Từ trước đến nay, trong luật hình sự Việt Nam vẫn có quan niệm cho rằng đặc điểm về nhân thân chỉ được quy định là dấu hiệu định tội ở tội phạm có dấu hiệu chủ thể là chủ thể đặc biệt..
Trang 1Tạp chí luật học - 19
1 Từ trước đến nay, trong luật hình sự
Việt Nam vẫn có quan niệm cho rằng đặc
điểm về nhân thân chỉ được quy định là
dấu hiệu định tội ở tội phạm có dấu hiệu
chủ thể là chủ thể đặc biệt Đối với tội
phạm có chủ thể đặc biệt, đặc điểm nhất
định về nhân thân là dấu hiệu bắt buộc của
chủ thể của tội phạm và do vậy nó là dấu
hiệu định tội của loại tội này Việc quy
định chủ thể đặc biệt ở những tội phạm
nhất định không nhằm mục đích truy cứu
trách nhiệm hình sự (TNHS) người có đặc
điểm nhất định về nhân thân mà để:
- Xác định chỉ những người nhất định
mới có thể thực hiện được hành vi nguy
hiểm cho xH hội cụ thể
Ví dụ: Người có chức vụ, quyền hạn
liên quan đến tài sản mới có thể thực hiện
được hành vi tham ô tài sản (Điều 278
BLHS)
- Giới hạn phạm vi đối tượng bị xử lí
theo luật hình sự khi thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xH hội nhất định
Ví dụ: Người thực hiện hành vi dâm ô
với trẻ em phải là người thành niên mới bị
truy cứu TNHS về tội dâm ô đối với trẻ em
(Điều 116 BLHS)
Quan niệm trên đây không còn phù
hợp với BLHS năm 1999 Trong BLHS
này, tình tiết về nhân thân được quy định
là dấu hiệu định tội không chỉ là đặc điểm đặc biệt về nhân thân thuộc dấu hiệu chủ thể đặc biệt mà còn là đặc điểm xấu về nhân thân và vì đặc điểm này mà hành vi nguy hiểm cho xH hội nhất định bị coi là tội phạm Đó là đặc
điểm “đH bị xử phạt hành chính”, “đH bị xử lí
kỉ luật” hoặc “đH bị kết án” Đặc điểm xấu về nhân thân này được quy định là dấu hiệu định tội tại 80 điều của BLHS Đặc điểm này có thể
được quy định là:
- Dấu hiệu định tội độc lập
Ví dụ: Điều 125, theo điều luật này và các
điều luật khác tương tự thì hành vi chỉ cấu thành tội phạm được quy định tại các điều luật này khi chủ thể có đặc điểm xấu về nhân thân
đH bị xử phạt hành chính, đH bị xử lí kỉ luật hoặc đH bị kết án ;
- Dấu hiệu tương đương và có thể thay thế cho dấu hiệu “hậu quả”
Ví dụ: Điều 142, theo điều luật này, hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc của CTTP tội sử dụng trái phép tài sản Nhưng
điều luật này cũng quy định đặc điểm xấu về nhân thân “đH bị xử phạt hành chính ” hoặc
“đH bị kết án ” có thể thay thế dấu hiệu “hậu quả nghiêm trọng” trong trường hợp dấu hiệu này không thoả mHn
- Dấu hiệu bổ sung cho dấu hiệu hậu quả
* Trường đại học luật Hà Nội
Trang 220 - Tạp chí luật học
khi hậu quả xảy ra chưa đạt mức độ
nghiêm trọng luật định
Ví dụ: Điều 143, theo điều luật này,
dấu hiệu hậu quả của CTTP tội huỷ hoại
(hoặc cố ý làm hư hỏng) tài sản đòi hỏi
thiệt hại gây ra phải từ 500.000 đồng trở
lên Nhưng điều luật cũng cho phép mức
thiệt hại thấp hơn 500.000 đồng trong
trường hợp chủ thể có đặc điểm xấu về
nhân thân “đH bị xử phạt hành chính ”
hoặc “đH bị kết án ” ở đây, điều luật coi
đặc điểm xấu về nhân thân là tình tiết bổ
sung để hậu quả thiệt hại dưới mức
500.000 đồng tương đương với hậu quả
thiệt hại từ 500.000 đồng trở lên
- Dấu hiệu bổ sung cho dấu hiệu hành
vi khi hành vi thực hiện chưa đạt mức độ
nghiêm trọng luật định
Ví dụ: Điều 248, theo điều luật này,
hành vi đánh bạc chỉ cấu thành tội phạm
trong hai trường hợp Thứ nhất là trường
hợp hành vi đánh bạc có mức độ lớn thể
hiện qua giá trị lớn của tiền hoặc hiện vật
được thua Thứ hai là người đánh bạc có
đặc điểm xấu về nhân thân “đH bị xử phạt
hành chính ” hoặc “đH bị kết án ” Như
vậy, điều luật cho phép đặc điểm xấu về
nhân thân thay thế mức độ nghiêm trọng
của hành vi đánh bạc
Với các quy định trên đây, chúng tôi
cho rằng cần phải nhắc lại quan niệm về
một số vấn đề trong luật hình sự để đánh
giá sự hợp lí của các quy định đó
2 Trong luật hình sự, nguyên tắc vẫn
được thừa nhận là: Một người không thể bị
xử phạt hình sự về nhân thân xấu của họ
Theo nguyên tắc này, luật hình sự không thể quy định đặc điểm xấu về nhân thân là dấu hiệu định tội Đặc điểm này chỉ có thể được quy định là dấu hiệu định khung hình phạt hoặc là tình tiết tăng nặng TNHS Đặc điểm xấu về nhân thân không có ý nghĩa quyết định hành vi trở thành hành vi phạm tội mà chỉ có ý nghĩa làm tăng mức hình phạt cho người thực hiện hành vi phạm tội để đảm bảo cho hình phạt đạt được mục đích.(1)
Nguyên tắc trên đây không được thể hiện trong BLHS năm 1999 vì Bộ luật đH quy định
đặc điểm “đH bị xử phạt hành chính”, “đH bị
xử lí kỉ luật”, “đH bị kết án” là dấu hiệu định tội của nhiều tội phạm cụ thể Quy định này của BLHS không chỉ mâu thuẫn với nguyên tắc chung mà mâu thuẫn với ngay chính các quy định khác trong Bộ luật Ba đặc điểm xấu
về nhân thân: “ĐH bị xử phạt hành chính”, “đH
bị xử lí kỉ luật”, “đH bị kết án” được nhà làm luật xác định là dấu hiệu định tội nhưng lại không được quy định là tình tiết định khung tăng nặng cũng như tình tiết tăng nặng TNHS Trong khung tăng nặng của các tội phạm cụ thể, đặc điểm xấu về nhân thân được quy định
là dấu hiệu định khung là đặc điểm “tái phạm nguy hiểm” còn tại Điều 48, đặc điểm xấu về nhân thân được quy định là tình tiết tăng nặng TNHS là tình tiết “tái phạm” và “tái phạm nguy hiểm” Hai đặc điểm xấu về nhân thân này, nếu so sánh với ba đặc điểm xấu về nhân thân nói trên, rõ ràng là xấu hơn Theo logic,
đặc điểm xấu về nhân thân được quy định là dấu hiệu định khung tăng nặng phải xấu hơn
đặc điểm xấu về nhân thân được quy định là tình tiết tăng nặng TNHS và đặc điểm xấu về
Trang 3Tạp chí luật học - 21
nhân thân được quy định là dấu hiệu định
tội phải là xấu nhất Trong BLHS, đặc
điểm xấu về nhân thân được quy định là
dấu hiệu định tội lại là đặc điểm xấu ít
nhất Cũng theo logic, nếu đặc điểm xấu
về nhân thân được quy định là dấu hiệu
định tội thì cũng có thể được quy định là
tình tiết định khung tăng nặng cũng như
tình tiết tăng nặng TNHS Điều này, như
trình bày trên cũng không được thể hiện
trong BLHS Tất cả các điều không logic
đó đều do sự không hợp lí trong việc quy
định đặc điểm xấu về nhân thân là dấu
hiệu định tội.(2)
3 Từ trước đến nay, chúng ta vẫn quan
niệm đối với mỗi tội phạm được quy định
trong BLHS chỉ có một cấu thành tội phạm
(CTTP) cơ bản.(3) Việc quy định tình tiết
xấu về nhân thân là dấu hiệu định tội trong
BLHS năm 1999 đH làm thay đổi quan
niệm này Cụ thể: ở các tội phạm có dấu
hiệu định tội là đặc điểm xấu về nhân thân
được quy định thay thế hay bổ sung cho
dấu hậu quả có hai CTTP cơ bản, một
CTTP cơ bản có dấu hiệu hậu quả nhất
định và một CTTP cơ bản có dấu hiệu về
đặc điểm nhân thân xấu Ví dụ: Tội cản trở
giao thông đường sắt (Điều 209) Theo
quy định của điều luật, tội này có hai
CTTP cơ bản: Một CTTP cơ bản có dấu
hiệu hậu quả là thiệt hại cho tính mạng
hoặc thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ,
tài sản và CTTP cơ bản khác không có dấu
hiệu hậu quả mà có dấu hiệu “đH bị xử
phạt hành chính” hoặc “đH bị kết án ”
4 Việc quy định hai CTTP cơ bản cho
một tội dẫn tiếp đến sự thay đổi trong quan niệm về phân loại tội phạm theo loại lỗi Theo dấu hiệu lỗi, chúng ta vẫn phân tội phạm thành tội cố ý và tội vô ý Mỗi tội phạm được quy định trong BLHS chỉ có thể là tội cố ý hoặc tội vô ý Điều này không còn đúng với BLHS năm 1999 Tội phạm có thể là tội cố ý
và có thể là tội vô ý, tuỳ vào việc xem tội phạm đó thuộc CTTP cơ bản nào - CTTP vật chất hay CTTP hình thức là hai CTTP cơ bản
mà tội đó có Cụ thể, tội phạm đó là tội cố ý với CTTP hình thức và là tội vô ý với CTTP vật chất Ví dụ: Tội đua xe trái phép (Điều 207) Nếu xem tội này là tội có CTTP vật chất (đòi hỏi gây thiệt hại cho sức khoẻ, tài sản của người khác) thì tội này là tội vô ý Trái lại, nếu xem tội này là tội có CTTP hình thức (không đòi hỏi gây thiệt hại cho sức khoẻ, tài sản của người khác mà chỉ đòi hỏi chủ thể “đH
bị xử phạt hành chính ” hoặc “đH bị kết
án ”) thì tội này là tội cố ý Như vậy, một tội phạm vừa có tính chất là tội cố ý và vừa có tính chất là tội vô ý Điều này dẫn đến việc giải quyết TNHS có sự khác nhau ở cùng một tội vì nhiều quy định liên quan đến TNHS có
sự phân biệt giữa tội cố ý và tội vô ý Ví dụ: Chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt cũng như TNHS của trường hợp này chỉ đặt ra cho tội cố ý; người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi không phải chịu TNHS về tội vô ý (4) Trong các trường hợp này, điều bất lợi cho người phạm tội luôn xảy ra ở CTTP có dấu hiệu bắt buộc là đặc điểm xấu về nhân thân Trong thực tiễn xét xử, chúng ta có thể căn cứ vào thực tế để xếp tội phạm đH được thực hiện thuộc CTTP nào và từ đó quyết định
Trang 422 - Tạp chí luật học
vấn đề TNHS Nhưng không phải với mọi
trường hợp phạm tội xảy ra chúng ta đều
có thể xếp được như vậy Đó là các trường
hợp phạm tội vừa gây thiệt hại cho sức
khoẻ, tài sản và vừa thoả mHn dấu hiệu “đH
bị xử phạt hành chính ” hoặc “đH bị kết
án ”
Với trình bày trên chúng tôi cho rằng
cần phải sửa đổi lại các điều luật có quy
định đặc điểm xấu về nhân thân là dấu
hiệu định tội theo hướng không được coi
đặc điểm này là dấu hiệu định tội./
(1) Về mục đích của hình phạt, xem: Trường đại
học luật Hà Nội, Trách nhiệm hình sự và hình phạt,
H 2001, tr.29 và các trang tiếp theo Về ý nghĩa
của nhân thân người phạm tội trong việc quyết định
hình phạt, xem: Sđd tr.80 và các trang tiếp theo
(2) Ngay trong việc quy định dấu hiệu này cũng có
sự không thống nhất ở các điều luật Có điều luật
quy định tình tiết “đH bị kết án ” là dấu hiệu định
tội cùng tình tiết “đH bị xử phạt hành chính ”, “đH
bị xử lí kỉ luật ” nhưng cũng có điều luật không
quy định tình tiết “đH bị kết án ” như Điều 147
quy định về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng
Nếu trong thực tế xảy ra trường hợp đH bị kết án
nhưng chưa bị xử phạt hành chính về hành vi vi
phạm chế độ một vợ, một chồng mà lại vi phạm
nhưng không gây hậu quả nghiêm trọng thì giải
quyết thế nào?
(3).Xem: Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Trường
đại học luật Hà Nội, năm 2000, tr.57; Giáo trình
luật hình sự Việt Nam - Phần chung của Đại học
quốc gia Hà Nội, năm 2001, tr.130
(4) Theo Điều 12 BLHS thì họ phải chịu TNHS về
tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý Nhưng điều này
không thể có được vì không có tội đặc biệt nghiêm
trọng mà là tội vô ý
Hành lang pháp lí
(Tiếp theo trang 48) Hầu hết các công ti cho thuê tài chính đều
có lợi nhuận trước thuế Hoạt động cho thuê tài chính trên thực tế đH thực sự chứng
tỏ khả năng an toàn và hiệu quả trong kinh doanh, đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng
Tóm lại, qua những nội dung được phân tích, hoạt động cho thuê tài chính đH thực sự có được hành lang pháp lí mới để tín dụng thuê mua phát triển ở Việt Nam trong tương lai Nhà nước Việt Nam một mặt là chủ thể của quan hệ tài chính nhưng mặt khác, Nhà nước lại giữ vai trò định hướng và điều phối các hoạt động tài chính, kinh tế-xH hội Trong thời gian tới,
để khuyến khích hoạt động cho thuê tài chính phát triển rộng khắp, chúng ta cần phải tuyên truyền giúp cho các doanh nghiệp và mọi người dân hiểu về tính an toàn, hiệu quả kinh tế của loại hình kinh doanh này Chúng ta cần nghiên cứu, học tập kinh nghiệm của một số nước trên thế giới để hạn chế những rủi ro khi triển khai hoạt động này Đặc biệt là nâng cao trình
độ cho đội ngũ nhân viên, cán bộ, có như thế hoạt động cho thuê tài chính mới có cơ hội phát triển khi thời hạn tham gia vào AFTA của nước ta đang đến gần Với xu thế phát triển của nền kinh tế đất nước chắc chắn trong những năm tới, nhu cầu về đổi mới trang thiết bị máy móc ngày càng cao, hoạt động cho thuê tài chính sẽ là lĩnh vực
đầy tiềm năng của nền tài chính nước nhà./