1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo "Vấn đề lãnh sự danh dự trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam " pptx

4 484 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề lãnh sự danh dự trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
Tác giả Nguyễn Quang Tuyến
Người hướng dẫn Giảng viên Khoa Pháp Luật Kinh Tế Trường Đại Học Luật Hà Nội
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Pháp luật
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 1993
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 111,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lí, hoạt động giao đất, thu hồi đất thuộc thẩm quyền của các cơ quan quản lí nhà nước về đất đai được quy định tại c

Trang 1

56 - Tạp chí luật học

Nguyễn Quang Tuyến * iao đất thu hồi đất thuộc nội dung quản

lí nhà nước về đất đai được quy định tại

Điều 13 Luật đất đai năm 1993 ý nghĩa

pháp lí của giao đất, thu hồi đất thể hiện ở

chỗ nó làm phát sinh hoặc chấm dứt quyền

sử dụng đất của chủ thể đối với diện tích đất

nhất định ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu

toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lí,

hoạt động giao đất, thu hồi đất thuộc thẩm

quyền của các cơ quan quản lí nhà nước về

đất đai được quy định tại các điều từ 23-28

của Luật đất đai năm 1993 Trong phạm vi

bài viết này, tôi muốn trao đổi một số suy

nghĩ xung quanh các quy định về thẩm

quyền giao đất, thu hồi đất trong Luật đất đai

năm 1993

I Thẩm quyền giao đất để sử dụng vào

mục đích không phải là sản xuất nông

nghiệp, lâm nghiệp

1 Chính phủ

Khoản 2 Điều 23 Luật đất đai năm 1993

quy định: "Chính phủ xét duyệt kế hoạch

hàng năm của ủy ban nhân dân tỉnh, thành

phố trực thuộc trung ương về việc giao đất

nông nghiệp, đất lâm nghiệp có rừng để sử

dụng vào mục đích khác

Căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng

đất đai đ5 được Quốc hội quyết định và kế

hoạch hàng năm về việc giao đất nông

nghiệp, đất lâm nghiệp có rừng để sử dụng

vào mục đích khác đ5 được Uỷ ban thường

vụ Quốc hội thông qua, Chính phủ quyết

định việc giao đất để sử dụng vào mọi mục

đích trong những trường hợp cần thiết"

Theo quy định trên, thì ở đây có một vấn

đề cần phải bàn là chúng ta hiểu cụm từ

"trong những trường hợp cần thiết" như thế nào? Những trường hợp nào trên thực tế được pháp luật coi là những trường hợp cần thiết Như chúng ta đều biết, một trong những nguyên tắc cơ bản khi xây dựng luật đòi hỏi các quy phạm pháp luật được ban hành phải

cụ thể, chi tiết nhằm giúp các cơ quan, tổ chức và cá nhân hiểu và chấp hành đúng các quy định này Luật đất đai năm 1993 quy

định về thẩm quyền giao đất của Chính phủ một cách chung chung, trừu tượng như vậy, dẫn đến hai xu hướng phát sinh trên thực tế: Thứ nhất, có nhiều cách hiểu khác nhau

về cụm từ "giao đất để sử dụng vào mọi mục

đích trong những trường hợp cần thiết" mà thông thường, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất sẽ hiểu theo nghĩa có lợi nhất

đối với họ Điều này dễ làm nảy sinh xu hướng tùy tiện trong việc giao đất

Thứ hai, quy định trên của Luật đất đai năm 1993 có nội hàm và biên độ rất rộng nên gây khó khăn cho các cấp, các ngành trong việc triển khai thi hành Luật đồng thời người dân cũng khó theo dõi, thực hiện vai trò làm chủ trong việc giám sát các trường hợp giao

đất của Chính phủ

2 ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

a Mục a và b khoản 3 Điều 23 Luật đất

đai năm 1993 quy định: "Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết

định giao đất để sử dụng vào mục đích không phải là sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp theo quy định sau đây:

G

* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

Tạp chí luật học - 57

a1 Từ 1 ha trở xuống đối với đất nông

nghiệp, đất lâm nghiệp có rừng, đất khu dân

cư nông thôn, đất đô thị; từ 2 ha trở xuống

đối với đất trồng, đồi núi trọc cho mỗi công

trình không thuộc các trường hợp quy định

tại mục b khoản 3 Điều này

a2 Từ 3 ha trở xuống đối với đất nông

nghiệp, đất lâm nghiệp có rừng, đất khu dân

cư nông thôn, đất đô thị; từ 5 ha trở xuống

đối với đất trồng, đồi núi trọc cho mỗi công

trình đường bộ, đường sắt, đường dẫn nước,

đường dẫn dầu, đường dẫn khí, đường điện,

đê điều và từ 10 ha trở xuống đối với đất

trồng, đồi núi trọc cho mỗi công trình xây

dựng hồ chứa nước"

Theo quy định tại Điều 29 Luật đất đai

năm 1993 và khoản 1 Điều 2 Nghị định số

04/2000/NĐ-CP ngày 11/2/2000 của Chính

phủ về thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số

điều của Luật đất đai thì "cơ quan có thẩm

quyền giao đất quy định tại khoản 3 Điều 23

và Điều 24 của Luật đất đai là cơ quan có

thẩm quyền cho thuê đất" Từ các quy định

của pháp luật hiện hành trên đây, chúng ta có

thể khẳng định rằng thẩm quyền cho thuê

đất, mức đất được phép cho thuê và các

trường hợp mà uỷ ban nhân dân tỉnh, thành

phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền

cho thuê đất cũng tuân theo các quy định tại

mục a và b, khoản 3 Điều 23 Luật đất đai

năm 1993

Tuy nhiên, Điều 88 Nghị định số

24/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày

31/7/2000 quy định chi tiết thi hành Luật đầu

tư nước ngoài tại Việt Nam quy định: "Thủ

tướng Chính phủ quyết định cho thuê đất đối

với dự án sử dụng đất đô thị từ 5 ha trở lên,

các loại đất khác từ 50 ha trở lên, uỷ ban

nhân dân cấp tỉnh quyết định cho thuê đất

đối với các dự án còn lại" Căn cứ vào quy

định này thì chúng tôi hiểu uỷ ban nhân dân

cấp tỉnh có thẩm quyền cho thuê đất đối với

các dự án đầu tư nước ngoài sử dụng diện

tích đất đô thị dưới 5 ha và các loại đất khác dưới 50 ha

Như vậy, chúng ta thấy rằng ở đây đm có

sự mâu thuẫn giữa các quy định của Luật đất

đai năm 1993 và Nghị định số

24/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31/7/2000 quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam về thẩm quyền cho thuê đất của uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Điều này thêm một minh chứng

về sự mâu thuẫn, không đồng bộ giữa các quy định trong hệ thống pháp luật nước ta, vô hình trung gây khó khăn cho các ngành, các địa phương trong quá trình tổ chức thực hiện các quy định này của pháp luật

b Mục c và d khoản 3 Điều 23 Luật đất

đai năm 1993 quy định: "Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết

định giao đất để sử dụng vào mục đích không phải là sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp theo quy định sau đây:

c Giao đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp

có rừng để hộ gia đình, cá nhân làm nhà ở,

đất chuyên dùng này để sử dụng vào mục

đích chuyên dùng khác hoặc để làm nhà ở,

đất đô thị theo định mức do Chính phủ quy

định

d Kế hoạch giao đất khu dân cư nông thôn để uỷ ban nhân dân huyện thị x5, thành phố thuộc tỉnh giao đất cho hộ gia đình, cá nhân làm nhà ở"

Theo các quy định trên của Điều 23 Luật

đất đai năm 1993 thì chúng ta có thể hiểu: Thứ nhất, uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân làm nhà ở tại đô thị Theo

Điều lệ quản lí quy hoạch đô thị ban hành kèm theo Nghị định số 91/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ thì "đô thị bao gồm các thành phố, thị x5, thị trấn" (Điều 1) Thứ hai, uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương không giao đất khu dân cư nông thôn cho hộ gia đình, cá nhân

Trang 3

58 - Tạp chí luật học

làm nhà ở mà chỉ giao kế hoạch giao đất khu

dân cư nông thôn cho ủy ban nhân dân

huyện, thị xm, thành phố thuộc tỉnh Trên cơ

sở kế hoạch giao đất này, uỷ ban nhân dân

huyện, thị xm, thành phố thuộc tỉnh giao đất

khu dân cư nông thôn cho hộ gia đình, cá

nhân làm nhà ở

ở đây, vấn đề đặt ra cần trao đổi là quy

định của Luật đất đai năm 1993 về thẩm

quyền giao đất cho hộ gia đình, cá nhân làm

nhà ở tại thị trấn và tại xm Theo quy định của

Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban

nhân dân các cấp thì uỷ ban nhân dân xm và

uỷ ban nhân dân thị trấn là các cấp đơn vị

hành chính tương đương Chúng đều là cấp

chính quyền cơ sở trong hệ thống cơ quan

hành chính ở nước ta, trực thuộc và chịu sự

quản lí trực tiếp của uỷ ban nhân dân huyện

Nhưng theo quy định của Luật đất đai năm

1993 thì uỷ ban nhân huyện chỉ có thẩm

quyền giao đất khu dân cư nông thôn cho hộ

gia đình, cá nhân làm nhà ở tại xm Còn việc

giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân làm nhà

ở tại thị trấn lại thuộc thẩm quyền của uỷ ban

nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung

ương mà uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố

trực thuộc trung ương lại là cấp chính quyền

không trực tiếp theo dõi và quản lí về mọi

mặt hoạt động của thị trấn Theo quan điểm

của chúng tôi quy định này là chưa hợp lí

cần được xem xét lại

II Thẩm quyền thu hồi đất

Theo quy định tại Điều 28 Luật đất đai

năm 1993 thì cơ quan nhà nước có thẩm

quyền quyết định giao đất nào thì có quyền

thu hồi đất đó Việc thu hồi đất để chuyển

sang mục đích khác phải theo đúng quy

hoạch và kế hoạch đm được cơ quan nhà nước

có thẩm quyền xét duyệt

Trước khi thu hồi đất phải thông báo cho

người đang sử dụng biết về lí do thu hồi;

thời gian, kế hoạch di chuyển; phương án

đền bù thiệt hại

Trong trường hợp có nhu cầu khẩn cấp của chiến tranh, chống thiên tai hoặc trong tình trạng khẩn cấp thì việc trưng dụng đất

đai do uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xm, thành phố thuộc tỉnh trở lên quyết định Hết thời hạn trưng dụng, người sử dụng đất được trả lại đất và được đền bù thiệt hại do việc trưng dụng gây ra theo quy định của pháp luật

ở đây chúng ta thấy điểm đặc biệt trong quy định về thẩm quyền trưng dụng đất đó là trường hợp uỷ ban nhân dân quận có quyền trưng dụng đất trong các tình huống đặc biệt như chiến tranh, thiên tai, tình trạng khẩn cấp mà nếu thoạt nhìn chúng ta tưởng rằng

có sự mâu thuẫn giữa các quy định trong cùng điều luật Bởi lẽ, phần đầu của Điều 28 Luật đất đai năm 1993 đưa ra quy định mang tính nguyên tắc về thẩm quyền thu hồi đất,

đó là: "Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất nào thì có quyền thu đất

đó" Căn cứ vào quy định này và các quy

định tại Điều 23, Điều 24 về thẩm quyền giao đất thì chỉ có Chính phủ; uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, uỷ ban nhân dân huyện, thị xm, thành phố thuộc tỉnh mới có thẩm quyền giao đất nên các cơ quan này cũng có thẩm quyền thu hồi đất

Uỷ ban nhân dân quận không có thẩm quyền giao đất theo quy định của Điều 23 và Điều

24 Luật đất đai năm 1993 Trường hợp trưng dụng đất của uỷ ban nhân dân quận là trường hợp đặc biệt bởi một số lí do sau đây:

Thứ nhất, trưng dụng đất là trường hợp

đặc biệt của thu hồi đất vì đây là trường hợp thu hồi đất có thời hạn chỉ xảy ra trong một

số trường hợp được pháp luật dự liệu Hết thời hạn, người sử dụng đất được trả lại đất

và được đền bù thiệt hại do việc trưng dụng

đất gây ra theo quy định của pháp luật Thứ hai, uỷ ban nhân dân quận chỉ được trưng dụng đất trong trường hợp có nhu cầu khẩn cấp của chiến tranh, chống thiên tai

Trang 4

Tạp chí luật học - 59

hoặc trong tình trạng khẩn cấp tức là pháp

luật hạn chế quyền được trưng dụng đất của

uỷ ban nhân dân quận trong các trường hợp

đặc biệt đm nêu Khi các trường hợp đó xảy

ra thì sẽ gây ra những thiệt hại lớn về người

và của, phá vỡ kết cấu các quan hệ xm hội đm

được pháp luật xác lập, đảo lộn trật tự xm hội

Do vậy, để giảm thiểu đến mức thấp nhất các

thiệt hại do các trường hợp này gây ra và bảo

vệ trật tự của các quan hệ xm hội, nhà làm

luật đm cho phép phép uỷ ban nhân dân quận

có quyền trưng dụng đất, mặc dù họ không

có thẩm quyền giao đất

Như vậy, chúng tôi cho rằng các quy

định tại Điều 28 Luật đất đai năm 1993 là

hợp lí, không mâu thuẫn với nhau

Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng cần

xem xét lại quy định về thẩm quyền trưng

dụng đất được quy định tại Điều 28 Luật đất

đai năm 1993 Theo quan điểm này thì quy

định trên là bất cập so với thực tế và vô hình

trung làm giảm tác dụng phòng chống có

hiệu quả, khắc phục các thiệt hại do chiến

tranh, thiên tai hoặc tình trạng khẩn cấp gây

ra Bởi vì, nhu cầu khẩn cấp của chiến tranh,

chống thiên tai hoặc trong tình trạng khẩn

cấp đòi hỏi chúng ta phải phản ứng rất mau

lẹ mới kịp thời đối phó với các trường hợp này và tránh được hậu quả xấu do nó gây ra Quy định tại Điều 28 Luật đất đai năm 1993

về thẩm quyền trưng dụng đất không đáp ứng

được đòi hỏi của nhu cầu khẩn cấp của chiến tranh, chống thiên tai hoặc trong tình trạng khẩn cấp Nên chăng, cần sửa đổi quy định này theo hướng giao quyền trưng dụng đất trong các trường hợp này cho uỷ ban nhân dân cấp xm Chúng tôi chia sẻ quan điểm này III Một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện các quy định về thẩm quyền giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất của Luật đất đai năm 1993

1 Luật cần quy định cụ thể các trường hợp giao đất của Chính phủ và việc giao đất của Chính phủ để sử dụng vào mọi mục đích trong những trường hợp cần thiết là những trường hợp nào Có như vậy mới ngăn ngừa việc giao đất tùy tiện và tạo điều kiện thuận lợi để người dân thực hiện quyền làm chủ của mình trong việc giám sát các trường hợp giao đất của Chính phủ

(Xem tiếp trang 46)

Đính chính

Do sơ suất, tại số 6/2000, Tạp chí luật học đm có vài sai sót, xin được đính chính như sau:

1 13 dl trái 30 của khoản 3 do đó của khoản 3 Điều 38

2 14 dl trái 30 Điều 38 , gây nên do đó gây nên

3 26 dl trái 51 Vấn đề lịch sử Vấn đề vịnh lịch sử

Thành thật xin lỗi tác giả và bạn đọc Ban biên tập

Ngày đăng: 21/02/2014, 04:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm