1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh lớp 11 qua chuyên đề dạy học “ngôi nhà riêng – môi...

20 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 3,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh lớp 11 qua chuyên đề dạy học “ngôi nhà riêng – môi trường chung” SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LÊ HOÀN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH LỚP 11 QUA CHUYÊN ĐỀ DẠY HỌC “NGÔI NHÀ RIÊNG – MÔI TRƯỜNG CHUNG” Người thực hiện Nguyễn Thị Hoa Chức vụ Giáo viên SKKN thuộc lĩnh vực Công Nghệ Công nghiệp THANH HOÁ NĂM 2016 SangKienKinhNghiem net Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh lớp[.]

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Người thực hiện: Nguyễn Thị Hoa

Chức vụ: Giáo viên

SKKN thuộc lĩnh vực: Công Nghệ Công nghiệp

THANH HOÁ NĂM 2016

Trang 2

Mục lục

Trang

Phần I ĐẶT VẤN ĐỀ

Phần II NỘI DUNG

2 Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh học tập theo hướng tích hợp 6

3 Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh thiết lập sự liên hệ nội dung học

4 Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh thông qua các tình huống giả định 6

1 Thực trạng giáo dục môi trường trong trường THPT 6

2 Thực trạng lồng ghép kiến thức bảo vệ môi trường vào phần bản vẽ xây

1 Thực trạng sử dụng vật liệu xây dựng ở địa phương em hiện nay 7

2 Sự tác động đến môi trường và sức khỏe của ngành công nghiệp sản xuất

3 Tình trạng khai thác gỗ hiện nay và nguy cơ giảm diện tích rừng 9

4 Nguy cơ thu hẹp nguồn tài nguyên đất canh tác 10

B Kế hoạch dạy học 11

1 Mục tiêu 11 2 Chuẩn bị của giáo viên và học sinh 12 3 Tiến trình dạy học 12 4 Rút kinh nghiệm bài dạy 16 IV HIỆU QUẢ 16 Phần III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I KẾT LUẬN 18

1 Kết quả đạt được 18

2 Bài học kinh nghiệm 18

II KIẾN NGHỊ 19

Trang 3

PHẦN I: MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Tự nhiên - con người - xã hội là một hệ thống nhất, trong đó con người là yếu tố giữ vai trò rất quan trọng Chính con người đã phá vỡ sự cân bằng khách quan của hệ thống nói trên nên con người phải chịu hậu quả của sự mất cân bằng

đó (sự biến đổi của khí hậu bất thường, thiên tai, lũ lụt, bệnh tật ) Vì vậy con người cần phải lập lại sự cân bằng trong hệ thống đó để có sự phát triển bền vững

Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề vô cùng cấp bách không chỉ của riêng một vùng nào, từ thành thị, nông thôn cho tới cả các tỉnh miền núi, đe dọa tới các nguồn nước và không khí, tàn phá đa dạng sinh học, gây biến đổi khí hậu

và nhiều hệ lụy khác ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống con người Trong số những biện pháp mà Đảng và nhà nước đề ra trong chiến lược bảo vệ môi trường thì việc giáo dục ý thức cho thế hệ trẻ là một trong những nhiệm vụ hàng đầu

Để giải quyết tận gốc vấn đề môi trường trước hết phải bắt đầu từ nhận thức mà hiện nay chưa có một giáo trình hay môn học nào ở THPT giáo dục môi trường cho học sinh vì vậy việc giáo dục môi trường chủ yếu được lồng ghép, tích hợp vào một số môn học, trong đó môn Công nghệ có nhiều thuận lợi để giáo dục môi trường cho học sinh

Ý thức trách nhiệm của một người giáo viên và tầm quan trọng của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tôi đã mạnh dạn xây dựng chuyên đề: “Ngôi nhà riêng – môi trường chung” Thông qua chuyên đề, tôi muốn gửi đến các đồng nghiệp một vài kinh nghiệm nhằm mục đích nâng cao giáo dục toàn diện cho học sinh, giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ môi trường

là một giải pháp bảo vệ môi trường bền vững cho tương lai

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

- Làm quen với phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh

- Tìm cho mình một phương pháp tạo không khí hứng thú và lôi cuốn nhiều học sinh tham gia học tập và vận dụng kiến thức phần vẽ kỹ thuật ứng dụng để giải quyết vấn đề môi trường liên quan đến đời sống hàng ngày của các em

- Nghiên cứu đề tài này giúp học sinh có khả năng vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong thực tiễn

- Việc nghiên cứu đề tài này nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức về bản vẽ xây dựng (đặc biệt là bản vẽ nhà), rèn luyện được một số kỹ năng: tự học, thu thập thông tin, liên hệ thực tế…

Trang 4

- Việc nghiên cứu đề tài này góp phần phát triển một số năng lực của học sinh: Năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực đánh giá và triển khai công nghệ …

- Việc nghiên cứu đề tài này góp phần kích thích niềm đam mê và định hướng nghề xây dựng cho học sinh

III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu cơ sở lí luận việc đổi mới chương trình giáo dục nói chung

và môn Công nghệ nói riêng, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, tích hợp, định hướng phát triển năng lực

- Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa, sách giáo viên công nghệ 11 Xác định mục tiêu định hướng phát triển năng lực trong phần vẽ kỹ thuật ứng dụng (bản vẽ nhà) để xây dựng một số chuyên đề, bài giảng giáo dục ý thức bảo

vệ môi trường, từ đó phát huy tính tích cực, chủ động tư duy, nâng cao hứng thú học tập cho học sinh, học sinh có thể vận dụng kiến thức của nhiều môn học vào vấn đề giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong thực tiễn

- Thực nghiệm dạy học công nghệ 11 qua chuyên đề “Ngôi nhà riêng – Môi trường chung”.

- Nghiên cứu sự tác động tới môi trường của ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng nung và tình trạng khai thác rừng trái phép

- Nghiên cứu thực trạng sử dụng vật liệu xây dựng thân thiện với môi trường ở địa phương, từ đó xây dựng giải pháp khắc phục

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đề tài được thực hiện dựa trên tổ hợp các phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận dạy học: Nghiên cứu cơ sở lí luận việc đổi mới chương trình giáo dục nói chung và môn công nghệ nói riêng, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, tích hợp, định hướng phát triển năng lực

- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Nghiên cứu thu thập số liệu về diện tích đất canh tác bị thu hẹp hàng năm, diện tích rừng phòng hộ, bảng báo giá một số loại vật liệu xây dựng… Khảo sát thực tế nhu cầu sử dụng một số loại vật liệu xây dựng tại địa phương và sự tác động đến môi trường của một số cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng nung trên địa bàn

- Phương pháp điều tra phỏng vấn: Tiến hành điều tra thực tế, phỏng vấn người dân trên địa bàn nhằm kết luận về nguyên nhân và xây dựng giải pháp cho tình trạng vật liệu xây dựng thân thiện với môi trường chưa được sử dụng phổ biến hiện nay

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Xây dựng kế hoạch dạy học chuyên

đề “Ngôi nhà riêng – Môi trường chung” theo mục tiêu giáo dục ý thức bảo vệ

môi trường, tiến hành giảng dạy, tổng kết, đánh giá và rút kinh nghiệm

Trang 5

PHẦN II: NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÍ LUẬN

1 Cơ sở lí luận giáo dục môi trường

a Môi trường:

"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên." (Theo Khoản 1,

Ðiều 3, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam – do Quốc Hội ban hành ngày 23/6/2014 – Số 55/2014/QH13)

Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:

- Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Ðó là ánh sáng mặt trời, núi, sông, biển, không khí, động thực vật, đất, nước

- Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Ðó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, quy ước ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể,

- Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo

Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội

Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người

Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển

(Nguồn: Môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường – Lê Văn Khoa NXB GD)

b Giáo dục môi trường:

Giáo dục môi trường gắn liền với việc học kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành thái độ và lòng nhiệt tình để hoạt động một cách độc lập hoặc phối hợp nhằm tìm ra giải pháp cho vấn đề môi trường hiện tại và tương lai

(Nguồn: Giáo dục môi trường – Lê Văn Lanh – NXBGD)

c Mục đích của giáo dục môi trường:

Bảo vệ môi trường là vấn đề mang tính sống còn của đất nước, một trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của xã hội, đồng thời còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống, thể chất, giống nòi của dân tộc Vì vậy, cách ứng

xử với xã hội, thiên nhiên và môi trường của một con người phần lớn được hình thành và căn bản được hoàn thiện trong lứa tuổi còn ngồi trên ghế nhà trường

Trang 6

Giáo dục môi trường nhằm làm cho các em hiểu rõ sự cần thiết phải bảo

vệ môi trường, hình thành và phát triển ở các em thói quen, ý thức bảo vệ môi trường Thông qua việc giáo dục về môi trường giúp bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, những cảm xúc và hình thành thói quen, kĩ năng sống bảo vệ môi trường cho các em học sinh

(Nguồn: Giáo dục môi trường – Lê Văn Lanh – NXBGD)

2 Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh học tập theo hướng tích hợp

Với sự bùng nổ của thành tựu khoa học trong các lĩnh vực :Toán học, hóa học, vật lí, sinh học, công nghệ nên chương trình đào tạo cũng được phân chia thành các mảng kiến thức tương đối tách rời, cô lập, với những khái niệm khó nhớ Xu hướng hoạt động trong dạy học công nghệ nói riêng và trong các môn học nói chung, trình bày cho học sinh thấy mối quan hệ hữu cơ giữa các môn học, các ngành khoa học khác nhau

3 Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh thiết lập sự liên hệ nội dung học với thực tiễn

Học sinh thấy hứng thú và dễ ghi nhớ bài học hơn nếu trong quá trình dạy

và học giáo viên luôn có định hướng liên hệ thực tiễn giữa kiến thức môn học với đời sống hàng ngày Môn Công nghệ là môn khoa học ứng dụng nên có rất nhiều phần nội dung kiến thức có thể liên hệ được với giáo dục môi trường trong thực tiễn cuộc sống hàng ngày của các em

4 Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh thông qua các tình huống giả định

Trong quá trình dạy học nếu chỉ áp dụng một kiểu dạy thì học sinh sẽ nhàm chán Giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp dạy học lồng ghép vào nhau, trong đó hình thức giảng dạy bằng cách đưa ra các tình huống giả định kèm vào các phương pháp dạy để học sinh tranh luận, phát huy tính chủ động, sáng tạo vừa tạo được môi trường thoải mái để học sinh trao đổi và tạo điều kiện phát triển năng lực cho học sinh

II THỰC TRẠNG

1 Thực trạng việc giáo dục môi trường trong trường THPT

Việc giáo dục môi trường trong nhà trường hiện nay đôi lúc còn mang tính lý thuyết, chưa chú trọng yếu tố thực tiễn một cách sâu sắc, nghĩa là chưa thực hiện tốt phương châm “Học đi đôi với hành; lý luận gần gũi với thực tiễn” Việc giáo dục môi trường cần phải thực hiện đồng bộ, thông qua những hoạt động cụ thể hơn, sinh động hơn, dần dần tiến tới không chỉ nâng cao về mặt nhận thức mà còn hình thành các thói quen tốt trong bảo vệ môi trường cho học sinh

Trang 7

2 Thực trạng của việc lồng ghép kiến thức bảo vệ môi trường vào phần Bản vẽ xây dựng - Công nghệ 11

Kiến thức về Bản vẽ xây dựng là phần kiến thức tương đối rộng và có nhiều liên hệ trong thực tiễn cuộc sống hàng ngày của học sinh Nhưng khi học sinh tiếp nhận đơn vị kiến thức này lại chỉ chú trọng vào kiến thức môn học chứ chưa liên hệ được vào trong đời sống của mình, đặc biệt là vấn đề bảo vệ môi trường thông qua phương án thiết kế và lựa chọn vật liệu xây dựng cho một công trình xây dựng (một ngôi nhà)

III GIẢI PHÁP

Người giáo viên phải nắm bắt được tâm lí của học sinh và điều chỉnh phương pháp dạy học để các em nhận thấy vai trò, ý nghĩa thực tiễn của môn công nghệ Sự điều chỉnh phương pháp dạy học theo hướng tích hợp còn tạo cơ hội cho học sinh vận dụng kiến thức liên môn để giảm thiểu ô nhiễm môi trường

từ sự lựa chọn phương án thiết kế và vật liệu xây dựng cho công trình xây dựng Đồng thời giáo viên phải tổ chức được các hoạt động tự học tập cho học sinh nhằm thông qua bài giảng, học sinh phát triển được những năng lực cụ thể Để giải quyết được vấn đề, tôi đã thực hiện đồng thời các giải pháp sau:

A. Giao nhiệm vụ cho học sinh

Để hình thành ý thức bảo vệ môi trường qua chương vẽ kỹ thuật ứng

dụng, tôi xây dựng chuyên đề “Ngôi nhà riêng – Môi trường chung” Đây là

bài giảng mang tính tích hợp, học sinh phải vận dụng nhiều kiến thức môn học khác nhau để giải quyết vấn đề môi trường Để tổ chức thực hiện giảng dạy chuyên đề này, giáo viên phải giao nhiệm vụ cho học sinh chuẩn bị tìm hiểu các vấn đề sau:

1 Thực trạng sử dụng vật liệu xây dựng ở địa phương em hiện nay

1.1 Vật liệu xây tường:

- Đa phần các công trình xây dựng đều

sử dụng gạch nung, còn lại số ít sử dụng

gạch không nung

- Gạch nung là một loại vật liệu xây

dựng truyền thống, có nhiều loại khác

nhau và chủ yếu đều lấy nguyên liệu từ

đất sét

- Quá trình đốt nhiên liệu để nung gạch

không thể tránh khỏi việc thải các chất

thải (chủ yếu gồm bụi, NOx, SOx,

COx…) ra môi trường

Gạch nung có lỗ

Trang 8

1.2 Vật liệu lợp mái:

Ngói nung mũi hài M 150 (trái) và ngói nung 22 của Hạ Long.

Vật liệu lợp mái chủ yếu là ngói nung và tấm lợp Amiăng (hay còn gọi là tấm bờlô hoặc fibờlô ximăng)

- Ngói nung: cũng giống như gạch nung có quá trình nung nên sẽ thải một số chất (chủ yếu gồm bụi, NOx, SOx, COx…) ra môi trường

- Tấm lợp Amiăng (hay còn gọi là tấm bờlô hoặc fibờlô ximăng)

Quá trình vận chuyển và sản xuất tấm lợp fibờlô ximăng

Tấm lợp animăng cũng được khá nhiều người lựa chọn đặc biệt là ở vùng nông thôn vì giá thành tương đối rẻ không mất nhiều thời gian hoàn thiện nên phù hợp với những công trình không cần độ vững chắc cao (Ví dụ: Các công trình phụ, các công trình chăn nuôi gia xúc, gia cầm) Tuy nhiên quá trính sản xuất cũng thải ra một lượng bụi khổng lồ và ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe con người và vật nuôi trong quá trình sử dụng

1.3 Vật liệu làm cửa:

Bên cạnh một số ít loại vật liệu

như: kính, sắt, … thì gỗ hiện nay vẫn

là vật liệu được ưa chuộng hàng đầu

để làm cửa (cửa sổ, cửa chính, cửa

thông phòng) của một ngôi nhà trong

xây dựng

Trang 9

2 Sự tác động đến môi trường và sức khỏe của ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng nung

2.1 Khí thải độc hại của các lò nung với thành phần chủ yếu như NOx, SOx, COx

là một trong những nguyên nhân dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường nặng nề, góp phần làm tăng kích thước lỗ thủng tầng ôzôn

2.2 Bụi từ quá trình sản xuất vật liệu xây dựng nung:

3 Tình trạng khai thác gỗ hiện nay và nguy cơ giảm diện tích rừng

Khí thải từ các lò nung Hình chụp lỗ thủng ôzôn ở Nam Cực

vào tháng 9 năm 2000

Quá trình sản xuất vật liệu xây dựng

nung còn để một lượng bụi khổng lồ

trong không khí gây khó khăn trong sinh

hoạt và ảnh hưởng tới sức khỏe con

người:

- Tổn thương đường hô hấp

- Các bệnh ngoài da do bụi

- Bệnh về đường tiêu hóa

- Bụi gây chấn thương và các bệnh về

mắt, làm giảm thị lực

Hình ảnh khai thác rừng bừa bãi R ừng phòng hộ xung yếu đầu nguồn ngang

nhiên bị chặt phá ở Phú Yên

Trang 10

Theo số liệu thống kê của Viện điều tra quy hoạch rừng Việt Nam:

Mốc thời gian Diện tích rừng (triệu ha) So với diện tích cả nước (%)

Trong mấy năm gần đây, diện tích rừng có chiều hướng tăng lên, từ 28,2% (năm 1995) lên 33,2% (cuối năm 1999), độ che phủ rừng thống kê năm

2005 đã lên tới 36,7% Thế nhưng có 1 thực tế: diện tích rừng tăng chủ yếu là rừng tái sinh, rừng trồng, phủ xanh đất trống đồi trọc Trong khi đó, rừng già, rừng nguyên sinh vẫn bị chặt phá ngang nhiên và suy giảm nghiêm trọng

Ngày nay, khi dân số thế giới đang tăng từng ngày thì nhu cầu đất ở cũng như đất canh tác cho nhân dân cũng tăng đồng nghĩa với việc diện tích rừng càng có xu hướng bị thu hẹp Ngoài ra khi nhu cầu cũng như giá thành gỗ tăng thì việc chặt phá rừng trái phép xuất hiện càng nhiều Rừng bị chặt phá dẫn đến diện tích rừng (tự nhiên và phòng hộ) giảm, nếu mưa lớn thì dễ dẫn đến lũ lụt, lũ quét gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới con người và sinh vật Như vậy nếu có thể giảm bớt nhu cầu sử dụng gỗ thì cũng đã góp phần bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai lũ lụt

4 Nguy cơ thu hẹp nguồn tài nguyên đất canh tác

Ðể sản xuất một tỷ viên gạch đất sét nung có kích thước tiêu chuẩn sẽ tiêu tốn khoảng 1.500.000 m³ đất sét, tương đương 75 ha đất nông nghiệp Tổng diện tích gieo trồng lúa năm 2014 ước đạt 7,8 triệu ha, giảm 96,8 nghìn ha, giảm 1,2% so với năm 2013

(Nguồn: Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch tháng 12 và cả năm 2014 của ngành Nông nghiệp và phát triển Nông thôn – Trung tâm tin học và thống kê)

Nếu cứ như vậy việc thiếu hụt đất nông nghiệp là không thể tránh khỏi, không còn đất nông nghiệp dân thất nghiệp, sản lượng lương thực giảm có thể không đáp ứng đủ nhu cầu xuất khẩu của cả nước

Đất nông nghiệp ngày một bị thu hẹp dần vì người dân bán đất ruộng trái phép cho

cácchủ lò gạch nung ở xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Ngày đăng: 19/05/2022, 11:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w