cấu tạo nguyên tử, sự chuyển hoá của các chất bằng các phương trình phản ứng hoá học
Học hoá để biết, là góp phần giải tỏa, xoá bỏ hiểu biết sai lệch làm phương hại đến đời sống, tinh thần của con người
Học hoá để làm, là khởi nguồn, là cơ sở để sáng tạo ra những ứng dụng phục
vụ trong đời sống của con người
Trang 8Để đạt được mục đích của môn Hoá học, ngoài việc phải tiếp thu đầy đủ những kiến thức từ trên lớp, từ sách giáo khoa, từ các thầy cô, học sinh còn tự mình sưu tầm và tìm hiểu những hiện tượng xảy ra trong cuộc sống thường ngày Vận dụng những kiến thức đã học được để giải thích những hiện tượng đó, nhờ vậy học sinh được củng cố kiến thức sâu sắc hơn
Và cũng nhờ đó học sinh thấy học môn hóa dễ hiểu, thiết thực, gần gũi với đời sống và lôi cuốn hơn
II.2 THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
II.2.1 Tình hình h ọc sinh học bộ môn hóa của trường THPT Lê Lợi.
Đối với học sinh THPT các em chưa có định hướng sâu sắc về nghề nghiệp cho tương lai nên ý thức học tập bộ môn chưa cao, các em chỉ thích môn nào mình học
có kết quả cao hoặc thích giáo viên nào thì thích học môn đó Trong quá trình giảng dạy tôi đã phát hiện ra rằng đa số học sinh còn học đối phó, chưa hứng thú tham gia xây dựng bài Nhiều học sinh tỏ ra lúng túng, không tìm ra cách xử lí, ngay cả những vấn đề tưởng chừng hết sức cơ bản trong cuộc sống hàng ngày Vì thế, làm sao các em có thể yêu thích học bộ môn?
II.2.2 Thực trạng
Trong quá trình học tập học sinh ít được hoạt động, nặng về nghe giảng, ghi chép rồi học thuộc, ít được suy luận, động não Thời gian dành cho học sinh hoạt động trong một tiết học là quá ít, kể cả hoạt động tay chân và hoạt động tư duy Học sinh chưa được trở thành chủ thể hoạt động Hình thức hoạt động của học sinh cũng đơn điệu, chủ yếu là nghe thầy đọc và chép vào vở, học sinh ít được động não và thường ít được chủ động tích cực Do vậy, phương pháp học của học sinh là thụ động, ít tư duy, sáng tạo và học sinh thường gặp khó khăn khi giải quyết những bài tập liên quan đến
thực tế
Trang 9Các hình thức hoạt động của thầy và các phương pháp dạy mà thầy sử dụng chưa nhằm vào yêu cầu tổ chức cho học trò hoạt động, chưa chú trọng vào việc hình thành phương pháp tư duy, rèn luyện cho học sinh năng lực sáng tạo Các hiện tượng được giải thích chưa đúng nhận thức khoa học bộ môn Đối với hoá học, phương pháp nhận thức khoa học là giáo viên phải tập luyện cho học sinh biết giải quyết vấn đề từ đơn giản đến phức tạp trong học tập chính là chuẩn bị cho các em
có khả năng sáng tạo, giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống
II.2.3 Đánh giá thực trạng:
Kết quả khảo sát chất lượng môn hoá học ở trường THPT Lê Lợi, Thọ Xuân khi chưa thực hiện đề tài trong năm học 2018-2019, về áp dụng:“Hóa học lớp10
v ới đời sống thực tiễn”như sau:
Kết quả khảo sát chất lượng trước khi thực hiện đề tài
Nguồn khảo sát chất lượng trường THPT Lê Lợi
Qua nguồn khảo sát trên ta dễ dàng nhận thấy số lượng học sinh đạt từ trung bình trở lên là 37.7%.Trước thực trạng trên, tôi đề xuất một số biện pháp và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh
Năm học Lớp Số
S
S
S
S
10A5 44 1 2.6 3 7.9 10 26.4 20 52.6 4 10.5 10A6 44 2 5.1 2 5.1 11 28.2 19 48.8 5 12.8
2018-
2019
Trang 10II.3 BIỆN PHÁP VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
II.3.1 Cơ sở đề xuất các giải pháp :
Dựa vào thực trạng và nguyên nhân của thực trạng tôi thấy rằng :“Hóa học
10 v ới đời sống thực tiễn” là nhằm tạo sự hứng thú, say mê trong học tập, lòng yêu
khoa học nói chung và yêu thích học môn hoá học nói riêng
Để đạt hiệu quả tối ưu trong việc :“Hóa học lớp 10 với đời sống thực tiễn”
giáo viên phải kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp giảng dạy để kích thích tư duy, sáng tạo và tính tò mò của học sinh
II.3.2 Các giải pháp chủ yếu :
Nêu các hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống hàng ngày thay cho lời giới thiệu vào bài giảng mới Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh bất ngờ, nhưng tạo được sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá trình học tập
Nêu các hiện tượng thực tiễn xung quanh trong đời sống hàng ngày qua các phương trình phản ứng hoá học cụ thể trong bài học Cách nêu vấn đề này làm cho học sinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn của bài học và giải thích để giải toả tính tò mò của học sinh
Nêu các hiện tượng thực tiễn xung quanh trong đời sống hàng ngày qua chuyện kể và có thể xen bất cứ thời gian nào trong suốt tiết học Hướng này có thể tạo không khí học tập thoải mái, đó cũng là cách kích thích niềm đam mê học hoá học
Nêu các hiện tượng thực tiễn xung quanh trong đời sống hàng ngày sau khi kết thúc bài học Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh căn cứ vào kiến thức
đã học tìm cách giải thích hiện tượng và từ đó học sinh sẽ suy nghĩ, ấp ủ “vì sao lại xảy ra hiện tượng đó?” tạo tiền đề thuận lợi cho học bài mới ở tiết sau
Trang 11II.3.3 Tổ chức triển khai thực hiện nội dung của đề tài:
II.3.3.1 Tổ chức triển khai thực hiện
Để tổ chức thực hiện giáo viên có thể dùng nhiều phương tiện, nhiều cách
như: bằng lời giải thích, hình ảnh đoạn phim, bài hát, câu ca dao, tục ngữ… và có thể dùng máy chiếu
Bằng các ví dụ minh hoạ thông qua một số hiện tượng… thực tiễn, có thể
áp dụng trong từng bài, từng chương cụ thể để nâng cao hiệu quả dạy-học môn hoá
học ở trường THPT
II.3.3.2 Nội dung của đề tài:
Vấn đề số 1: Tại sao nước máy thường dùng ở các thành phố lại có mùi khí clo
?
Giải thích: Trong hệ thống nước máy ở thành phố, người ta cho vào một
lượng nhỏ khí clo vào để có tác dụng diệt khuẩn Một phần khí clo gây mùi và một phần tác dụng với nước
Axit hipoclorơ HClO sinh ra có tính oxi hóa rất mạnh nên có tác dụng khử trùng, sát khuẩn nước Phản ứng thuận nghịch nên clo rất dễ sinh ra do đó khi ta sử dụng nước ngửi được mùi clo
Phương trình phản ứng: Cl2 + H2O ↔ HCl + HClO
Áp dụng vào bài: Clo tiết 48, 49.
Vấn đề số 2: Khi ống nhiệt kế trong nhà bị vỡ ta cần phải làm gì?
Giải thích: khi ống nhiệt kế trong nhà bị vỡ ta cần phải rắc bột S vào đó do
trong ống nhiệt kế có thủy ngân mà thủy ngân lại rất độc Hg dễ tạo muối với S ngay ở nhiệt độ thường Chính vì thế mà người ta rắc bột S khi bị vỡ nhiệt kế
Phương trình phản ứng: Hg + S → HgS (không độc).
Áp dụng vào bài: Lưu huỳnh tiết 67.
Vấn đề số 3: Tại sao sau cơn mưa, không khí trong lành hơn?
Giải thích: Do sấm sét giúp phản ứng từ oxy tạo ra ozon; hơn nữa nước từ
trên cao cuốn theo bụi trong không khí làm sạch môi trường
Phương trình phản ứng: 3O2 → 2O3
Áp dụng vào bài: Ozon và hidro peoxit tiết 64.