1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo " Hoàn thuế nhìn từ góc độ pháp lí" pptx

4 304 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thuế nhìn từ góc độ pháp lí
Tác giả Nguyễn Thị Thương Huyền
Trường học Học viện Tài chính
Chuyên ngành Luật thuế
Thể loại Bài nghiên cứu - trao đổi
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 60,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xét góc độ pháp lí, hoàn thuế là quyền của đối tượng nộp thuế được Nhà nước trả lại khoản tiền nhất định khi có đầy đủ các yếu tố do luật định.. Nếu nộp thuế là nghĩa vụ pháp lí của đối

Trang 1

Nguyễn Thị Thương Huyền * oàn thuế đứng ở các góc độ khác nhau

có nhiều cách nhìn nhận khác nhau

Xét góc độ nghiệp vụ thu thuế, hoàn thuế là

biện pháp kĩ thuật trong công tác hành thu

Xét góc độ kinh tế - tài chính, hoàn thuế là

việc Nhà nước trả lại số thuế mà đối tượng

nộp thuế đ0 nộp cho ngân sách nhà nước

Xét góc độ pháp lí, hoàn thuế là quyền của

đối tượng nộp thuế được Nhà nước trả lại

khoản tiền nhất định khi có đầy đủ các yếu

tố do luật định Trong phạm vi bài viết này,

chúng tôi muốn làm rõ một số khía cạnh

pháp lí cơ bản về vấn đề hoàn thuế

1 Hoàn thuế là quyền pháp lí của đối

tượng nộp thuế được xuất hiện trên cơ sở

yếu tố luật định một cách khách quan

Nếu nộp thuế là nghĩa vụ pháp lí của đối

tượng nộp thuế được xuất hiện trên cơ sở

yếu tố luật định một cách khách quan thì

hoàn thuế là quyền pháp lí của đối tượng

nộp thuế cũng được xuất hiện trên cơ sở yếu

tố luật định một cách khách quan Luận cứ

khoa học pháp lí cơ bản này cần phải được

khẳng định khi xem xét vấn đề hoàn thuế

Bởi lẽ:

- Nếu vấn đề hoàn thuế không được quy

định trong luật thuế thì sẽ không xuất hiện

quyền pháp lí này ở các đối tượng nộp thuế,

như Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp,

Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất

không quy định vấn đề hoàn thuế, vì vậy

quyền hoàn thuế không xuất hiện ở những

đối tượng thuộc diện nộp các loại thuế này

- Nếu luật thuế không quy định vấn đề hoàn thuế thì cơ quan thuế không có quyền

ra quyết định hoàn thuế cho bất cứ đối tượng nào Quyết định hoàn thuế của cơ quan thuế chỉ mang tính chất tuyên bố, xác nhận quyền hoàn thuế của từng đối tượng nộp thuế cụ thể khi các chủ thể này hội đủ các

điều kiện hoàn thuế do luật định

Sẽ có những ảnh hưởng theo xu hướng tiêu cực trong quá trình thực hiện luật thuế nếu có sự nhầm lẫn là quyền hoàn thuế được xuất hiện trên cơ sở quyết định hoàn thuế của cơ quan thuế Với sự nhầm lẫn này dễ làm nảy sinh tư tưởng “ban phát” từ phía cơ quan thuế và sự “chạy chọt” để được hoàn thuế từ phía đối tượng nộp thuế

Dưới giác độ là quyền chủ thể, đối tượng thuộc diện hoàn thuế được phép thực hiện một số hành vi nhất định như có quyền yêu cầu cơ quan thuế phải thực hiện hoàn thuế khi đ0 đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp luật quy định; nếu trường hợp cơ quan thuế

ra quyết định hoàn thuế không đúng, không kịp thời thì có quyền khiếu kiện hành chính

và vấn đề này sẽ thuộc quyền tài phán của toà hành chính

Tương ứng với những xử sự được phép là

H

* Học viện tài chính

Trang 2

những xử sự phải có của các chủ thể thuộc

diện được hoàn thuế Một mặt, các chủ thể

này phải thể hiện rõ ý chí về quyền hoàn

thuế của mình bằng văn bản, cụ thể phải có

đơn (công văn) xin hoàn thuế; nếu trường

hợp không có đơn xin hoàn thuế thì coi như

chủ thể đó khước từ (từ bỏ) quyền của mình

Mặt khác, chủ thể có nghĩa vụ chứng minh

mình đ0 hội đủ các điều kiện hoàn thuế

bằng việc cung cấp các bằng chứng, tài liệu

cần thiết theo quy định của pháp luật, đặc

biệt là nghĩa vụ chứng minh gắn liền với

trách nhiệm kê khai đúng, trung thực và chịu

trách nhiệm trước pháp luật về số liệu kê

khai Nếu không chứng minh được và không

thực hiện đúng trách nhiệm thì được coi là

không hội đủ các điều kiện hoàn thuế, vì vậy

không được hưởng quyền hoàn thuế Trong

trường hợp này, cơ quan thuế có quyền

không ra quyết định hoàn thuế

Vậy, cơ chế “tiền thoái, hậu kiểm” mà

cơ quan thuế đang áp dụng hoàn thuế giá trị

gia tăng hiện nay liệu có đảm bảo khía cạnh

pháp lí này hay không? Tất nhiên cơ chế

“tiền thoái, hậu kiểm” sẽ tạo rất nhiều điều

kiện thuận lợi về vốn cho các doanh nghiệp

phát triển sản xuất kinh doanh cũng như đề

cao tính tự chịu trách nhiệm trước pháp luật

của đối tượng nộp thuế Song nghịch lí là ở

chỗ chi phí quản lí hành chính sẽ tăng lên

rất nhiều cho việc “hậu kiểm” hoàn thuế và

đây cũng sẽ là gánh nặng quá sức cho các

cán bộ thuế đồng thời sẽ gây không ít sức ép

lên ngành thuế Bởi ý thức tự giác thực hiện

pháp luật ở nước ta đang ở mức thấp,

phương tiện quản lí hành chính thuế chưa

đạt ở trình độ cao, biện pháp quản lí chứng

từ hoá đơn còn lỏng lẻo, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về hoàn thuế đang trên con đường hoàn thiện Trong khi đó cơ quan thuế chưa được Nhà nước trao đầy đủ quyền lực để giải quyết vấn đề hoàn thuế một cách chủ động Đó là chưa kể đến cơ chế “tiền thoái, hậu kiểm” còn là cơ hội cho những doanh nghiệp làm ăn “chộp giật” liên kết lợi dụng để moi tiền của Nhà nước bằng các hành vi gian lận và bằng nhiều thủ đoạn tinh

vi khác nhau Phải chăng, ở đây bài toán hiệu quả về quản lí hành chính thuế cũng cần phải được cân nhắc kĩ lưỡng

2 Hoàn thuế mang tính chất ưu đ0i, tài trợ của Nhà nước

Không phải bất cứ chủ thể nào cũng có quyền hoàn thuế mà quyền này chỉ xuất hiện

ở những chủ thể được Nhà nước khuyến khích ưu đ0i Đối với thuế giá trị gia tăng, về nguyên lí hoàn thuế, chỉ áp dụng cho mức thuế suất 0% tức chỉ hoàn thuế cho các chủ thể có hoạt động xuất khẩu hàng hoá dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng nhằm khuyến khích tối đa xuất khẩu, tạo điều kiện hội nhập kinh

tế khu vực và thế giới Tất nhiên theo quy

định của pháp luật thuế giá trị gia tăng ở nước ta hiện nay thì một số chủ thể khác cũng được hoàn thuế như những cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở lên (không phân biệt niên độ kế toán) có luỹ kế số thuế

đầu vào được khấu trừ lớn hơn số thuế đầu

ra và trong tháng có hàng hoá xuất khẩu nếu

số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được

Trang 3

khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên; đối với cơ

sở mới thành lập, đầu tư tài sản mới nhưng

chưa có phát sinh doanh thu bán hàng để

tính thuế giá trị gia tăng đầu ra; các dự án sử

dụng vốn ODA (Điều 16, Luật thuế giá trị

gia tăng; Điều 15, Nghị định số

79/2000/NĐ-CP ngày 29/12/2000; phần D,

mục II, Thông tư số 112/2000/TT-BTC ngày

29/12/2000); hoặc đối với thuế thu nhập

doanh nghiệp, hoàn thuế chỉ áp dụng trong

trường hợp các nhà đầu tư nước ngoài dùng

thu nhập được chia để tái đầu tư vào các dự

án thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư (Điều

19 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp; Điều

34 Nghị định số 30/1998/NĐ-CP ngày

13/05/1998); hoặc với thuế tiêu thụ đặc biệt,

hoàn thuế được áp dụng trong trường hợp

hàng hoá tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu và

hàng hoá là nguyên liệu nhập khẩu để sản

xuất, gia công hàng xuất khẩu theo hợp

đồng sản xuất, gia công với nước ngoài

Thực chất những chủ thể này được nhận

khoản tài trợ của Nhà nước thông qua việc

hoàn thuế

Với tính chất ưu đ0i, tài trợ của Nhà

nước, hoàn thuế cũng là khoản chi của ngân

sách nhà nước, vì vậy khi hoàn thuế phải

đảm bảo đầy đủ các nguyên tắc chi ngân

sách nhà nước được quy định ở Luật ngân

sách nhà nước Điều này hoàn toàn khác với

thoái thu thuế là trường hợp một số chủ thể

vì lí do khách quan hoặc do nhầm lẫn đ0 nộp

khoản tiền vào ngân sách nhà nước mà đáng

lẽ ra là không phải nộp Nghĩa là đ0 có dòng

tiền vào ngân sách nhà nước không có căn

cứ pháp lí nên phải trả lại cho người đ0 nộp Khoản tiền này không phải là khoản thu của ngân sách nhà nước nên thoái thu thuế cũng không phải là khoản chi của ngân sách nhà nước và tất nhiên cũng không mang tính chất ưu đ0i, tài trợ của Nhà nước Vì vậy, trình tự thủ tục hoàn thuế khác với trình tự thủ tục thoái thu thuế

Quyết định hoàn thuế của cơ quan thuế

được coi như lệnh chi Kho bạc nhà nước căn cứ vào quyết định hoàn thuế của cơ quan thuế thực hiện chi hoàn Đối với thuế giá trị gia tăng, tiền hoàn thuế được sử dụng từ quỹ hoàn thuế giá trị gia tăng Việc quản lí, sử dụng quỹ hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định của Bộ tài chính (phần D, mục II, Thông tư số 112/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000)

3 Hoàn thuế là việc chuyển dịch một phần tài sản của Nhà nước dưới hình thức giá trị cho một số đối tượng nộp thuế theo nguyên tắc luật định

Sau khi các chủ thể trực tiếp hoặc gián tiếp chuyển một phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho Nhà nước thông qua hình thức điều tiết thu nhập bằng công cụ thuế thì phần các tài sản đó thuộc quyền sở hữu của Nhà nước Vì vậy việc Nhà nước hoàn thuế

đồng nghĩa với việc Nhà nước chuyển dịch một phần tài sản của mình cho một số chủ thể nhất định nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - x0 hội của Nhà nước Song việc chuyển dịch quyền sở hữu về tài sản trong trường hợp này không mang tính chất dân

sự, không có sự thoả thuận ý chí giữa các bên thông qua hợp đồng mà thông qua quyết

Trang 4

định hành chính của cơ quan nhà nước có

thẩm quyền (quyết định hoàn thuế của cơ

quan thuế) tức cơ quan thuế trên cơ sở quy

định của pháp luật có quyền đơn phương

đưa ra quyết định mà không cần sự thoả

thuận của chủ thể bên kia (chủ thể được

hoàn thuế) Điều này cũng khác với thoái

thu thuế Thoái thu thuế là trường hợp số

tiền được chuyển vào ngân sách nhà nước

không thuộc quyền sở hữu của Nhà nước

Và trên thực tế Nhà nước đang chiếm hữu

tài sản đó không có căn cứ pháp luật Vì

vậy, ngân sách nhà nước cấp nào trực tiếp

thu khoản tiền đó thì phải có nghĩa vụ trả lại

cho người đ0 nộp vào ngân sách nhà nước

Với cách nhìn nhận vấn đề hoàn thuế là quyền của chủ thể được Nhà nước chuyển dịch một phần tài sản dưới hình thức giá trị, mang tính chất ưu đ0i, tài trợ thì rõ ràng bất

cứ hành vi nào làm tổn hại đến khối tài sản của Nhà nước thông qua việc hoàn thuế đều phải xử lí nghiêm minh Bởi lẽ, lợi dụng việc hoàn thuế để chiếm đoạt tài sản của Nhà nước không chỉ đơn thuần là việc vi phạm pháp luật mà còn là sự vi phạm về mặt đạo

lí Có như vậy mới đảm bảo tính hợp pháp

và tính hợp lí trong việc thực hiện pháp luật

- yếu tố hết sức cơ bản để giữ vững nền pháp chế và trật tự pháp luật./

Bồi thường thiệt hại Tiếp theo trang 27 dụng trong quá trình nghiên cứu và giải

quyết các vụ việc xảy ra trong thực tế một

cách công bằng phù hợp với quy định của

pháp luật Hiện nay, luật hình sự, luật dân

sự cũng như pháp luật nói chung chưa quy

định nguồn phát sinh nguy hiểm trong

tình thế cấp thiết Nghiên cứu Điều 267

BLDS chỉ dẫn áp dụng khoản 3 Điều 618

BLDS kết hợp với nghiên cứu Điều 618,

chúng tôi thấy nhà làm luật chỉ mới dự

liệu tình thế cấp thiết do hành vi trái pháp

luật của con người gây ra và xác định

được người gây ra tình thế cấp thiết mà

chưa dự liệu được trong trường hợp không

xác định được hoặc không có người gây

ra tình thế cấp thiết (có thể do b0o tố, lũ

lụt, núi lửa ) Nếu vậy tài sản của chủ sở

hữu dùng để hi sinh nhằm khắc phục thiệt

hại cho người khác thì có được bồi thường

hay không? Theo chúng tôi, rủi ro trong tình thế cấp thiết là rủi ro chung Bởi vậy, các bên phải cùng nhau gánh chịu hậu quả Người có tài sản được bảo vệ trong tình thế cấp thiết phải thanh toán một cách hợp lí cho người có tài sản bị thiệt hại để khắc phục thiệt hại trong tình thế cấp thiết Có như vậy mới phù hợp với quy định của pháp luật về tính x0 hội, tính cộng đồng trong tình thế cấp thiết Vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng hết sức phức tạp đặc biệt là việc áp dụng trong thực tiễn Hiện nay chúng ta đang tiến hành sửa đổi, bổ sung BLDS, hi vọng những

“điểm trống” của BLDS nói chung và một số vấn đề mà chúng tôi đề cập trong bài viết này

sẽ được hoàn thiện để mọi tầng lớp nhân dân hiểu được một cách cụ thể, chính xác, thấu

đáo hơn những quy định của BLDS./

Ngày đăng: 21/02/2014, 04:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w