SKKN Tích hợp giáo dục môi trường khi dạy chương I Cá thể và quần thể sinh vật Sinh thái học, Sinh học 12 tại Trung tâm GDTX Thường Xuân 2 MỤC LỤC PHẦN I MỞ ĐẦU 3 1 Lí do chọn đề tài 3 2 Mục đích nghiên cứu 3 3 Đối tượng nghiên cứu 4 4 Phương pháp nghiên cứu 4 PHẦN II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 4 1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 4 2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 5 3 Các giải pháp và kinh nghiệm đã sử dụng để giải quyết vấn đề 6 3 1 Nghiên cứu nội dung kiế[.]
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU……… …… ….……….3
1 Lí do chọn đề tài……….… ……… ….3
2 Mục đích nghiên cứu……… ………… ……….… 3
3 Đối tượng nghiên cứu……… …… ……… …… 4
4 Phương pháp nghiên cứu……… ………… …….… 4
PHẦN II.NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM……… … ……4
1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm……….……….…4
2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm…….….… 5
3.Các giải pháp và kinh nghiệm đã sử dụng để giải quyết vấn đề………… 6
3.1 Nghiên cứu nội dung kiến thức chương I Cá thể và quần thể sinh vật- Sinh thái học, Sinh học 12 để làm cơ sở tích hợp……… ….……… … 6
3.2.Thiết kế bài giảng tích hợp giáo dục môi trường ………8
3.3 Khảo sát, đánh giá kết quả……… … 14
4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm ……… …….15
PHẦN III.KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ……… ……… ………16
1.Kết luận……… ……… …… 16
2.Kiến nghị ……… ……… …… 16
Trang 2PHẦN I MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, nhiều hiểm họa như: hạn hán, cháy rừng, lũ lụt, sạt lở đất, bệnh dịch…xảy ra, gây thiệt hại nặng nề về người và của cho nhiều địa phương Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do người dân chưa
có được những hiểu biết cơ bản về bảo vệ môi trường
Trước thực trạng đó, Đảng và nhà nước đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm giải quyết các vấn đề môi trường.Riêng trong lĩnh vực giáo dục, Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 về việc phê duyệt đề án “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống Giáo dục quốc dân” và nhiều chỉ thị, quyết định khác nhằm tăng cường giáo dục môi trường trong các trường học
Cụ thể hóa và triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng và nhà nước
về giáo dục bảo vệ môi trường, Bộ GD&ĐT đã có công văn số 6327/BGD ĐT-KHCNMT ngày 17/7/2008 về việc xây dựng kế hoạch tập huấn giáo viên về phương pháp tích hợp nội dung bảo vệ môi trường vào các môn học
Tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học là một đề tài đã được nhiều tác giả nghiên cứu Nội dung giáo dục môi trường các tác giả đề cập mang tính chất tổng quát, chung nhất Nhưng đối với học viên trung tâm Giáo dục thường xuyên (GDTX) Thường Xuân, ngoài các biện pháp bảo vệ môi trường ở tầm vĩ
mô, tôi muốn hướng học viên tới những vấn đề môi trường tại địa phương họ sinh sống, việc bảo vệ môi trường bắt đầu từ những hành vi nhỏ nhất của mỗi người
Huyện Thường Xuân là một huyện miền núi của tỉnh Học viên trung tâm GDTX Thường Xuân phần lớn là giáo viên các trường mầm non, tiểu học và cán
bộ chủ chốt ở các thôn, xã – là những người có vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường để đảm bảo sự phát triển bền vững của địa phương Vì vậy, việc trang bị cho họ những kiến thức về môi trường, năng lực phát hiện và xử lí các vấn đề về môi trường là hết sức cần thiết
Sinh học là môn học đề cập đến nhiều kiến thức gần gũi với con người và thiên nhiên Trong Chương I Cá thể và quần thể sinh vật -Sinh thái học, Sinh học 12, học viên được tìm hiểu về môi trường, các nhân tố sinh thái, mối quan
hệ giữa sinh vật với sinh vật và tác động qua lại giữa sinh vật với môi trường Khi nghiên cứu mối quan hệ này, có thể tích hợp những biện pháp bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên, góp phần làm tăng hiệu quả dạy học
Xuất phát từ những lí do trên tôi đã chọn đề tài “Tích hợp giáo dục môi trường khi dạy chương I Cá thể và quần thể sinh vật- Sinh thái học, Sinh học
12 tại Trung tâm GDTX Thường Xuân” làm đề tài nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 3Tích hợp nội dung giáo dục môi trường trong dạy học chương I Cá thể và quần thể sinh vật- Sinh thái học, Sinh học 12 nhằm giúp học viên nâng cao được giá trị về mặt ứng dụng kiến thức, rèn luyện một số kỹ năng và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường
3.Đối tượng nghiên cứu
Đánh giá hiệu quả của việc dạy học tích hợp giáo dục môi trường khi dạy chương I Cá thể và quần thể sinh vật-Sinh thái học, Sinh học 12 đối với học viên trung tâm GDTX Thường Xuân về kiến thức, kĩ năng cũng như thái độ của người học trước các vấn đề về môi trường
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Nghiên cứu cơ
sở lý luận về quan điểm dạy học tích hợp, nghiên cứu nội dung kiến thức chương I Cá thể và quần thể sinh vật- Sinh thái học, Sinh học 12 để làm cơ sở tích hợp
4.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế: Trao đổi với đồng nghiệp,
gửi phiếu thăm dò để đánh giá thực trạng của việc giáo dục môi trường trong dạy học nói chung và dạy học chương I Cá thể và quần thể sinh vật -Sinh học 12
ở trung tâm GDTX Thường Xuân và một số cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh
4.3 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu qua kết quả các bài kiểm tra và
các kênh thông tin khác để đánh giá tính hiệu quả của đề tài
PHẦN II NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
1.1.Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế
trong việc xác định nội dung dạy học ở nhà trường phổ thông và trong xây dựng chương trình môn học ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới
Dạy học tích hợp là một quan điểm dạy học nhằm hình thành và phát triển
ở học sinh những năng lực cần thiết trong đó có năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết có hiệu quả các tình huống thực tiễn Thông qua dạy học tích hợp, học sinh có thể vận dụng kiến thức để giải quyết các bài tập hàng ngày, đặt cơ sở nền móng cho quá trình học tập tiếp theo; cao hơn là có thể vận dụng để giải quyết những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống hàng ngày
Trong dạy học các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của môn học,
ví dụ: lồng ghép nội dung giáo dục dân số, giáo dục giới tính, giáo dục môi trường trong các môn Giáo dục công dân, địa lý, sinh học, hóa học
1.2.Tích hợp nội dung giáo dục môi trường vào dạy học là sự kết hợp
một cách có hệ thống các kiến thức giáo dục môi trường và kiến thức môn học thành nội dung thống nhất có quan hệ chặt chẽ với nhau dựa trên những mối liên
hệ về lý luận và thực tiễn được đề cập trong bài học
Trang 4Nội dung giáo dục môi trường có thể được tích hợp vào nội dung các bài học của các môn học theo 3 mức độ:
+Mức độ 1: Tích hợp toàn phần: Nội dung giáo dục môi trường trùng
hoàn toàn hay phần lớn nội dung của bài học
+ Mức độ 2: Tích hợp bộ phận: Một số đơn vị kiến thức của nội dung giáo
dục môi trường được đưa vào nội dung bài học và trở thành một bộ phận của bài học
+ Mức độ 3: Tích hợp liên hệ: Nội dung bài học có thể liên hệ với các vấn
đề môi trường
Khi tích hợp giáo dục môi trường cần chú ý:
+ Đảm bảo nội dung kiến thức cơ bản của môn học, tiết học
+ Tận dụng các cơ hội để tích hợp các nội dung của giáo dục môi trường một cách phù hợp, không làm quá tải nội dung và làm tăng thời lượng của bài học
+ Tiến hành một cách tự nhiên, không gò bó, không khiên cưỡng.Vì vậy, việc tích hợp có thể được tiến hành theo các mức độ khác nhau
+ Cần liên hệ các vấn đề về thực trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường ở địa phương
1.3.Giáo dục môi trường trong dạy học cần quán triệt 3 cách tiếp cận,
đó là:
+ Giáo dục về môi trường: Cần cung cấp cho người học có những hiểu
biết cơ bản về môi trường, về mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và môi trường
+ Giáo dục trong môi trường: Giáo dục môi trường cần được tiến hành
trong môi trường, cần được thực hành trong thực tế môi trường, cần xây dựng những kĩ năng thu thập, đánh giá và phân tích dữ liệu từ thực tế
+ Giáo dục vì môi trường: Giáo dục môi trường phải hướng người học có
thái độ thân thiện với môi trường, có ý thức bảo vệ môi trường, có trách nhiệm cải tạo môi trường, có phong cách sống thích hợp, hài hòa với môi trường và sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên
2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Dựa trên quan điểm chỉ đạo của ngành, trong quá trình dạy học sinh học, bản thân tôi cũng như nhiều giáo viên đã chú ý đến tích hợp giáo dục môi trường Tuy nhiên qua thực tế cho thấy việc làm này còn chưa thường xuyên, đôi khi còn mang tính sách vở, thiếu sự gần gũi với đời sống thực tế Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như sau:
+ Cơ sở trang thiết bị còn thiếu, tài liệu cho giáo viên và học sinh tham khảo chưa phong phú, chưa đáp ứng được nhu cầu học tập
+ Kĩ năng sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại của giáo viên còn hạn chế như việc sưu tầm các tư liệu điện tử, tranh ảnh, phim liên quan đến môi trường
Trang 5+Thời lượng của một tiết học hạn chế do đó giáo viên giảng dạy không đủ thời gian đi sâu vào việc tích hợp nội dung bảo vệ môi trường
+ Phần mở rộng liên hệ bảo vệ môi trường thường được coi là phần phụ nên dễ bị bỏ qua
Trong khi đó, Sinh thái học là phần học mang tính thực tiễn cao, chúng ta
có thể đưa ra các biện pháp giáo dục môi trường liên quan đến từng nội dung trong các bài học, đó là những kiến thức gần gũi với sự hiểu biết của học viên Điều này sẽ có tác dụng kích thích hứng thú học tập, mở rộng sự hiểu biết của học viên, đặc biệt là sự quan tâm tới môi trường để từ đó biết cách bảo vệ môi trường
3.Các giải pháp và kinh nghiệm đã sử dụng để giải quyết vấn đề
3.1 Nghiên cứu nội dung kiến thức chương I Cá thể và quần thể sinh vật-Sinh thái học, Sinh học 12 để làm cơ sở tích hợp
Chương I Cá thể và quần thể sinh vật là chương đầu tiên của phần Sinh thái học, gồm 5 bài, từ bài 35 đến bài 39 Nội dung của chương đề cập đến nhiều khái niệm và quy luật sinh thái: Khái niệm môi trường và cách phân loại môi trường, nhân tố sinh thái, giới hạn sinh thái và ổ sinh thái; quần thể và các đặc trưng về sinh thái học của quần thể; mối tác động qua lại giữa các cá thể trong quần thể; quy luật tác động qua lại giữa sinh vật với môi trường; những yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và biến động kích thước của quần thể…Đây là những kiến thức khá gần gũi với học viên và thuận lợi để tích hợp giáo dục môi trường Trên cơ sở lý luận về dạy học tích hợp và nội dung từng bài, tôi đã xác định những đơn vị kiến thức sử dụng để dạy học tích hợp và biện pháp tích hợp như sau:
Bài Địa chỉ tích
hợp Nội dung giáo dục môi trường Biện pháp
Bài 35 I Môi trường
sống và các
nhân tố sinh
thái
II.1 Giới hạn
sinh thái
+ Các yếu tố môi trường: Đất, nước, không khí, các yếu tố khí hậu, đa dạng sinh học và tài nguyên rừng (nhân tố hữu sinh)
+ Con người cũng là một nhân tố sinh thái, mọi hoạt động của con người đều ảnh hưởng đến các yếu tố môi trường
+ Có ý thức và thực hiện bảo vệ các yếu tố môi trường
Bài tập về nhà: Khảo sát môi trường nước tại địa phương qua chủ đề “Bảo
vệ nguồn tài nguyên nước”
Bài 36 I Quần thể sinh
vật và quá trình
hình thành quần
thể
+ Giải thích được sự phát triển quá mức của một số quần thể sinh vật có nguồn gốc nhập ngoại (Ốc bươu vàng, lục bình ) uy hiếp các loài bản địa gây mất cân bằng sinh thái
Học viên liên hệ với thực trạng một số loài sinh vật
Trang 6+ Không được tự ý, tùy tiện đưa một sinh vật ngoại lai vào chăn nuôi hoặc môi trường tự nhiên ở địa phương
ngoại lai xâm hại ở nước ta Bài 37 I Tỷ lệ giới tính
II Nhóm tuổi
IV Mật độ cá
thể của quần
thể
+ Biết cách khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên để đảm bảo duy trì ổn định quần thể
+ Sự phân bố dân cư ở nước ta không hợp lý: người dân dồn về các thành phố lớn để sinh sống làm chất lượng môi trường bị giảm sút
Liên hệ: thực tế ở địa phương
-Liên hệ sự phân bố dân
cư của nước ta
Bài 38 V Kích thước
quần thể sinh
vật
VII Tăng
trưởng của quần
thể người
+ Nhiều loài động vật quý hiếm bị săn bắt quá mức, kích thước quần thể dưới mức tối thiểu nên quần thể khó
có khả năng phục hồi + Con người cần phải bảo vệ các loài động vật hoang dã
+Hiện tượng di dân tự do tới các vùng núi, cao nguyên thường xảy ra, hậu quả là tài nguyên đất, rừng bị xâm phạm và suy thoái
+Thực hiện di dân có kế hoạch đảm bảo cân đối về dân số giữa thành thị, nông thôn, đồng bằng, miền núi và các vùng kinh tế
+Dân số tăng quá nhanh dẫn đến thiếu nơi ở, thiếu trường học, bệnh viện, thiếu đất sản xuất, khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên .là nguyên nhân chủ yếu làm cho chất lượng môi trường giảm sút + Cần có biện pháp kiểm soát dân số:
Thực hiện kế hoạch hóa gia đình, giải quyết vấn đề việc làm để khắc phục tình trạng phân bố dân cư bất hợp lý
-Liên hệ tìm hiểu một số loài có nguy
cơ bị tuyệt chủng do số lượng cá thể còn lại quá ít
Liên hệ thực tế tình trạng di dân
ở nước ta
Học viên liên hệ vấn
đề tăng dân
số ở Việt Nam
Bài 39 I.Biến động số
lượng cá thể
II Nguyên nhân
gây biến động
+ Con người có thể chủ động trong việc hạn chế sự phát triển quá mức của các loài sinh vật gây hại, gây mất cân bằng sinh thái
Liên hệ sự biến động
số lượng cá thể của một
số loài tại địa phương
Trang 73.2 Thiết kế bài giảng tích hợp giáo dục môi trường
Với nội dung và biện pháp tích hợp đã xác định được ở trên, tôi soạn giáo án cho từng bài sao cho vẫn đảm bảo nội dung kiến thức của bài học mà vẫn thực hiện được mục tiêu tích hợp đặt ra
Trong khuôn khổ của sáng kiến kinh nghiệm, tôi không trình bày đầy
đủ, chi tiết giáo án của từng bài Ở đây tôi chỉ trình bày những kinh nghiệm tích hợp ở những đơn vị kiến thức đã chọn
3.2.1.Bài 35 MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC NHÂN TỐ SINH THÁI
Sau khi học viên đã có những khái niệm cơ bản về môi trường, các yếu
tố môi trường, nhân tố sinh thái, giới hạn sinh thái…tôi hướng dẫn học viên khảo sát các yếu tố môi trường tại địa phương qua một chủ đề cụ thể (dưới dạng bài tập về nhà) Trên cơ sở đó, học viên tự xây dựng phương án để khảo sát các yếu tố khác của môi trường tại địa phương như đất, không khí, rừng…
CHỦ ĐỀ: “ BẢO VỆ NGUỒN TÀI NGUYÊN NƯỚC”
Nước là một nhân tố sinh thái vô sinh Nước quyết định sự tồn tại của
sự sống trên trái đất, không có nước thì không có sự sống Nước là tài nguyên của mỗi quốc gia, nó là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế
xã hội của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia
Ở địa phương anh /chị, việc sử dụng nguồn nước như thế nào? Hãy
khảo sát nguồn nước tại địa phương với chủ đề “ Bảo vệ nguồn tài nguyên nước”.
Nội dung1.Nước chúng ta dùng có từ đâu?
a/Nguồn nước anh /chị sử dụng hàng ngày từ đâu? Có Không
Nước mưa
Nước bề mặt
Nước sông, suối,hồ, ao
Nước giếng
Nước ngầm
Nước máy hút từ lòng đất …
b/ Nguồn nước có phải là vô tận không?
c/ Anh chị có bao giờ lo lắng nguồn nước ở địa phương mình
sẽ hết không?
Nội dung 2.Nguồn nước ở địa phương anh/chị có bị suy thoái, cạn kiệt
và ô nhiễm không?
Các chất ô nhiễm xâm nhập vào nguồn nước và những
hành vi làm suy thoái nguồn nước ở địa phương Có Không
Nhà vệ sinh, chuồng gia súc gần giếng nước
Người và động vật phóng uế bừa bãi, đổ rác thải gần sông, suối
Dùng điện, chất nổ đánh cá
Nước thải từ gia đình đổ thẳng ra sông, suối
Nước thải từ bệnh viện, nước thải sinh hoạt chưa được xử lý
Dùng phân hóa học, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, thuốc kích thích quá
nhiều; Rửa dụng cụ, đổ hóa chất độc hại vào nguồn nước
Trang 8Các làng nghề, cơ sở sản xuất, giết mổ gia súc…đổ nước thải
và chất thải rắn vào môi trường mà không qua xử lý
Chôn lấp gia súc, gia cầm bị dịch bệnh không đúng quy cách
Chặt phá rừng lấy đất làm nương, rẫy, lấy gỗ, củi…
Khai thác nước ngầm, sử dụng nước cho sản xuất và sinh hoạt
quá mức
Qua khảo sát trên, anh/chị hãy kết luận nguồn nước tại địa phương mình có bị suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm không?
………
………
Nội dung 3 Khi nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm sẽ dẫn đến những hậu quả gì?
Nước ô nhiễm chứa các chất độc hại xâm nhập vào cơ thể tích tụ
lâu dài sẽ gây khối ung thư
Dùng nước bẩn dễ bị hắc lào, tổ đỉa, eczema, ghẻ lở…
Vi khuẩn đường ruột có trong nước gây rối loạn tiêu hóa, bệnh
đường ruột, giun sán…
Các thuốc trừ sâu có trong nước có thể gây ung thư, trẻ em
thiếu ôxy trong máu, suy dinh dưỡng, giảm thông minh…
Nước bị ô nhiễm là con đường lây truyền HIV, viêm gan B…
Nước bị ô nhiếm sẽ không ảnh hưởng đến sinh hoạt của con
người vì hiện nay có nhiều loại máy lọc nước dùng cho gia đình
Nước bị cạn kiệt sẽ không thể đủ cho sản xuất và tiêu dùng
Nước bị ô nhiễm làm cho tôm, cua, cá và các sinh vật khác bị
biến dạng hoặc bị chết gây tổn thất cho ngành nuôi trồng thủy
sản và ảnh hưởng đến đa dạng sinh học
Nước bị cạn kiệt không ảnh hưởng nhiều đến nông nghiệp vì
con người có thể gây mưa nhân tạo
Nội dung4.Mỗi người cần phải làm gì để tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước?
Những hành động tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước Đồng ý Không đồng ý
Không nên để vòi nước chảy tràn, liên tục khi đang giặt
quần áo hoặc rửa rau, rửa bát
Khóa vòi hoặc nút đường ống lại khi không dùng nước
Không đục ống nước trái phép để lấy cắp nước
Dọn sạch dòng sông và xung quanh bờ
Nơi đổ rác và nhà vệ sinh, chuồng nuôi gia súc phải xa
nguồn nước
Trang 9Trồng nhiều cây trên bờ sông để bảo vệ và chống xói
mòn, lở đất
Dùng phân hóa học thay thế cho phân hữu cơ
Trồng cây, gây rừng, phủ xanh đồi trọc
……
3.2.2.Bài 36 QUẦN THỂ SINH VẬT VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA
CÁC CÁ THỂ TRONG QUẦN THỂ
Khi dạy phần “ Quá trình hình thành quần thể”, tôi phân tích 1 ví dụ cụ thể từ
đó rút ra 3 giai đoạn trong quá trình hình thành quần thể Để thuận tiện cho tích
hợp giáo dục môi trường, tôi chọn ví dụ là một loài sinh vật ngoại lai- Bọ cánh
cứng hại dừa Loài bọ này được phát hiện vào tháng 4/1999 ở tỉnh Bến Tre Bọ
xâm nhập qua con đường nhập khẩu cây cảnh thuộc họ cau dừa dùng làm cảnh
và cây cọ dầu từ các nước châu Á Chỉ sau hơn một năm (tháng 7/2000) đã lan
tràn gây hại cho hơn 30 tỉnh thành thuộc đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam
bộ và Nam Trung bộ
Sau khi học viên đã hiểu được 3 giai đoạn hình thành quần thể, giáo viên cho
học viên lấy thêm các ví dụ khác (Chú ý những loài mới xuất hiện tại địa
phương)
Giáo viên cung cấp thêm thông tin về một số loài sinh vật ngoại lai:
+Cây mai dương, hay còn gọi là cây trinh nữ đầm lầy, hiện là sinh vật
ngoại lai gây hại lớn nhất ở Việt Nam Cây mai dương có nguồn gốc từ vùng
nhiệt đới châu Mỹ và được du nhập vào châu Á từ cuối thế kỷ XIX
+Ốc bươu vàng, có nguồn gốc từ Nam Mỹ, sống trong các vùng đầm lầy
Ốc bươu vàng du nhập vào nước ta từ trước năm 1975
+Ốc sên, có nguồn gốc từ lục địa châu Phi, trở thành loài ốc cạn ngoại lai
xâm nhập vào Việt Nam từ những năm 1960
+ Lục bình (bèo Nhật Bản hoặc bèo tây) du nhập vào Việt Nam từ Nhật
Bản vào năm 1902
+Cây bông ổi (cây ngũ sắc) được đưa vào nước ta từ đầu thế kỷ 20, mục
đích làm cảnh và đang có mặt rộng rãi khắp nơi trong cả nước
+Sâu róm hại thông thuộc họ bướm, có vùng phân bố tự nhiên ở các tỉnh
phía Nam Trung Quốc Sâu róm thông xâm nhập vào Việt Nam từ những năm
1950
Sự lan rộng của sinh vật ngoại lai hiện nay được ghi nhận như một trong
những mối đe dọa lớn nhất đối với sinh thái và nền kinh tế, ảnh hưởng trực tiếp
và gián tiếp đến sức khỏe con người và hệ sinh thái Đặc biệt, nó càng trở nên
nghiêm trọng hơn do sự biến đổi khí hậu và những xáo động về vật lý, hóa học
đối với các loài và hệ sinh thái
Tuy nhiên, không phải sinh vật ngoại lai nào cũng gây hại Có nhiều loài
khi du nhập vào nước ta đã trở thành loài có giá trị: Cà phê, cao su…
Cuối cùng, giáo viên cho học viên thảo luận: Mỗi người cần có thái độ
như thế nào khi đưa sinh vật ngoại lai vào địa phương, và đi đến kết luận:
Trang 10Không được tự ý, tùy tiện đưa một sinh vật ngoại lai vào chăn nuôi hoặc môi trường tự nhiên ở địa phương
3.2.3.Bài 37.CÁC ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA
QUẦN THỂ SINH VẬT
Sau khi dạy xong mục IV Mật độ cá thể của quần thể, giáo viên cho học viên liên hệ sự phân bố dân cư ở nước ta qua các câu hỏi gợi ý sau:
+ Sự phân bố dân cư ở nước ta đã thực sự hợp lí chưa?
(Phân bố dân cư ở nước ta chưa hợp lí giữa các vùng, các tỉnh, giữa đồng bằng và trung du miền núi, giữa thành thị và nông thôn)
+Sự phân bố dân cư chưa hợp lí có ảnh hưởng như thế nào đến môi trường?
(Dân số tập trung ở đồng bằng, đô thị làm ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường Mật độ dân số tăng, rác thải nhiều, làm tăng dịch bệnh, gây ảnh hưởng đến con người và môi trường)
+ Mỗi người cần có thái độ và hành động như thế nào về vấn đề này? (Thực hiện nghiêm túc chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình để kiềm chế gia tăng dân số, chấp hành chính sách di dân và xuất khẩu lao động của nhà nước, khôi phục và phát triển nghề truyền thống để tạo việc làm cho bản thân và người dân, học hỏi cách làm giàu ngay trên chính quê hương…)
3.2.4 Bài 38.CÁC ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA
QUẦN THỂ SINH VẬT(tiếp theo)
Sau khi dạy xong mục V Kích thước quần thể, khái niệm kích thước tối thiểu, giáo viên cung cấp cho học viên thông tin về một số loài có nguy cơ bị tuyệt chủng do số lượng cá thể còn lại quá ít
+ Tê giác Java: là loài gặp nguy hiểm nhất trong số 5 loài tê giác trên thế giới Một quần thể còn tồn tại hiện nay khoảng từ 40-60 con, sống tại vườn quốc gia Ujung Kulon trên đảo Java của Indonesia và quần thể còn lại đã được xác nhận là đã tuyệt chủng ở Việt Nam vào năm 2011 Những con tê giác hiện nay chỉ tập trung ở 2 khu bảo tồn quốc gia nhưng vẫn còn đang gặp nguy hiểm bởi
sự săn trộm, bệnh tật và sự giảm sút đa dạng di truyền gây ra bởi giao phối cận huyết
+ Hổ: Nạn săn bắt, buôn bán hổ khiến số lượng loài động vật quý hiếm này giảm 95% so với đầu thế kỉ 20 Ngày nay, trên thế giới chỉ còn khoảng 5.000-7.000 cá thể hổ hoang dã, trong đó có khoảng 200 ở Việt Nam Loài hổ đã được đưa vào danh sách các loài đang gặp nguy hiểm
+ Sao la: Một trong những loài thú hiếm nhất trên thế giới, sinh sống ở vùng núi rừng hẻo lánh ở dãy Trường Sơn tại Việt Nam và Lào Đây là loài có nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao, được xếp hạng ở mức nguy cấp trong Sách Đỏ của Liên minh Bảo tồn Thế giới và trong Sách Đỏ của Việt Nam
+ Bò tót: Hiện nay, tại Việt Nam chỉ còn khoảng 300 con, phân bố tại các vườn quốc gia Lào Cai, Kon Tum, Lâm Đồng Những đàn bò tót này đang đứng trước hiểm họa tuyệt chủng cao do rừng bị chặt phá và nạn săn trộm thú quý