Để khái quát hóa quá trình hình thành và lịch sử phát triển tiền tệ trong các học thuyết kinh tế của các nhà kinh tế học, em xin được trình bày đề án bài thu hoạch về :“Tìm hiểu lịch sử
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG FOREIGN TRADE UNIVERSITY
Môn học: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Giảng viên: CÔ ĐẶNG HƯƠNG GIANG
Lớp tín chỉ: TRI115(GD1+2-HK1-2122) K60.1
Bài thu hoạch:
LỊCH SỬ RA ĐỜI, NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT VÀ CHỨC NĂNG CỦA
TIỀN TỆ
Sinh viên thực hiện: Vũ Thiện Phúc
Mã sinh viên: 2111110222 Lớp hành chính: Anh 01 – Ngành Kinh tế đối ngoại K60
Trang 2download by : skknchat@gmail.com
Trang 3Lời mở đầu
Sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hóa được gắn liền với cụm
từ “tiền tệ” Trong sự tiến bộ của nền kinh tế các nước trên thế giới, tiền tệ được coi là một vấn đề được xã hội đặc biệt quan tâm bởi sự ra đời của nó đã khiến cho việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn Sự xuất hiện của tiền là một phát minh vĩ đại của loài người và điều này làm thay đổi bộ mặt của nền kinh tế – xã hội
Tiền tệ được phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau, ở mỗi giai đoạn sẽ
có sự thay đổi trong các loại tiền như (kim loại, giấy, polime,…) trong từng thời kì Vì vậy, lịch sử của tiền tệ đã chịu sự ảnh hưởng rất lớn đến từ lịch sử của thời đại và xã hội Để khái quát hóa quá trình hình thành và lịch sử phát triển tiền tệ trong các học thuyết kinh tế của các nhà kinh tế học, em xin được trình bày đề án bài thu hoạch về :“Tìm hiểu lịch sử ra đời của tiền tệ; Phân tích nguồn gốc, bản chất, các chức năng của tiền tệ”.Từ đó hiểu thêm về lịch sử”, để hiểu thêm lịch sử xuất hiện của tiền tệ cũng như những ảnh hưởng của tiền tệ đến nền kinh tế Qua đó, rút ra ý nghĩa của việc nghiên cứu đối với Việt Nam hiện nay Mặc dù em đã nỗ lực, cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu, song tiểu luận này không tránh khỏi những khiếm khuyết, rất mong được sự hướng dẫn, góp ý của các thầy cô và các bạn quan tâm để bổ sung, chỉnh sửa, góp phần hoàn thiện bài thu hoạch này,
Bố cục bài thu hoạch gồm:
I Lịch sử ra đời và nguồn gốc tiền tệ
III Chức năng của tiền tệ
Trang 4Mục lục
Trang
Trang 5I LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ NGUỒN GỐC CỦA TIỀN TỆ
1.Khái niệm:
Tiền tệ là một phạm trù, một lĩnh vực kinh tế nhưng cũng đóng vai trò là một phạm trù lịch sử Và theo nhà triết học Marx-Lenin, dựa theo nghiên cứu
về lịch sử và bản chất tiền tệ của K.Marx, ông định nghĩa: “Tiền tệ là hàng hoá đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hoá làm vật ngang giá chung thống nhất cho các hàng hoá khác, nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiển quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá”
Theo kinh tế chính trị học thì “ Tiền tệ là tiền khi và chỉ khi nó được xét tới chức năng ( phương tiện thanh toán) Đồng tiền được coi là phương tiện hợp pháp được luật pháp quy định phục vụ trong việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ của mọi quốc gia hay nền kinh tế
Theo các nhà kinh tế học hiện đại “Tiền được định nghĩa là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hóa, dịch vụ hoặc trong việc trả nợ”
Theo Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lenin, ông cho rằng có sự khác biệt trong cách định nghĩa tiền tệ bởi những nhà kinh tế học trước K.Marx nhận định tiền tệ là thứ dựa vào hình thái phát triển cao nhất của giá trị hàng hoá Từ đó cho rằng tiền tệ là sản phẩm của quá trình phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá, trong khi K.Marx nghiên cứu tiền tệ từ lịch sử phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá, từ sự phát triển của các hình thái giá trị hàng hoá để tìm ra nguồn gốc và bản chất của tiền tệ
2.Nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của tiền tệ:
Trang 6Theo Mác, trong lịch sử phát triển của loại người, lúc đầu con người sống thành bầy đàn, kiếm ăn một cách tự nhiên, chưa có chiếm hữu tư nhân, chưa có sản xuất và trao đổi hàng hóa nên chưa có tiền tệ Tuy nhiên, ngay từ trong xã hội nguyên thủy đã xuất hiện mầm móng của sự trao đổi Khi sự phân công lao động xã hội lần thứ nhất xuất hiện, bộ lạc du mục tách khỏi toàn khối
bộ lạc, hoạt động trao đổi diễn ra thường xuyên hơn Tương ứng với giai đoạn phát triển này của trao đổi là hình thái giá trị mở rộng Tham gia trao đổi bây giờ không phải là hai loại hàng hóa mà là một loạt các loại hàng hóa khác nhau Đây là một bước phát triển mới, tiến bộ so với hình thái giá trị giản đơn, song bản thân nó còn bộc lộ một số thiếu sót:
-Biểu hiện tương đối của giá trị mọi hàng hóa chưa được hoàn tất, vẫn còn nhiều hàng hóa làm vật ngang giá
-Các hàng hóa biểu hiện cho giá trị của một hàng hóa lại không thuần nhất
Phân công lao động xã hội và sản xuất phát triển thì hình thức trao đổi hàng hóa trực tiếp ngày càng bộc lộ các nhược điểm của nó Các hàng hóa chỉ được trao đổi với nhau khi những người chủ của nó có cùng muốn trao đổi, muốn trùng khớp Như vậy, cùng với sự phát triển của sản xuất thì trao đổi trực tiếp ngày càng khó khăn và làm cho mâu thuẫn trong lao động và phân hóa lao động xã hội ngày càng tăng Do đó, tất yếu đòi hỏi phải có một thứ hàng hóa đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá chung tất ra từ tất cả các thứ hàng hóa khác
và các hàng hóa khác có thể trao đổi được với nó, ví dụ như súc vật Thích ứng với giai đoạn phát triển này của trao đổi là hình thái giá trị chung
Cuộc phân công lao động xã hội lần thứ hai xuất hiện, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp làm cho sản xuất hàng hóa phát triển và thị trường mở rộng Tình trạng nhiều hàng hóa có tác dụng vật ngang giá chung phát sinh mâu thuẫn với nhu cầu ngày càng tăng của thị trường, thị trường đòi hỏi phải thống nhất một vật ngang giá đơn nhất Khi vật ngang giá chung cố định ở
Trang 7một loại hàng hóa thì sinh ra hình thái tiền tệ Khi đó, tất cả hàng hóa được biểu hiện giá trị của nó trong một thư hàng hóa, thứ hàng hóa đó trở thành vật ngang giá chung.Như vậy, tiền tệ xuất hiện sau một quá trình phát triển lâu dài của trao đổi và của các hình thài giá trị
3.Nguồn gốc của tiền tệ:
Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa đã phát triển tới một trình độ nhất định, thì giá trị của hàng hóa mới được hiểu hiện hằng tiền – tức là mới có sự ra đời của tiền tệ Tiền tệ ra đời là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của các hình thái giá trị Từ hình thái giá trị giản đơn - hình thái ban đầu và đơn giản nhất, mà ai cũng có thể thấy được đến hình thái giá trị mở rộng, qua hình thái giá trị chung và cuối cùng là hình thái tiền tệ
a) Hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên của giá trị
C Mác cho rằng : ”Hình thái giản đơn và hình thái vật ngang giá là 2 mặt liên quan với nhau không tách rời được nhau nhưng đồng thời là 2 cực đối lập nhau và không dung hòa nhau, nghĩa là 2 cực của cùng một biểu hiện giá trị” Hình thái giá trị giản đơn (hay ngẫu nhiên) là mầm mống phôi thai của hình thái giá trị - tiền tệ, còn hàng hóa – vật ngang giá “đơn nhất” là mầm mống của tiền tệ
Hình thái này được xuất hiện từ khi xã hội nguyên thuỷ tan rã và “chỉ bắt gặp ở những cuộc giao dịch đầu tiên trong trao đổi - khi mà các sản phấm lao động quy đổi thành hàng hóa ngay cả ở những hành vi đơn nhất và ngẫu nhiên”
Thí dụ: 20 kg gạo = 1 cái áo
Ở đây, khi xét hàng hóa thứ nhất: giá trị hàng hóa này (20 kg gạo) thể hiện đơn nhất ở một mặt hàng khác (1 cái áo) và chính vì thế mà quan hệ trao đổi được mang tính chất ngẫu nhiên bởi hành động này là trực tiếp hàng lấy hàng, tỷ lệ trao đổi cũng ngẫu nhiên được hình thành
Trang 8Xét đến hàng hóa thứ hai (cái áo) nó đóng vai trò là vật ngang giá, là hình thái phôi thai của tiền tệ Mặc dù, ban đầu quan hệ trao đổi chỉ mang tính chất ngẫu nhiên, nhưng theo thời gian thì nó đã biến thành quá trình xã hội đều đặn, giúp thúc đẩy sản xuất hàng hóa ra đời và phát triển Khi đó, xuất hiện hình thái thứ hai
b) Hình thái đầy đủ hay mở rộng của giá trị
Hình thái này xuất hiện sau khi xảy ra cuộc đại phân công lao động xã hội lần thứ nhất, khác cơ bản so với hình thái giá trị giản đơn Ở đây, hình thái giá trị mở rộng là khi giá trị của một vật không phải được thể hiện ở giá trị sử dụng của một vật mà là được biểu hiện ở giá trị sử dụng của hàng hóa khác có tác dụng làm vật ngang giá Đây là những vật ngang gì “đặc thù” Những vật ngang giá đặc thù tồn tại song song với nhau và đều có quyền lực như nhau trong vai trò vật ngang giá
C Mác cho rằng : “Có bao nhiều hàng hóa thì có bấy nhiêu chuỗi khác nhau và vô cùng vô tận về biểu hiện giá trị”
Với hình thái thì chỉ xuất hiện trong thực tế và chỉ khi một sản phẩm lao động nào đó ví dụ như 20 kg gạo được trao đổi với nhiều hàng hóa khác một cách thông thường, phổ biến trên thị trường
Thí dụ: 20 kg gạo = 1 cái áo
Ở đây, giá trị của một hàng hóa (20 kg thóc) được biểu hiện ở nhiều hàng hóa khác nhau (áo, vải, hạt cà phê, vàng,…) đóng vai trò làm vật ngang giá Đồng thời tỷ lệ trao đổi không còn mang tính chất ngẫu nhiên nữa mà dần dần do lao động quy định, bởi vì ngay từ đầu người ta đã sản xuất ra những
Trang 9vật phẩm trên với mục đích là để mang trao đổi Do đó, trong trao đổi họ phải
tính toán đến mức lao động đã hao phí
Tuy nhiên, hình thái này cũng có những nhược điểm của nó như: giá trị
hàng hóa được biểu hiện còn chưa hoàn tất, thống nhất mà bằng một chuỗi vô
tận của các hàng hóa khác; đồng thời vẫn là trao đổi trực tiếp hàng lấy hàng, do
đó khi nhu cầu trao đổi giữa những người chủ hàng hóa không phù hợp sẽ làm
cho trao đổi không thực hiện được.Chẳng hạn, người có vải cần 25 kg gạo,
nhưng người có áo lại không cần vải mà cần chè Do đó, khi sản xuất và trao
đổi hàng hóa phát triển hơn đòi hỏi phải có một vật ngang giá chung, khi đó
xuất hiện hình thái thứ ba
c)Hình thức giá trị chung:
Hình thức giá trị chung được xuất hiện khi xuất hiện những yếu tố cần
được khắc phục trong hình thái giá trị mở rộng Và hình thái này xuất hiện khi
xảy ra cuộc đại phân công lần hai Trong hình thức giá trị chung thì mọi hàng
hóa đều biểu hiện giá trị một mình và được đóng vai trò là vật ngang giá Vì
thế, hình thái này đã bị thay đổi tính chất bởi các hàng hóa đã trở nên đơn giản
hơn, thống nhất hơn và vì thế mà nó đã trở nên ngày càng phổ biến Từ đó mà
xã hội thừa nhận sự xuất hiện ngang giá của nó bởi đây là một hình thái giá trị,
đóng vai trò làm cho quá trình trao đổi trở nên đơn giản hơn, thuận tiện hơn,
phù hợp với nhu cầu Đây chính là yếu tố vô cùng quan trọng để phát triển nền
kinh tế trong tương lai gần và xa
Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần chú ý đến ở hình thái giá trị chung thì
sản phẩm không được trao đổi trực tiếp như hình thái giản dơn và hình thái giá
trị mở rộng mà được trao đổi theo cách gián tiếp thông qua vật ngang và giá
chung
20 kg gạo
Trang 1010 kg hạt cà phê = 0,1 gam bạc =
Ở đây, giá trị của mọi hàng hóa được biểu hiện ở một hàng hóa với vai trò làm vật ngang giá chung, "vật ngang giá phổ biến" – 20 kg gạo Tức, các hàng hóa đều được đổi lấy vật ngang giá chung trước, sau đó mới mang đổi lấy hàng hóa cần dùng
Trong thời kì sản xuất và trao đổi hàng hóa trở nên phát triển hơn nữa, đặc biệt khi mở rộng giữa các vùng yêu cầu phải có vật ngang giá chung thống nhất thì vật ngang giá chung sẽ được gắn với một số loại hàng hóa đặc thù Chính điều này đã khiến xuất hiện hình thái thứ tư:
d) Hình thái tiền:
Vật ngang giá chung trong hình thái được chọn tùy theo đặc điểm của từng địa phương, nó mang nét đặc trưng của vùng đó như lông thú , vỏ sò, chè khô, vòng đá, hoa quả, … Những vật này có thể dùng để trao đổi trực tiếp với nhiều hàng hóa khác Thế nhưng trong thời điểm lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội ngày càng phát triển, đi cùng với đó là sản xuất hàng cùng
và thị trường được mở rộng đã làm xuất hiện nhiều vật ngang giá chung Chính điều này đã gây cản trở khi trao đổi hàng hóa giữa các địa phương trong một quốc gia Từ đó nảy sinh sự đấu tranh, bài trừ và gạt bỏ lẫn nhau của những vật ngang giá chung Những vật ngang giá chung được làm bằng kim loại dần dần thay thế những vật khác và trong những vật ngang giá bằng kim loại thì được sắp xếp từ bạc sau đó đến vàng – chiếm ưu thế tuyệt đối.Vậy tạo sao vàng và bạc lại có giá trị như tiền tệ?
- Thứ nhất, nó cũng là một hàng hóa, cũng có giá trị sử dụng và giá trị Vàng được dùng làm đồ trang sức, hàn răng thủng,… Vì vậy mà giá trị của vàng được đo bằng lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra nó (để tìm kiếm, khai thác và chế tác vàng Do đó nó có thể mang trao đổi với các hàng hóa
Trang 11khác, và với tư cách là hàng hóa, vàng cũng đã từng đóng vai trò vật ngang giá như các hàng hóa khác trong hình thái thứ nhất và thứ hai
- Thứ hai, nó có những ưu thế (từ thuộc tính tự nhiên) đặc biệt thích hợp với vai trò tiền tệ như: thuần nhất, dễ chia nhỏ, bền, dễ bảo quản, hơn nữa với một lượng
và thể tích nhỏ nhưng có giá trị cao (vì vàng là kim loại hiếm phải tốn nhiều công sức mới có được) Do đó, nó có thể đo lường giá trị của mọi loại hàng hóa Chính vì vậy
mà vàng được xã hội trao cho một giá trị sử dụng xã hội đặc biệt: đóng vai trò là vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hóa khác
Chỉ đến lúc này thì hình thái giá trị tiền tệ mới được thiết lập và vàng mang tư cách là vật ngang giá chung đã trở thành tiền tệ Hình thái này được xuất hiện sau cuộc đại phân công lao động xảy ra lần thứ 3.Kéo theo đó là sự ra đời của ngành công nghiệp và thương nhân chứng tỏ sự ra đời của tiền tệ gắn liền với sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa
II.BẢN CHẤT CỦA TIỀN TỆ:
Tiền được xem là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong thanh toán để đổi lấy hàng hoá, dịch vụ hoặc để hoàn trả các khoản nợ Về bản chất, tiền tệ là vật trung gian môi giới trong trao đổi hàng hoá, dịch vụ, là phương tiện giúp cho quá trình trao đổi được thực hiện dễ dàng hơn Như vậy tiền tệ ra đời là kết quả của quá trình trao đổi và sự phát triển của các hình thái giá trị Bản chất của tiền tệ được thể hiện rõ hơn qua hai thuộc tính sau của nó:
- Giá trị sử dụng của tiền tệ là khả năng thoả mãn nhu cầu trao đổi của xã hội, nhu cầu sử dụng làm vật trung gian trong trao đổi Như vậy người ta sẽ chỉ cần nắm giữ tiền khi có nhu cầu trao đổi Giá trị sử dụng của một loại tiền tệ là do xã hội qui định: chừng nào xã hội còn thừa nhận nó thực hiện tốt vai trò tiền tệ (tức là vai trò vật trung gian môi giới trong trao đổi) thì chừng đó giá trị sử
Trang 12dụng của nó với tư cách là tiền tệ còn tồn tại Đây chính là lời giải thích cho sự xuất hiện cũng như biến mất của các dạng tiền tệ trong lịch sử
- Giá trị của tiền được thể hiện qua khái niệm “sức mua tiền tệ”, đó là khả năng đổi được nhiều hay ít hàng hoá khác trong trao đổi Tuy nhiên khái niệm sức mua tiền
tệ không được xem xét dưới góc độ sức mua đối với từng hàng hoá nhất định mà xét trên phương diện toàn thể các hàng hoá trên thị trường
III.CHỨC NĂNG CỦA TIỀN TỆ:
Chức năng của tiền tệ là phương tiện thanh toán, phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ, thước đo giá trị, tiền tệ thế giới Mỗi một chức năng của tiền tệ đều có vai trò đối với sự vận hành của thị trường
1) Thước đo giá trị:
Tiền tệ được dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá Muốn
đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ cũng phải có giá trị Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng Để đo lường giá trị hàng hoá không cần thiết phải là tiền mặt Chỉ cần so sánh với lượng vàng nào
đó trong tưởng tưởng của mình Vì sao có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hoá trong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó Giá trị hàng hoá đưọc biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá Hay nói cách khác, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá
Giá cả hàng hoá chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau đây:
- Giá trị của tiền
- Quan hệ cung – cầu về hàng hoá