Thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường cho thấy việc phân loại các hình thức sở hữu như hiện nay gây khó khăn trong việc xác định sở hữu của các doanh nghiệ
Trang 1ThS Bùi Ngọc Cường *
1 Việc xem xét phương diện lí luận
cũng như thực tiễn cho thấy mỗi chủ sở hữu
là hiện thân của một loại quan hệ sở hữu
Điều đó yêu cầu phải có những quy định về
hình thức sở hữu khác nhau Quy định hình
thức sở hữu là nhằm xác định rõ chủ thể của
quyền sở hữu là ai, có những đặc điểm gì?
Nguồn tài sản của mỗi hình thức sở hữu bắt
nguồn từ đâu và được xác lập bởi những căn
cứ pháp lí nào, cơ chế pháp lí đảm bảo việc
chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản ra
sao Dựa trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân,
sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân được quy
định tại Điều 15 Hiến pháp năm 1992, Bộ
luật dân sự đO cụ thể hóa việc xác định các
hình thức sở hữu ở nước ta hiện nay Đó là
sở hữu toàn dân; sở hữu của tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị - xO hội; sở hữu tập thể;
sở hữu tư nhân; sở hữu của tổ chức xO hội, tổ
chức xO hội - nghề nghiệp; sở hữu hỗn hợp;
sở hữu chung Thực tiễn hoạt động sản xuất
kinh doanh trong nền kinh tế thị trường cho
thấy việc phân loại các hình thức sở hữu như
hiện nay gây khó khăn trong việc xác định
sở hữu của các doanh nghiệp (như doanh
nghiệp nhà nước, công ti trách nhiệm hữu
hạn, công ti cổ phần), pháp luật chưa trả lời
được câu hỏi nó thuộc hình thức sở hữu nào
Theo lí thuyết chung và cũng được thể hiện
trong pháp luật hiện hành (Điều 94 Bộ luật dân sự) thì pháp nhân phải có tài sản riêng, tồn tại độc lập và có sự tách bạch tài sản của pháp nhân và tài sản của thành viên trong pháp nhân (nguyên tắc phân tách tài sản), pháp nhân chịu trách nhiệm bằng chính tài sản của mình Vấn đề ở đây là phải làm rõ mối quan hệ pháp lí giữa thành viên công ti
đối vốn là những chủ đầu tư (đO góp vốn để lập pháp nhân doanh nghiệp) và doanh nghiệp là pháp nhân đối với khối tài sản đó Cả về lí luận và thực tiễn đều không thể coi quyền sở hữu tài sản của pháp nhân doanh nghiệp thuộc hình thức sở hữu hỗn hợp hay hình thức sở hữu chung Hai hình thức sở hữu này mà Bộ luật dân sự quy định là căn
cứ vào cấu trúc chủ thể tham gia chứ chưa thể hiện được bản chất pháp lí của quyền sở hữu, tức là tài sản đó thuộc về ai? Thuộc về pháp nhân doanh nghiệp hay thuộc về các thành viên là người đO góp vốn tạo nên pháp nhân doanh nghiệp ĐO từng có quan điểm cho rằng tài sản của pháp nhân doanh nghiệp thuộc về sở hữu của các thành viên (người góp vốn lập nên doanh nghiệp), ví
dụ, tại khoản 1 Điều 8 Luật công ti (hết hiệu
* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2lực) đO quy định: "Thành viên công ti có
quyền sở hữu một phần tài sản của công ti
tương ứng với phần vốn góp vào công ti"
Theo chúng tôi, ở đây đO có sự nhầm lẫn khi
xác định thành viên công ti là chủ sở hữu tài
sản của công ti Thực ra, hành vi góp vốn để
thành lập pháp nhân doanh nghiệp tồn tại
độc lập và tách bạch về mặt tài sản với chủ
sở hữu của nó đO làm thay đổi thực trạng
pháp lí về quyền sở hữu liên quan đến những
tài sản đO được chuyển cho pháp nhân doanh
nghiệp Theo nguyên lí về sở hữu thì khi
pháp nhân doanh nghiệp thành lập một cách
chính thức về mặt pháp lí (sau khi đO làm
xong thủ tục đăng kí kinh doanh) thì không
thể tiếp tục khẳng định rằng tất cả tài sản mà
các thành viên đO cam kết góp và chuyển
thành vốn điều lệ của pháp nhân doanh
nghiệp tiếp tục thuộc sở hữu của các thành
viên Lúc này, các thành viên trở thành chủ
sở hữu pháp nhân doanh nghiệp còn pháp
nhân doanh nghiệp trở thành chủ sở hữu đối
với tài sản doanh nghiệp Tại khoản 4 Điều
3 Luật doanh nghiệp đO xác định: "Góp vốn
là việc đưa tài sản vào công ti để trở thành
chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của
công ti" Quy định này đO làm rõ được mối
quan hệ giữa thành viên công ti và công ti
đối với tài sản Đó là hai chủ thể pháp lí độc
lập, các thành viên công ti là chủ sở hữu
công ti, công ti là thực thể pháp lí độc lập, là
chủ thể của quyền sở hữu tài sản trong công
ti Mối quan hệ giữa các thành viên công ti
và công ti được điều chỉnh bởi hợp đồng
thành lập, điều lệ của công ti và những quy
định của pháp luật Với tư cách là chủ sở hữu pháp nhân doanh nghiệp, các thành viên
có quyền quyết định phương hướng hoạt
động sản xuất kinh doanh, có quyền sáp nhập, giải thể, có quyền ấn định điều lệ của pháp nhân doanh nghiệp; xác lập bộ máy quản lí; quyết định tăng giảm vốn điều lệ Pháp nhân doanh nghiệp với tư cách là chủ thể của quyền sở hữu tài sản có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp (tất nhiên là phải phù hợp với điều lệ của doanh nghiệp với tính cách là "luật của doanh nghiệp") Chỉ có quan niệm như vậy mới có cơ sở pháp lí đảm bảo cho pháp nhân doanh nghiệp tồn tại trên thương trường với tư cách là chủ thể pháp lí có khả năng tự chủ tài chính, thực hiện được chế độ trách nhiệm hữu hạn của mình Về vấn đề này giáo sư Akiyama yasuhiro thuộc khoa luật Trường
đại học Waseda cho rằng: "Doanh nghiệp là pháp nhân cho nên doanh nghiệp có đủ tư cách để sở hữu tài sản Nếu quy định cổ
đông hoặc nhân viên sở hữu tài sản của công ti thì việc ban tư cách pháp nhân cho
2 Cơ chế thị trường đòi hỏi doanh nghiệp nhà nước vừa phải có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh vừa phải tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình
Để đáp ứng yêu cầu này cần phải thực hiện việc tách bạch giữa quyền sở hữu của Nhà nước và quyền quản lí, sử dụng tài sản trong doanh nghiệp nhà nước Trong những năm qua, Nhà nước ta đO thực hiện nhiều giải pháp
Trang 3nhằm cải cách, đổi mới doanh nghiệp nhà
nước, xác lập và đảm bảo quyền tự chủ cho
doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt trong lĩnh
vực tài chính Những giải pháp như giao vốn
cho các doanh nghiệp nhà nước, các doanh
nghiệp có trách nhiệm bảo toàn, phát triển
vốn; cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
bước đầu đO phần nào giúp tách bạch giữa
quyền sở hữu của Nhà nước và quyền của
doanh nghiệp đối với vốn và tài sản được Nhà
nước giao cho doanh nghiệp Tuy nhiên,
quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản của
doanh nghiệp nhà nước là các phạm trù cần
phải làm rõ hơn một cách cụ thể và dứt
khoát về mặt pháp lí
Theo chúng tôi, cần xác định Nhà nước
là chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước, doanh
nghiệp nhà nước là chủ sở hữu đối với tài
sản của doanh nghiệp Quan niệm này được
xây dựng dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn
sau:
Thứ nhất, theo quy định tại Điều 1 Luật
doanh nghiệp nhà nước thì doanh nghiệp nhà
nước là tổ chức kinh tế có tư cách pháp
nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự
chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh
doanh trong phạm vi số vốn do doanh
nghiệp quản lí Tư cách pháp nhân chính là
tiền đề kinh tế và pháp lí quan trọng nhất để
doanh nghiệp nhà nước có thể tồn tại một
cách độc lập về mặt kinh tế cũng như về mặt
pháp lí, từ đó doanh nghiệp nhà nước có
quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh
Theo đó, cần phải khẳng định dứt khoát là
Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước là hai
chủ thể pháp lí độc lập và mối quan hệ pháp
lí giữa Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước giống như mối quan hệ giữa thành viên công
ti và công ti Bởi lẽ, về thực chất, doanh nghiệp nhà nước là công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên (là Nhà nước) Như vậy, khi pháp nhân doanh nghiệp nhà nước được thành lập chính thức, về mặt pháp lí thì tất cả vốn và tài sản mà Nhà nước đầu tư chuyển thành vốn điều lệ của doanh nghiệp nhà nước, trở thành tài sản của doanh nghiệp nhà nước Trong trường hợp này, Nhà nước
ở vị trí của nhà đầu tư cũng giống như thành viên công ti trong công ti đối vốn là người
đO đầu tư (góp vốn) để hình thành nên pháp nhân công ti Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm của TS Nguyễn Như Phát cho rằng "sẽ là không tưởng tượng nổi khi hành vi góp vốn của nhà đầu tư vào doanh nghiệp mà không làm thay đổi tình trạng pháp lí về sở hữu đối với toàn bộ số tài sản
phát từ nguyên lí đó, Điều 22 Luật doanh nghiệp đO thể hiện rất rõ nguyên tắc về chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ti Nếu không xác định cơ chế pháp lí như vậy thì doanh nghiệp nhà nước trên thực
tế và về pháp lí sẽ không thể có tư cách pháp nhân thực sự để tồn tại trên thương trường với tư cách là thực thể pháp lí độc lập, để hành động theo các tín hiệu của thị trường Thứ hai, doanh nghiệp nhà nước là chủ thể pháp lí độc lập, nhân danh mình chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh
Trang 4trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản
lí Nếu vẫn quan niệm số tài sản mà Nhà
nước đO đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước
thuộc sở hữu nhà nước thì những đối tác
giao dịch với doanh nghiệp nhà nước hoặc
chủ nợ của doanh nghiệp nhà nước sẽ gặp
nhiều khó khăn, rắc rối trước những nguy cơ
rủi ro trên thương trường Chẳng hạn, khi
doanh nghiệp nhà nước mắc nợ các đối tác
thì vấn đề thanh toán nợ sẽ gặp khó khăn,
bởi vì theo lẽ thông thường, nếu những tài
sản của doanh nghiệp nhà nước thuộc sở hữu
nhà nước thì quyền quyết định thuộc về Nhà
nước chứ không thuộc về doanh nghiệp,
trong khi đó Nhà nước hoàn toàn không
tham gia quan hệ nợ nần này Trong trường
hợp này, để đảm bảo lợi ích cho các chủ nợ
thì chỉ còn cách là Nhà nước đứng ra làm
người bảo lOnh cho doanh nghiệp của mình
Như vậy, doanh nghiệp nhà nước sẽ không
còn là pháp nhân và việc Nhà nước đứng ra
bảo trợ cho hoạt động của doanh nghiệp sẽ
không phù hợp với đường lối, chính sách đổi mới
khu vực kinh tế quốc doanh
Thứ ba, việc thừa nhận doanh nghiệp
nhà nước là chủ sở hữu đối với những tài sản
thuộc vốn điều lệ cũng chỉ có tính tương đối
vì đây cũng chỉ là loại sở hữu phái sinh và sự
tồn tại của nó luôn gắn với mục đích nhất
định Doanh nghiệp nhà nước là chủ sở hữu
tài sản bắt nguồn trực tiếp từ sở hữu nhà
nước, được hình thành thông qua việc Nhà
nước đầu tư (góp vốn) Mặt khác, khi thực
hiện quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt
những tài sản của mình, doanh nghiệp nhà
nước chỉ có thể xử sự theo điều lệ doanh
nghiệp, sự kiểm soát của chủ sở hữu doanh
nghiệp Với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp, Nhà nước có quyền chi phối các hoạt động của doanh nghiệp như xác định phương hướng, kế hoạch sản xuất kinh doanh; thông qua điều lệ doanh nghiệp, chỉ định bộ máy quản lí; quyết định tăng giảm vốn điều lệ; thu lợi tức từ hoạt động của doanh nghiệp
Thứ tư, việc xác định doanh nghiệp nhà nước là chủ sở hữu đối với tài sản của doanh nghiệp còn Nhà nước là chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước là phù hợp với quan điểm của Đảng về sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước đO được xác định tại Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành trung
ương Đảng khóa IX, đảm bảo cho doanh nghiệp nhà nước thực sự có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hoạt động theo nguyên tắc cạnh tranh Đồng thời, cách tiếp cận này sẽ giải quyết được vấn đề sở hữu khi chúng ta tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước hoặc là chuyển doanh nghiệp nhà nước sang mô hình công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoạt động theo Luật doanh nghiệp Để thực hiện giải pháp này, theo chúng tôi, Nhà nước cần sớm thành lập công
ti đầu tư tài chính nhà nước Công ti đầu tư tài chính sẽ là cơ quan thực hiện nhiệm vụ
đầu tư vốn vào các doanh nghiệp nhà nước
và thực hiện chức năng chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước, thay thế cơ quan chủ quản hiện nay./
(1) Tham luận tại Hội thảo về sửa đổi BLDS tại thành phố Hồ Chí Minh 18/6/2001
(2) Xem: TS Nguyễn Như Phát: “Quyền tự chủ về vốn và tài sản của doanh nghiệp nhà nước” Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 3/1999