Về phạm vi sửa đổi và bổ sung Hiến pháp Đa số các ý kiến phát biểu tại Hội nghị nhất trí với quan điểm của Uỷ ban sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, cho rằng trong thời
Trang 1gày 8/9/2001, Trường đại học luật Hà
Nội đ tổ chức Hội nghị góp ý kiến cho
Dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của
Hiến pháp năm 1992 Tham gia Hội nghị có
hơn 100 cán bộ, giáo viên của nhà trường
Hội nghị vinh dự được nghe Bộ trưởng Bộ Tư
pháp, thành viên Uỷ ban sửa đổi, bổ sung
một số điều của Hiến pháp năm 1992, TS
Nguyễn Đình Lộc phổ biến mục đích, yêu
cầu, những quan điểm chỉ đạo và nội dung
cần sửa đổi, bổ sung Hội nghị đ diễn ra
trong không khí hết sức sôi nổi với nhiều ý
kiện phong phú và sâu sắc
Dưới đây là tổng hợp các ý kiến phát biểu
tại Hội nghị này
I Về phạm vi sửa đổi và bổ
sung Hiến pháp
Đa số các ý kiến phát biểu tại Hội nghị
nhất trí với quan điểm của Uỷ ban sửa đổi, bổ
sung một số điều của Hiến pháp năm 1992,
cho rằng trong thời điểm hiện nay chưa nên
đặt vấn đề sửa đổi cơ bản Hiến pháp 1992
Tuy nhiên, các ý kiến đều cho rằng cần có
quan niệm đúng về vấn đề này: Sửa đổi, bổ
sung một số điều không có nghĩa là cố định ở
33 điểm mà Uỷ ban sửa đổi, bổ sung một số
điều của Hiến pháp năm 1992 đ đưa ra; điều
quan trọng là những vấn đề gì đ thực sự chín
muồi, có nhu cầu bức xúc thì nên sửa đổi Vì
vậy, ngoài những vấn đề mà Uỷ ban sửa đổi,
bổ sung một số điều của Hiến pháp năm
1992 đ dự kiến cũng cần xem xét thêm
những vấn đề khác như nguyên tắc quyền lực
nhà nước là thống nhất, Nhà nước là người
đại diện của sở hữu toàn dân, nguyên tắc công dân có quyền được tự do kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước, vì vậy, cần chú trọng tính chất, nội dung, vai trò, chức năng của Hiến pháp để xác định các vấn đề nào cần sửa đổi, bổ sung
và đưa ra ở mức độ nào cho phù hợp để vừa bảo đảm được mục đích và yêu cầu đặt ra cho
đợt sửa đổi bổ sung này đồng thời bảo đảm
được tính ổn định lâu dài của Hiến pháp, tránh trường hợp đưa vào những nội dung sửa
đổi, bổ sung mà sau thời gian ngắn lại phải tiếp tục có sự sửa đổi, bổ sung; hoặc có những vấn đề rất quan trọng nhưng đang là
định hướng, còn phải tiếp tục nghiên cứu thì chưa nên quy định cụ thể
II Những vấn đề cần được sửa
đổi, bổ sung trong Hiến pháp năm 1992
1 Về Lời nói đầu Nhiều ý kiến phát biểu đều nhất trí cần
bổ sung vào Lời nói đầu: "Động lực chủ yếu
để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng cộng sản Việt Nam l.nh đạo của toàn x hội", vì đây là một trong những vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng đ được khẳng định trong Nghị quyết
Đại hội IX của Đảng và vấn đề đại đoàn kết cũng đ từng được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 với tư cách là một trong ba nguyên
N
Trang 2tắc để xây dựng Hiến pháp
Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng cần
thể hiện một cách cô đọng, khái quát hơn Có
một ý kiến đề nghị ghi như Hiến pháp năm
1946
Ngoài ra, cũng có ý kiến đề nghị nên sửa
Lời nói đầu của Hiến pháp cho phù hợp với
tình hình hiện nay với nội dung cụ thể như
sau:
- Tinh hình từ năm 1986 đến nay đ có
nhiều thay đổi Đường lối đổi mới do Đảng
đề xướng và lnh đạo là đúng đắn và đ thu
được nhiều thành tựu hết sức to lớn Nghị
quyết Đại hội IX của Đảng đ khẳng định
tính đúng đắn của đường lối đó đồng thời
khẳng định phải tiếp tục thực hiện đường lối
này ở phạm vị rộng hơn, toàn diện hơn và ở
mức độ cao hơn Nghị quyết Đại hội IX cũng
đưa ra những nhận định có tính khái quát cao
hơn và vạch ra những định hướng chiến lược
mới cho những thập kỉ đầu của thế kỉ XXI
Vì vậy, nếu để nguyên đoạn "Từ năm 1986
đến nay nhiệm vụ mới" như trước đây thì
chưa phù hợp Đề nghị sửa đoạn này để bảo
đảm chức năng phản ánh của Hiến pháp cho
phù hợp với tình hình hiện nay
- Hai vấn đề quan trọng mà Nghị quyết
IX đ khẳng định về xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN dưới sự lnh đạo của Đảng và
xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
x hội chủ nghĩa là những quan điểm định
hướng lớn nên thể hiện trong Lời nói đầu một
cách cô đọng sẽ phù hợp hơn là đưa vào các
Điều 2, 12 và 15
2 Về Chương I
a Về Điều 2: Đây là điều có nhiều ý kiến
khác nhau:
- Loại ý kiến thứ nhất, nhất trí phương án
1 là giữ nguyên như Điều 2 của Hiến pháp
1992 vì toàn bộ Điều 2 đ nói rõ được bản chất của Nhà nước ta, việc thêm cụm từ
“pháp quyền x hội chủ nghĩa” không những không làm rõ hơn bản chất đó mà còn đòi hỏi phải giải thích thêm thế nào là nhà nước pháp quyền x hội chủ nghĩa? Hơn nữa, cụm từ này còn dự kiến ghi thêm vào Điều 12, vì vậy không cần đưa vào Điều 2 để tránh trùng lắp
- Loại ý kiến thứ hai cho rằng quan điểm
về tính thống nhất của quyền lực nhà nước và
sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đ được khẳng định trong các nghị quyết của Đảng, vì vậy cần bổ sung điểm này thành quy định trong Điều 2 hoặc Điều 6
- Có ý kiến còn đề nghị bỏ hai chữ “Nhà nước” trong câu "tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân", vì quyền lực là khái niệm rộng và bản chất là quyền lực của nhân dân, Nhà nước là đại diện, được nhân dân uỷ quyền cho nên thay cụm từ “thuộc về nhân dân” bằng “Tất cả quyền lực xuất phát từ nhân dân” sẽ chính xác hơn Đồng thời, quy
định như vậy sẽ góp phần làm rõ hơn vấn đề phân công quyền lực Thực tế, Chính phủ, toà
án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân đều thực hiện quyền của mình trên cơ sở quyền lực xuất phát từ nhân dân Vì vậy, đề nghị ghi là:
“Tất cả quyền lực xuất phát từ nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”
b Về Điều 3: Có một số ý kiến cho rằng nên bỏ mấy từ “về mọi mặt” trong câu "Nhà nước bảo đảm không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân" để bảo
đảm tính khái quát và toàn diện Có ý kiến đề nghị bỏ đoạn “nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân
Trang 3dân”, vì đây là vấn đề đương nhiên sẽ được
quy định trong các đạo luật cụ thể, không
nên đưa vào Hiến pháp để tránh điều luật quá
dài
c Về Điều 8: Để tăng cường hiệu lực
quản lí của Nhà nước và làm trong sạch đội
ngũ công chức có ý kiến cho rằng cần phải
khẳng định mạnh mẽ vấn đề chống quan liêu,
tham nhũng và để bảo đảm cho Điều 8 có
tính khái quát, đúng với tính chất của Hiến
pháp, đề nghị bỏ cụm từ “mọi biểu hiện” mà
ghi gọn là ”kiên quyết đấu tranh chống quan
liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng”
d Về Điều 10: Có ý kiến đề nghị trong
điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, công đoàn ngày càng có vai trò quan
trọng Do đó, khi quy định về chức năng,
nhiệm vụ của công đoàn nên sửa cụm từ
“tham gia kiểm tra” bằng “kiểm tra” để nói
rõ vai trò cụ thể của công đoàn Đồng thời
sửa đoạn: “giám sát hoạt động của cơ quan
nhà nước” bằng “giám sát hoạt động của
Nhà nước, các cơ quan nhà nước, tổ chức
kinh tế”
đ Về Điều 12: Có những ý kiến khác
nhau về việc bổ sung đoạn: "Xây dựng Nhà
nước pháp quyền x hội chủ nghĩa Việt Nam
là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức và
công dân" vào Điều 12:
- Một số các ý kiến phát biểu nhất trí với
phương án 2 do Uỷ ban sửa đổi, bổ sung một
số điều của Hiến pháp năm 1992 đề xuất, đưa
vấn đề nhà nước pháp quyền vào Điều 12
Tuy nhiên, các ý kiến này lại cho rằng cần
lưu ý đến tính khái quát trong các quy định
của Hiến pháp, tránh liệt kê, vì có thể sẽ có
những phát sinh mới và liệt kê sẽ không bao
giờ đầy đủ Vì vậy, đoạn 3 của Điều 12 nên
sửa theo hướng khái quát hơn, cụ thể có ý kiến đề nghị sửa lại là: "Các cơ quan, tổ chức
và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm pháp luật”
- Loại ý kiến thứ hai cho rằng, không nên
đưa đoạn bổ sung này vào Điều 12 vì vấn đề nhà nước pháp quyền x hội chủ nghĩa đ
được ghi nhận tại Điều 2 Cũng theo hướng này, có ý kiến khác cho rằng Điều 12 đ rất hoàn chỉnh, nó xác lập nguyên tắc quan trọng
- nguyên tắc pháp chế x hội chủ nghĩa đ đi vào tiềm thức của đông đảo các tầng lớp nhân dân, vì vậy, nếu bổ sung đoạn này vào Điều
12 thì sẽ phá vỡ tính hoàn thiện của Điều này
- ý kiến khác đề nghị thay từ “công dân” tại đoạn 4 bằng từ “cá nhân” để bảo đảm tính khái quát và thống nhất với thuật ngữ đang
được sử dụng phổ biến trong các văn bản pháp luật hiện nay Ngoài ra, còn có ý kiến
đề nghị giữ nguyên Điều 12 Hiến pháp năm
1992
3 Về Chương II
a Về Điều 15:
- Nhiều ý kiến thể hiện sự nhất trí với việc đưa thêm cụm từ "kinh tế thị trường định hướng x hội chủ nghĩa" như Dự thảo đề xuất Tuy nhiên, các ý kiến này đều cho rằng, trong nền kinh tế thị trường vấn đề sở hữu cần được thể hiện rõ hơn Nên cân nhắc lại khái niệm “sở hữu toàn dân” và nên chăng
đổi "sở hữu toàn dân" thành "sở hữu nhà nước" để chỉ rõ Nhà nước là đại diện của sở hữu toàn dân Từ đây, có thể ghi là “sở hữu nhà nước, sở hữu pháp nhân, sở hữu tư nhân”
- Một số ý kiến đề nghị trong Hiến pháp cần thể hiện rõ hơn công thức về vai trò chủ
Trang 4đạo của kinh tế nhà nước, xác định vai trò
của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN Một số ý kiến
đề nghị rằng cổ phần hoá là chính sách kinh
tế quan trọng cũng phải được ghi nhận trong
Hiến pháp
- Có ý kiến đề nghị nên chỉ ghi hai chế
độ sở hữu là "công hữu và tư hữu"; còn về
hình thức sở hữu thì nên quy định như trong
Bộ luật dân sự (gồm 7 hình thức)
- Tiếp theo, tất cả các ý kiến đều đề nghị
bỏ cụm từ "đan xen, hỗn hợp" ra khỏi Điều
15 vì đó là điều tất yếu sẽ diễn ra trong nền
kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần Có ý
kiến đề nghị rằng để phù hợp với Điều 16 nói
về mục đích chính sách kinh tế thì Điều 15
nên viết lại cho gọn là "Chính sách kinh tế
của Nhà nước là phát triển nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần với các hình thức tổ
chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên
chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở
hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở
hữu tập thể là nền tảng"
b Về Điều 16: Một số ý kiến đồng ý như
Dự thảo nhưng cũng có một số kiến nghị
khác như sau:
- Đối với đoạn 2, nên ghi là: "Các thành
phần kinh tế với các hình thức sở hữu khác
nhau được bình đẳng kinh doanh theo pháp
luật là những bộ phận cấu thành (bỏ chữ
quan trọng của) nền kinh tế thị trường định
hướng x hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu
dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”
- Đối với đoạn 3, không nên liệt kê như
trong nghị quyết của Đảng mà nên quy định
theo hướng khái quát là: "Nhà nước thúc đẩy
sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn
thiện các loại thị trường cần thiết theo định hướng x hội chủ nghi”
- Có ý kiến khác đề nghị bỏ cụm từ: "trên cơ sở" vì giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế cũng là mục đích của chính sách kinh tế; Nghị quyết Đại hội IX có đề cập về 6 thành phần kinh tế, điều đó có ý nghĩa rất quan trọng nhưng không cần thiết phải thể hiện trong Hiến pháp vì rất có thể trong thực tiễn sẽ xuất hiện những thành phần khác nữa Tương tự như vậy, các loại thị trường được liệt kê trong đoạn ba cũng có thể là chưa đầy
đủ, trong tương lai có thể xuất hiện những loại thị trường mới Do đó, Điều 16 nên viết gọn lại như sau: "Mục đích của chính sách kinh tế là làm cho dân giàu, nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, bảo đảm cho các thành phần kinh tế cùng phát triển lâu dài, hợp tác
và cạnh tranh lành mạnh"
c Về Điều 21: Một số ý kiến đề nghị quy
định rõ hơn như sau: "Kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân được tự do lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phù hợp; được thành lập doanh nghiệp, được quyền sở hữu tư liệu sản xuất và không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm”
4 Về Chương III
a Về Điều 35: Có ý kiến đề nghị bỏ cụm
từ “góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh” vì cụm từ này đ được nêu nhiều lần trong Hiến pháp
Trang 5b Về Điều 36: Có ý kiến đề nghị sửa
đoạn “bảo đảm duy trì, củng cố kết quả xoá
mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, thực
hiện phổ cập trung học cơ sở, tiến tới từng
địa phương” thành "bảo đảm xoá mù chữ và
phổ cập tiểu học, tiến tới phổ cập trung học
cơ sở trên phạm vi toàn quốc" để bảo đảm
tính khả thi của Hiến pháp trong giai đoạn
hiện nay
c Về Điều 37: Có ý kiến đề nghị bỏ cụm
từ “là quốc sách hàng đầu” vì cụm từ này đ
được ghi nhận tại Điều 35 về giáo dục và đào
tạo Nếu Hiến pháp quy định nhiều “quốc
sách hàng đầu” thì sẽ khó xác định vai trò
của cơ quan, tổ chức hay định hướng nào
thực sự sẽ là quốc sách hàng đầu của quốc
gia trong thực tiễn Vì vậy, Điều 37 chỉ nên
quy định: "Khoa học công nghệ có vai trò
quan trọng, là nền tảng và là động lực để đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước ”
d Về Điều 59: Một số ý kiến đề nghị giữ
lại đoạn hai: "Bậc tiểu học là bắt buộc, không
phải trả học phí", vì đây là vấn đề có ý nghĩa
chính trị, x hội lớn
5 Về Chương VI
a Về Điều 84:
- Khoản 4 Điều 84: Nhiều ý kiến phát
biểu nhất trí với đề nghị sửa đổi, bổ sung
khoản 4 Điều 84 Dự thảo, cho rằng việc quy
định này vẫn bảo đảm được tính thống nhất
của chính sách tài chính quốc gia, bảo đảm
cho Quốc hội tập trung vào việc quyết định
phân bổ ngân sách trung ương đồng thời tạo
quyền chủ động cho hội đồng nhân dân địa
phương quyết định ngân sách của địa phương
mình, tránh được tình trạng bao biện, làm
thay hoặc dựa dẫm vào trung ương trong thời gian vừa qua
- Khoản 5 Điều 84: Các ý kiến đều đề nghị nên viết gọn khoản 5 Điều 84 là: "Quyết
định chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo của Nhà nước”
- Khoản 7 Điều 84: Đa số ý kiến đều khẳng định việc bổ sung quy định về bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức
vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn theo quy
định của pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng Tuy nhiên, các ý kiến đều cho rằng phải có quy định cụ thể hơn về cơ chế này Một số ý kiến cho rằng cần phải bổ sung vào điều này thêm hai chữ “Chính phủ” để sửa lại theo hướng Quốc hội có quyền: "Bỏ phiếu tín nhiệm đối với Chính phủ, những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn theo quy định của pháp luật”
- Khoản 13 Điều 84: Các ý kiến đều nhất trí với quy định bổ sung đoạn: "Phê chuẩn hoặc b.i bỏ điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp kí kết" vì các điều ước quốc tế liên quan đến quyền, lợi ích của đất nước và chủ quyền quốc gia
Ngoài ra, để bảo đảm cho Quốc hội thực hiện tốt chức năng giám sát của mình, nhiều
ý kiến đề nghị nên tiến hành việc thành lập cơ quan giám sát (thanh tra) và kiểm toán của Quốc hội
6 Về Chương VII
a Về Điều 103:
- Khoản 6 Điều 103: Các ý kiến đều nhất trí với Dự thảo sửa đổi quy định tại khoản 6
Điều 103 là: "Căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên cục bộ, công bố tình trạng khẩn cấp; trong trường hợp thật cần thiết, ban bố tình
Trang 6trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa
phương" Tuy nhiên, cũng có ý kiến đề nghị
phải mở rộng hơn thẩm quyền của Chủ tịch
nước tương tự như Hiến pháp 1946 trước đây
đ quy định để người đứng đầu Nhà nước có
những quyền thực sự là nguyên thủ quốc gia
- Khoản 7 và khoản 9 Điều 103: Các ý
kiến đều nhất trí với phương án mà do Uỷ
ban sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến
pháp năm 1992 đề xuất
7 Về Chương VIII
a Về Điều 112: Một số ý kiến cho rằng
cần có quan niệm đúng về vị trí pháp lí của
Chính phủ trong bộ máy nhà nước Không
nên quan niệm Chính phủ chỉ là cơ quan chấp
hành của Quốc hội Chính phủ là cơ quan
hành pháp, thực thi quyền lực nhà nước có
nguồn gốc từ nhân dân; Quốc hội là cơ quan
lập pháp nhưng pháp luật đó thể hiện ý chí
chung của nhân dân mà Quốc hội là cơ quan
được nhân dân trao cho quyền thông qua
pháp luật Vì vậy, cần nhấn mạnh Chính phủ
là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất để
tạo cơ sở pháp lí cho Chính phủ phát huy vai
trò của mình trong quản lí và điều hành đất
nước
- Khoản 8 Điều 112: Các ý kiến đều nhất
trí với phương án do Uỷ ban sửa đổi, bổ sung
một số điều của Hiến pháp năm 1992 đề xuất
là bổ sung thẩm quyền của Chính phủ trong
việc: "Đàm phán, kí kết điều ước quốc tế
nhân danh Nhà nước Cộng hoà x hội chủ
nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại
khoản 10 Điều 103" để tạo ra sự linh hoạt
cần thiết cho Chính phủ trong việc kí kết,
tham gia điều ước quốc tế
b Về Điều 116: Các ý kiến đều hoàn toàn tán thành với phương án bỏ quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ tại
Điều 116 Việc bỏ quy định này có ý nghĩa quan trọng, tạo ra cơ sở hiến pháp cho việc tinh giản bộ máy của Chính phủ và củng cố tính thống nhất trong việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
8 Về Chương IX
a Về Điều 123: Nhiều ý kiến nhất trí với các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của hội
đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị nên đổi tên uỷ ban nhân dân thành uỷ ban hành chính để phân biệt rõ tính chất, chức năng của loại hai cơ quan này Việc thay đổi tên này còn tránh
được sự hiểu nhầm trong nhân dân khi họ phải thực thi nghĩa vụ của công dân trước cơ quan hành chính nhà nước
Các ý kiến hoàn toàn nhất trí với quy
định bổ sung vào Điều 123 nội dung: "Uỷ ban nhân dân có chủ tịch, các phó chủ tịch
và các uỷ viên Chủ tịch uỷ ban nhân dân là
đại biểu hội đồng nhân dân Trong trường hợp cần thiết, Thủ tướng Chính phủ có thể
điều động, bổ nhiệm chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp trên có thể
điều động, bổ nhiệm chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp; trong trường hợp bổ nhiệm, chủ tịch uỷ ban nhân dân không nhất thiết phải là đại biểu hội đồng nhân dân" Tuy nhiên, cũng có ý kiến băn khoăn về việc nếu chủ tịch uỷ ban nhân dân không nhất thiết phải là đại biểu hội đồng nhân dân thì vấn đề giám sát của hội đồng nhân dân đối
Trang 7với chủ tịch hội đồng nhân dân sẽ được tiến
hành như thế nào, nhất là trong trường hợp
chủ tịch uỷ ban nhân dân có quan điểm khác
với thường trực hội đồng nhân dân? Một số ý
kiến cho rằng, có nhiều giải pháp cho vấn đề
này như lấy phiếu tín nhiệm định kì; quy
định chế độ báo cáo của chủ tịch uỷ ban nhân
dân trước hội đồng nhân dân Điều này sẽ
được quy định trong các văn bản dưới Hiến
pháp
Đồng thời, để phù hợp với quy định bổ
sung của Điều 123, cần bổ sung quy định về
thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ: "Bổ
nhiệm chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương trong trường hợp
cần thiết" vào khoản 3 Điều 114
9 Về Chương IX
a Về Điều 128: Các ý kiến phát biểu đều
nhất trí với phương án do Uỷ ban sửa đổi, bổ
sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 đề
xuất, vì điều đó có ý nghĩa bảo đảm tính liên
tục cho hoạt động của chánh án Toà án nhân
dân tối cao khi Quốc hội hết nhiệm kì
b Về Điều 131: Một số ý kiến cho rằng,
trong điều kiện hiện nay, việc sửa đổi, bổ
sung Điều này như phương án mà Uỷ ban sửa
đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm
1992 đề xuất chưa thực sự phù hợp, vì nó làm
phát sinh mâu thuẫn với những nguyên tắc
được quy định tại Điều 129 và 131 Đồng
thời, tuy pháp luật ở một số nước có quy định
thủ tục xét xử rút gọn nhưng có những điểm
khác với điều kiện nước ta, đó là những
nguyên tắc xét xử của các nước đó có khác ta
và thủ tục rút gọn thường được áp dụng để
xét xử "những tội vi cảnh"
Có ý kiến đề nghị cần thành lập toà án khu vực để tạo điều kiện cho việc bố trí cán
bộ toà án phù hợp với nhu cầu giải quyết khối lượng công việc tương ứng Toà án nhân dân tối cao chỉ làm nhiệm vụ phá án mà không nên làm công tác xét xử trực tiếp như hiện nay Cách làm này sẽ tránh được tình trạng án tồn đọng trong thực tế
c Về Điều 137: Đa số ý kiến nhất trí với phương án do do Uỷ ban sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 đề xuất Tuy nhiên, thẩm quyền kiểm sát chung
có ý nghĩa rất quan trọng, không thể để tồn tại khoảng trống này trong hệ thống quyền lực Vì vậy, nếu thẩm quyền kiểm sát chung không quy định cho viện kiểm sát thì phải có quy định thẩm quyền này thuộc Quốc hội và phải có cơ quan mới được thành lập để thực thi thẩm quyền này Nếu chưa có đủ điều kiện thì chưa nên có sự thay đổi này
Đồng thời, cũng cần làm rõ nội dung
"kiểm sát các hoạt động tư pháp" Các ý kiến
đều cho rằng cần thay nhóm từ đó bằng
"kiểm sát hoạt động điều tra, truy tố, xét xử
và thi hành án"
Kết thúc Hội nghị, PGS.TS Lê Minh Tâm, Hiệu trưởng nhà trường đánh giá Hội nghị đ thu được kết quả tốt, các ý kiến phát biểu tại hội nghị là phong phú và sâu sắc, thể hiện tâm huyết và ý thức trách nhiệm của cán
bộ, giáo viên nhà trường Hi vọng rằng những
ý kiến này sẽ góp phần vào việc làm rõ hơn
về mặt lí luận và thực tiễn cho những điểm cần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992./
Tổng thuật
TS Đinh Văn Thanh
Trường đại học luật Hà nội