1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN Một số kinh nghiệm rèn kỹ năng phân dạng và giải bài tập nhận biết các chất vô cơ để nâng cao c...

20 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 287,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN Một số kinh nghiệm rèn kỹ năng phân dạng và giải bài tập nhận biết các chất vô cơ để nâng cao chất lượng giảng dạy cho học sinh lớp 9 ở Trường THCS Thiệu Chính, Thiệu Hóa 1 MỞ ĐẦU 1 1 Lí do chọn đề tài Hoá học là một môn khoa học tự nhiên, đòi hỏi học sinh cần phải có kỹ năng tư duy và sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức lý thuyết vào giải các bài tập Phương pháp giải bài tập hóa học giữ vai trò quan trọng trong các phương pháp dạy học của bộ môn Trong quá trình giải bài tập, kiến thức đ[.]

Trang 1

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài

Hoá học là một môn khoa học tự nhiên, đòi hỏi học sinh cần phải có kỹ năng

tư duy và sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức lý thuyết vào giải các bài tập Phương pháp giải bài tập hóa học giữ vai trò quan trọng trong các phương pháp dạy học của bộ môn Trong quá trình giải bài tập, kiến thức được mở rộng, giáo viên có điều kiện sửa sai được cho học sinh Từ đó, các em được rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức đã học vào từng trường hợp cụ thể, mở rộng kiến thức hoá học vào các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và đời sống hàng ngày

Trong quá trình giảng dạy việc phân dạng và đưa ra các bài tập cụ thể cho từng trường hợp là rất quan trọng, đặc biệt đối với bài tập dạng nhận biết lại càng cần thiết hơn, bỡi bài tập loại này có nhiều dạng với các phương pháp giải rất đa dạng Do đó, việc đưa ra các bài tập phù hợp với từng dạng nhằm giúp các em học sinh có một tư liệu học tập và không bị lúng túng trước các dạng bài tập này Đồng thời, cũng là một cẩm nang để các đồng nghiệp có thể sử dụng làm tư liệu trong quá trình giảng dạy đưa nhận thức của học sinh ngày một nâng cao

Thực tiễn giảng dạy ở Trường THCS Thiệu Chính tôi thấy, học sinh thường rất lúng túng đối với các bài tập dạng nhận biết, sự đa dạng của loại bài nhận biết thường đẩy học sinh vào bế tắc trong khi dạng bài tập này lại rất phổ biến trong hầu hết các kỳ thi Do đó việc phân loại và biết được phương pháp giải từng dạng của bài tập nhận biết là vô cùng quan trọng và cần thiết đối với mỗi học sinh Qua dạng bài tập nhận biết còn củng cố kiến thức về mặt lý thuyết mà học sinh đã được học

Là một giáo viên giảng dạy bộ môn Hóa học bản thân cũng rất trăn trở với việc nâng cao chất lượng dạy và học của bộ môn Vì vậy, tôi đã lựa chọn sáng kiến kinh nghiệm “Một số kinh nghiệm rèn kỹ năng phân dạng và giải bài tập nhận biết các chất vô cơ để nâng cao chất lượng giảng dạy cho học sinh lớp 9 ở Trường THCS Thiệu Chính, Thiệu Hóa" để chia sẻ cùng đồng nghiệp.

1.2 Mục đích nghiên cứu

Chương trình hóa học THCS ngoài nhiệm vụ hình thành ở học sinh những

kiến thức hóa học cơ bản thì việc bồi dưỡng các kỹ năng, năng lực nhận thức cho học sinh là một nhiệm vụ không kém phần quan trọng

Căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ đó và dựa vào kinh nghiệm giảng dạy Hóa học

ở trường THCS tôi muốn đưa ra cách phân loại và phương pháp giải bài nhận biết các chất vô cơ giúp học sinh có thể vận dụng để giải từng bài tập cụ thể Từ đó học sinh sẽ yêu thích bộ môn Hóa học hơn và nâng cao chất lượng bộ môn Hóa của Trường THCS Thiệu Chính

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Trong khuôn khổ một sáng kiến kinh nghiệm, đối tượng tôi lựa chọn nghiên cứu là:

- Tìm hiểu các dạng bài tập nhận biết các chất vô cơ và phương pháp giải từng dạng

Trang 2

- Tìm hiểu khả năng vận dụng các phương pháp giải dạng bài tập nhận biết các chất

vô cơ của học sinh trường THCS Thiệu Chính

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Vận dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống:

- Phương pháp khảo sát

- Phương pháp thống kê toán học

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm

- Đây là dạng bài tập phổ biến nhưng để giải được dạng bài tập này một cách nhanh chóng, ngắn gọn, khoa học thì học sinh cần phải có bảng thuốc thử đặc trưng dùng

để nhận biết các chất vô cơ

- Trong sáng kiến kinh nghiệm này bản thân cũng đã mạnh dạn đưa ra cách giải bằng sơ đồ từ đó giúp học sinh nhớ kiến thức nhanh và lâu hơn

- Bằng những kinh nghiệm của bản thân và qua tìm hiểu, tham khảo, trao đổi với đồng nghiệp đã đưa ra những bài tập phù hợp với từng dạng cụ thể

Trang 3

2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục,

đào tạo có viết "quán triệt nguyên lý học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn " [1] Trong dạy học Hoá học đã khẳng định "không có tri thức thì sẽ không

có kỹ năng Không có việc áp dụng tri thức sẽ không đạt được sự phát triển kỹ năng Ngược lại nếu chỉ có tri thức mà không có kỹ năng, không biết áp dụng tri thức thì những kiến thức đó cũng trở thành vô dụng ” [2]

Thông qua việc giải bài tập hoá học giúp học sinh hình thành, rèn luyện củng

cố kỹ năng về Hoá học Từ đó kiến thức lý thuyết sẽ được nắm vững thực sự nên có thể vận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành bài tập lý thuyết và thực hành Trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy việc giải các bài tập nhận biết ở nhiều học sinh còn rất mơ hồ, lúng túng và cho là khó không những đối với Trường THCS Thiệu Chính nơi đang công tác nói riêng mà đó cũng là thực trạng chung của các trường THCS hiện nay Đa phần là do nhiều học sinh chưa nắm vững lý thuyết hoặc kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức thực tế còn kém, nhưng phần lớn các

em chưa biết chọn lọc kiến thức đặc trưng của từng chất để nhận biết Muốn làm các bài tập nhận bết thành thạo các em phải dựa vào các phản ứng hóa học đặc trưng để nhận biết, nghĩa là phản ứng đó phải là phản ứng gây ra các hiện tượng bên ngoài mà giác quan ta có thể cảm nhận và cảm thụ được Cụ thể là dùng mắt để nhận biết hiện tượng hoà tan; kết tủa; mất màu; tạo màu hay đổi màu Dùng mũi để nhận biết các mùi vị đặc trưng như NH3 có mùi khai; SO2 có mùi sốc; H2S mùi trứng thối Tuyệt đối không dùng phản ứng không đặc trưng Vậy đòi hỏi học sinh phải nắm vững lý thuyết về tính chất hoá học và biết phản ứng nào là đặc trưng, từ đó vận dụng làm bài tập Nhưng để nhớ được tính chất hoá học đặc trưng của vô số chất thì quả là khó Để khắc phục lối truyền thụ tri thức một chiều, lối học thụ động, máy móc, cần phải sử dụng phối hợp nhiều phương pháp, phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học hiện đại

Từ thực tế giảng dạy, bằng hiệu quả đạt được nhất định trong năm học 2016

- 2017, tôi đã mạnh dạn lựa chọn sáng kiến kinh nghiệm “Một số kinh nghiệm rèn

kỹ năng phân dạng và giải bài tập nhận biết các chất vô cơ để nâng cao chất lượng giảng dạy cho học sinh lớp 9 ở Trường THCS Thiệu Chính, Thiệu Hóa" với mong

muốn giúp các em thích học môn Hóa học hơn và biết phân dạng bài nhận biết từ

đó có phương pháp giải phù hợp nhất để nâng cao chất lượng giảng dạy ở trường THCS Thiệu Chính nói riêng và của huyện Thiệu Hóa nói chung

2.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.

Thực tế giảng dạy ở trường THCS Thiệu Chính cho thấy đã có một bộ phận học sinh do khó hiểu, khó khăn trong lĩnh hội kiến thức không muốn học Hóa học, ngày càng lạnh nhạt với giá trị thực tiễn của Hóa học Nhiều trường do thiết bị và hóa chất đã lâu chưa có điều kiện thay mới nên khi tiến hành thí nghiệm gặp nhiều

Trang 4

khó khăn hoặc kết quả thường không chính xác, vì vậy giáo viên và học sinh đôi

khi ít thực hiện Do đó một lượng lớn kiến thức Hoá học của các em bị hổng Ở

trường THCS Thiệu Chính nơi tôi đang công tác đa số HS cũng trong tình trạng đó

Hơn nữa với một bài tập nhận biết thì việc vận dụng lý thuyết và kết quả thực hành

lại càng quan trọng, đặc biệt tính chất đặc trưng của mỗi chất, đó là chìa khóa để

giúp học sinh giải bài tập một cách hiệu quả nhất

Bài tập nhận biết các chất vô cơ các em đã được làm quen ở chương trình lớp

8 nhưng còn rất nhiều hạn chế thường chỉ sử dụng ở cuối học kỳ II Trong chương

trình lớp 9 với số lượng bài tập nhận biết nhiều nên việc phân loại và đưa ra được

phương pháp giải phù hợp cho từng dạng làm sao cho hiệu quả thì phần lớn các em

chưa biết hoặc chưa thành thạo

Khảo sát kết quả ban đầu bằng phiếu học tập qua 4 bài nhận biết ở HS khối 9

đầu năm học 2016 - 2017 như sau:

Lớp Tổng

số

Tổng 47 2 4,2 7 14,9 28 59,6 9 19,1 1 2,2

Nguyên nhân cuả thực trạng trên là:

a) Về phía học sinh:

Bài tập nhận biết là dạng bài tập trừu tượng bắt buộc học sinh phải nhớ rõ

tính chất lý thuyết của từng chất cũng như PTHH đặc trưng của từng chất rồi sau đó

mới tiến hành nhận biết được các chất khác nhau dựa vào các tính chất hóa học đặc

trưng đó Đặc biệt mỗi chất hóa vô cơ lại có nhiều tính chất khác nhau và việc xác

định tính chất nào là tính chất đặc trưng để phân biệt giữa chất này với chất kia

cũng là một vấn đề khó đối với học sinh

Hơn nữa nhận biết hóa vô cơ với số lượng lớn các bài tập với nhiều dạng

khác nhau, mỗi dạng lại có rất nhiều phương pháp giải Việc vận dụng phương

pháp nào vào giải từng dạng bài tập cho hiệu quả rất nhiều học sinh còn lúng túng

Vì vậy đòi hỏi các em phải luyện tập nhiều lần thì mới hình thành kỹ năng

giải thành thạo được

b) Về phía giáo viên:

Lượng kiến thức Hóa học rất nhiều mà số tiết lại ít nên phần lớn chỉ cho học

sinh nắm được kiến thức lý thuyết là đã hết thời gian nên việc đưa ra các dạng bài

tập và các phương pháp giải là không nhiều Đặc biệt nếu không phân hóa rõ đối

tượng HS để phân dạng bài tập cũng như phương pháp giảng dạy phù hợp, sẽ dẫn

đến tình trạng học sinh chỉ chép cho đầy vở mà không biết gì

Trong đó dạng bài tập nhận biết đòi hỏi học sinh phải nhớ những hiện tượng của

các phản ứng đặc trưng, vì vậy bản thân học sinh và giáo viên phải trực tiếp tiến

Trang 5

hành cho học sinh quan sát nhưng dụng cụ và hóa chất đã lâu ( do nhiều trường bảo

quản không tốt hoặc chưa có điều kiện thay mới) nên thường khó tiến hành hoặc

kết quả thường khó chính xác Do đó dẫn đến học sinh khó nhớ và khó vận dụng

Sau thời gian tìm hiểu và nắm bắt rõ hơn đối tượng HS, cũng như vị trí của

dạng bài tập này trong dạy học bộ môn Để góp phần làm đơn giản hoá các khó

khăn tôi đã đưa ra sáng kiến kinh nghiệm“Một số kinh nghiệm rèn kỹ năng phân

dạng và giải bài tập nhận biết các chất vô cơ để nâng cao chất lượng giảng dạy

cho học sinh lớp 9 ở Trường THCS Thiệu Chính, Thiệu Hóa" Việc đưa ra các

phương pháp giải phù hợp với trình độ, điều kiện và năng lực của học sinh trong

năm học qua đã thu được kết quả nhất định

2.3 Các giải pháp thực hiện:

2.3.1 Hệ thống phân loại bài tập nhận biết

Trong quá trình dạy học tôi đã chia thành một số dạng bài tập sau:

Nhận biết chất

Nhận biết các chất trong hỗn hợp

Phương pháp định lượng

Phương pháp

định tính Phương pháp định lượng Phương phápđịnh tính

Dùng thuốc thử không giới hạn Dùng thuốc thử hạn chế

Nhận biết các chất riêng biệt

Dùng thuốc thử hạn chế

2.3.2 Nguyên tắc và phương pháp giải dạng bài tập nhận biết

- Muốn nhận biết hay phân biệt các chất ta phải dựa vào phản ứng đặc trưng và có

các hiện tượng: như có chất kết tủa tạo thành sau phản ứng, đổi màu dung dịch, giải

phóng chất có mùi hoặc có hiện tượng sủi bọt khí Hoặc có thể sử dụng một số tính

chất vật lí (nếu như bài cho phép) như nung ở nhiệt độ khác nhau, hoà tan các chất

vào nước

Trang 6

- Phản ứng hoá học được chọn để nhận biết là phản ứng đặc trưng đơn giản và có dấu hiệu rõ rệt Trừ trường hợp đặc biệt, thông thường muốn nhận biết n hoá chất cần phải tiến hành (n – 1) thí nghiệm

- Tất cả các chất được lựa chọn dùng để nhận biết các hoá chất theo yêu cầu của đề bài, đều được coi là thuốc thử

2.3.3 Phương pháp trình bày một lời giải về nhận biết

* Bước 1: Lấy mẫu thử các chất nhận biết vào các ống nghiệm (đánh số thứ tự)

* Bước 2: Chọn thuốc thử (tuỳ thuộc yêu cầu đề bài yêu cầu: Thuốc thử tuỳ chọn,

hay hạn chế, hay không dùng thuốc thử bên ngoài, )

* Bước 3: Cho thuốc thử vào mẫu, trình bày hiện tượng quan sát được (mô tả hiện

tượng) rút ra kết luận đã nhận được hoá chất nào

* Bước 4: Viết phương trình phản ứng minh hoạ ( nếu có)

Ta thấy rằng bước 2 là quan trong nhất học sinh phải xác định được phải dùng thuốc thử nào, cách làm nào để phân biệt được Muốn vậy các em phải nắm rõ phản ứng đặc trưng mà các em có thể tìm hiểu qua các bảng mà giáo viên cung cấp sau:

MỘT SỐ THUỐC THỬ DÀNH CHO HỢP CHẤT VÔ CƠ

BẢNG 1 TRẠNG THÁI, MÀU SẮC CỦA CÁC ĐƠN CHẤT VÀ HỢP CHẤT:

CuS, FeS, NiS, Kết tủa đen Fe2O3 Nâu đỏ

Cu2O Rắn da cam hay đỏ AgCl Kết tủa trắng

BẢNG 2.NHẬN BIẾT MỘT SỐ CHẤT KHÍ

Trang 7

1.SO2 -Nước brom: làm mất màu Br2

- DD KMnO4: Làm mất màu

-Dung dịch H2S: ↓ màu vàng

- Dd I2: Nhạt màu vàng của I2

- Dung dịch Ca(OH)2dư: Làm

cho nước vôi trong bị vẩn đục

SO2 + Br2 + 2H2O  2HBr + H2SO4 5SO2 + 2KMnO4 + 2H2O  2H2SO4 +2MnSO4 +K2SO4

SO2 + 2H2S → 3S↓ + 2H2O

SO2 + I2 + 2H2O → H2SO4 + 2HI SO2 + Ca(OH)2 → CaSO3↓ + H2O 2.Cl2 - Màu vàng lục, mùi sốc

- Làm quì tím ẩm mất màu

- Dung dịch KI

- Làm mất màu dung dịch brom

Cl2 + H2O → HCl + HClO ( tẩy màu) Cl2 + 2KI → 2KCl + I2

I2 làm xanh giấy tẩm hồ tinh bột 2Cl2 +Br2 + 6H2O → 2HBrO3 + 10HCl 3.N2 Que diêm đang cháy dở: que

4.NH3 - DD phenolphtalein: từ không

màu thành màu tím hồng

- Quỳ tím: Làm xanh quỳ tím

- Giấy tẩm dung dịch HCl: Có

khói trắng xuất hiện

NH3 + HCl → NH4Cl (tinh thể muối) 2NH3 + 3CuO → 3Cu + N2 + 3H2O 4NH3 + Cu(OH)2 →[Cu(NH3)4](OH)2 5.NO Không màu

- Khí NO: Hóa nâu khi gặp O2 2NO + O2 → 2NO2 ↑ (màu nâu)

6.NO2 - Hòa tan kim loại hoặc làm quì

tím hóa đỏ trong nước khi sục

NO2 và O2 vào

- Làm quì tím ẩm hóa đỏ

2NO2 + H2O + O2 → 2HNO3 8HNO3 + 3Cu → 3Cu(NO3)3 + 2NO + 4H2O

3NO2 + H2O -> 2HNO3 + NO 7.CO2 - Dd Ca(OH)2 dư: bị vẩn đục CO2 + Ca(OH)2 → CaCO3↓ + H2O

8.CO - Làm CuO (đen) thành Cu (đỏ)

Làm vẩn đục dung dịch PbCl2 CuO + CO  Cu + CO2

o

t

CO + PbCl2 +H2O → Pb↓+ 2HCl +CO2 9.H2S - Mùi trứng ung

- Làm quì tím ẩm hóa đỏ

-Kết tủa đen với dd Cu(NO)3

- Tạo kết tủa vàng với HNO3(l)

- Tạo bột màu vàng với SO2

- Làm mất màu dung dịch Br2

Cu(NO)3 + H2S → CuS + 2HNO3 3H2S + 2HNO3l → 3S↓ + 2NO + 4H2O

SO2 + H2S → 3S↓ + 2H2O H2S + 4Br2 + 4H2O →8HBr + H2SO4 10.O3 - dd KI: Làm xanh giấy tẩm hồ

tinh bột O3 + 2KI + H2O → 2KOH + O2↑ + I2

11.H2 - Cháy với ngọn lửa màu xanh

nhạt kèm theo tiếng nổ nhỏ

- Chuyển CuO (đen) -> Cu (đỏ)

2H2 + O2 → 2H2O CuSO4 + nH2O → CuSO4.nH2O CuO + H2  o Cu + H2O

t

12.SO3 - Tạo kết tủa với dd BaCl2

- Làm quì tím ảm hóa đỏ SO3 + H2O + BaCl2 → BaSO4 + 2HCl SO3 + H2O → H2SO4

13.Br2 - Chất lỏng màu nâu đỏ 5Cl2 +Br2 + 6H2O → 10HCl + 2HBrO3

Trang 8

- Bị nhạt màu bởi Cl2, SO2 SO2 + 2H2O + Br2 → H2SO4 + 2HBr 14.O2 Làm Cu đỏ hoá đen 2Cu + O2  o 2CuO

t

15

H2O

- Hơi nước làm cho CuSO4

(khan, màu trắng) -> màu xanh CuSO4 + nH2O → CuSO4.nH2O (màu xanh) 16.HCl

(khí)

- Làm quì tím ẩm hóa đỏ

- Tạo khói trắng với NH3 NH3 + HCl đặc → NH4Cl (khói trắng tinh thể)

BẢNG 3 MỘT SỐ KIM LOẠI

Na, K,

Ba

KL kiềm

+ H2O

+ Đốt cháy, quan sát

màu ngọn lửa

→ tan + dd trong + H2 K: Ngọn lửa màu tím, Ba: Ngọn lửa màu lục, Na : Ngọn lửa màu vàng

+ Đốt cháy, q/s ngọn lửa → tan + dd đục + H2Cháy với ngọ lửa màu đỏ

- Al, Zn,

Cr

+ dd kiềm (thổ) NaOH,

Ba(OH)2

2Al +2NaOH + H2O -> 2NaAlO2 + H2 ↑

Zn + 2NaOH -> Na2ZnO + H2 Mg- Pb + dd HCl → tan + H2 ; riêng Pb có ↓ PbCl2 trắng

+ AgNO3

→ tan + dd xanh + NO2 ↑ màu nâu

Cu + HNO3 ->Cu(NO3)2 +2NO2 +H2O

Cu + AgNO3 -> Cu(NO3)2 + Ag

Ag + HNO3, sau đó cho

NaCl vào dung dịch → tan + NO2 Ag + 2HNO3 -> AgNO3 + NO2 + H2O↑ nâu + ↓ trắng

AgNO3 + NaCl -> AgCl + NaNO3

Au + HNO3Đặc, HCl đặc tỉ lệ

mol 1:3

→ tan + NO↑ hóa nâu ngoài không khí BẢNG 4 OXIT Ở THỂ RẮN

Na2O,

K2O,

BaO

+ H2O Tan , dung dịch làm xanh giấy quì

Na2O + H2O -> 2NaOH

K2O + H2O -> 2KOH BaO + H2O -> Ba(OH)2 CaO + H2O

+ dd Na2CO3

→ tan, dd đục, CaO + H2O -> Ca(OH)2 CaO + H2O + Na2CO3 -> CaCO3 ↓+2NaOH P2O5 + H2O Tan, làm đỏ quì tím; P2O5+3H2O ->2H3PO4

Al2O3 Tan trong cả axit và

kiềm AlAl2O3 + NaOH -> 2NaAlO2 + H2O2O3 + 6HCl -> 2AlCl3 + 3 H2O

CuO + dd HCl, HNO3, H2SO4 Tạo dd màu xanhCuO + 2HCl -> H2O+ CuCl2 Ag2O + dd HCl đun nóng Ag2O + 2HCl -> H2O+ 2AgCl↓ trắng

MnO2 + dd HCl đun nóng MnO2 +4HCl ->MnCl2+ 2H2O+ Cl2↑vàng lục

BẢNG 5 CÁC DUNG DỊCH MUỐI ( NHẬN BIẾT GỐC AXIT)

Cl- + AgNO3 Ag+ + Cl- → AgCl ↓ trắng

- gốc Br- + Cl2

+ AgNO3

Cl2 + 2 Br- -> 2Cl- + Br2Error! Not a valid link.

Trang 9

Ag+ + Br- → AgBr↓ vàng nhạt I- + Br2, Cl2 + hồ tinh bột

+ AgNO3

Cl2 + 2I- -> 2Cl- + I2→ dd có màu xanh

→AgI↓ vàng đậm

S2- + Cd(NO3)2, Pb(NO3)2 → CdS↓ vàng, PbS↓ đen

SO42- + dd BaCl2 , Ba( NO3)2 Ba2+ + SO42-→ BaSO4 ↓ trắng

SO32- + dd axit mạnh H2SO4,

HCl, HNO3

→ SO2 mùi hắc, làm mất màu dd Br2 SO32- + 2H+ -> SO2 + H2O

- gốc

CO32

-+ dd Ba2+

+ dd axit mạnh + Ba2+, Ca2+

→ CO2 ↑ làm đục nước vôi trong CO2 + Ca(OH)2 -> CaCO3 + H2O

→ BaCO3↓, CaCO3↓ trắng

- PO43- + dd AgNO3 PO43- + 3Ag+ -> Ag3PO4 ↓ vàng

- NO3- + H2SO4 đặc + Cu Khí màu nâu bay ra : NO2

Cu + 2NO3- + 4H+ -> Cu2+ + 2NO2 + 2H2O SiO32- + dd axit mạnh → H2SiO3↓ trắng keo

- gốc

AlO2-+ dd Ba(OH)2, Ca(OH)2 + dd axit dư → BaCO3↓, CaCO3↓ trắng → Al(OH)3↓ sau đó tan dần BẢNG 6 NHẬN BIẾT KIM LOẠI TRONG MUỐI Na+

K+

Rb+

Cs+

Ba2+

Ca2+

+ Đốt cháy, quan

sát màu ngọn lửa → Na+ cháy với ngọn lửa màu vàng→ K+ cháy với ngọn lửa màu tím

→ Rb+ cháy với ngọn lửa màu đỏ huyết

→ Cs+ cháy với ngọn lửa màu xanh da trời

→ Ba2+ cháy với ngọn lửa màu lục (hơi vàng)

→ Ca2+ cháy với ngọn lủa màu đỏ da cam

Mg2+ Dd OH- Mg2+ + 2OH- -> Mg(OH)2 ↓ trắng keo

- Fe2+ Dd OH-

+ dd thuốc tím

trong H+

Fe2+ + 2OH- -> Fe(OH)2 ↓ trắng xanh

dd mất màu tím và hơi ngã sang màu vàng nhạt 5Fe2+ + MnO4- + 8H+ → Mn2+ + 5Fe3+ + 4H2O

- Fe3+ + dd OH-

+ dd chứa SCN- Fe

3+ + 3OH -> Fe(OH)3↓ nâu đỏ

Fe3+ + 3SCN- → Fe(SCN)3 dd màu đỏ máu

- Al3+ + dd OH- đến dư → Al3+ +3OH-→ Al(OH)3 ↓trắng keo sau đó tan

Al(OH)3 + OH- → AlO2- + H2O

- Pb2+ +dd Na2S, dd H2S PbS↓ đen, PbCl2↓ trắng

- Cu2+ + dd OH- → Cu(OH)2↓ xanh: Cu2+ + OH- →Cu(OH)2

Zn2+ + dd OH- đến dư ↓màu trắng sau đó tan :

Cd2+ Dùng S2- Kết tủa màu vàng: Cd2+ + S2- → CdS

Hg2+ Dùng I- Kết tủa màu đỏ:

Ag+ Dùng AgCl Kết tủa màu trắng: Ag+ + Cl- → AgCl

Sr2+ Dùng gốc SO42- Kết tủa màu trắng: Sr2+ + SO42-→ SrSO4

2.3.4 Các giải pháp cụ thể cho từng phương pháp

Trang 10

Trong quá trình giảng dạy bài tập hoá học cho HS tôi luôn tập hợp các dạng bài tập từ dễ đến khó từ vận dụng đơn giản đến vận dụng kiến thức tổng hợp và có sáng tạo Đối với dạng bài tập này cũng vậy học sinh phải được luyện tập từ bài tập

dễ đến bài khó, từ đơn giản đến phức tạp

Một bài tập nhận biết HS cần xác định rõ đề bài yêu cầu là nhận biết bằng tính chất vật lý, hay nhận biết bằng tính chất hóa học hoặc nhận biết dựa vào cả hai tính chất Để giải bài tập nhận biết học sinh có thể giải ra nháp với cách giải từng bước hoặc sơ đồ

2.3.4.1 Phương pháp vật lý

a) Nguyên tắc : Thông thường những tính chất vật lý mà học sinh có thể dựa vào

đó để nhận biết là: tính tan, trạng thái, màu sắc, mùi vị, t0 sôi, t0 nóng chảy [3]

b) Các ví dụ cụ thể

- Phương pháp định tính

Ví dụ 1: Bằng phương pháp vật lý hãy trình bày cách nhận biết các khí sau đựng

trong các lọ riêng biệt: Cl2, H2, NH3, H2S

Hướng dẫn giải:

Khí nào có màu vàng lục là Cl2 Các khí còn lại không màu là: H2, NH3 , H2S

mở nắp lấy tay phẩy nhẹ khí nào có mùi khai là NH3; Khí nào có mùi trừng thối là

H2S; Khí còn lại không có mùi gì là H2

- Phương pháp định lượng: HS phải dùng một số phương pháp như cân, đo, đong,

đếm để phân biệt các chất đó

Ví dụ 1: Bằng phương pháp vật lý hãy trình bày 2 cách phân biệt 2 lọ chứa 2 chất

bột kim loại màu trắng bạc : Al và Fe

Hướng dẫn giải:

Cách 1: Dùng nam châm cho vào gần 2 lọ đựng 2 chất bột trên lọ nào bị nam châm hút là Fe, lọ còn lại không có hiện tượng gì là Al

Cách 2: Cân cùng một thể tích 2 kim loại trên chất nào nhẹ hơn là nhôm (vì D= 2,7g/cm3 ) chất nào nặng hơn là Fe ( vì D = 7,856g/cm3)

Chú ý: V ới phương pháp vật lý thường ít áp dụng tuy nhiên để giải được các bài tập

nh ận biết bằng phương pháp vật lý đòi hỏi HS phải nhớ được màu sắc, trạng thái, mùi

v ị, khối lượng riêng, niệt độ nóng chảy, tính tan của từng chất mới làm được.

2.3.4.2 Phương pháp hóa học

* Nhận biết các chất riêng biệt

DẠNG 1: Nhận biết bằng thuốc thử tự chọn

a) Phương pháp:

- Xác định loại chất, đưa ra dấu hiệu đặc trưng của từng chất và lựa chọn thuốc thử thích hợp

- Trình bày cách nhận biết

- Viết PTHH xảy ra ( nếu có)

b) Các ví dụ cụ thể:

Ngày đăng: 19/05/2022, 11:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w